Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại làng nghề gốm sứ Phù Lãng, Xã Phù Lãng, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh - Pdf 29


đạI HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM


nGuyễn Thị hờngTên đề tài:

Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
môi trờng nớc tại làng nghề gốm sứ Phù Lãng,
Xã Phù Lãng, Huyện Quế Võ, Tỉnh Bắc Ninh
KhóA LUậN tốt nghiệp đại học

KhóA LUậN tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trờng
Khoa : Môi trờng
Lớp : 42B - KHMT

Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hớng dẫn : ThS. Nguyễn Duy Hải
Thái Nguyên, 2014

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá
trình đào tạo sinh viên của nhà trường. Đây là khoảng thời gian sinh viên
được tiếp cận thực tế, đồng thời giúp sinh viên củng cố những kiến thức đã
được học trong nhà trường.
Để có thể hoàn thành khóa luận này, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, em


Bảng 4.4: Hàm lượng chỉ tiêu trong nước thải của làng nghề gốm sứ 50

Bảng 4.5: Hàm lượng chỉ tiêu trong nước mặt của làng nghề gốm sứ 52

Bảng 4.6: Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm tại vùng nghiên cứu 54

Bảng 4.7: Kết quả điều tra phỏng vấn tình hình sức khỏe của người dân làng nghề
gốm Phù Lãng 56
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Trang
Hình 4.1: Bản đồ xã Phù Lãng 35

Hình 4.2: Sơ đồ công nghệ sản xuất gốm sứ 45

Hình 4.3: So sánh hàm lượng chất hữu cơ và vô cơ trong nước thải so với QCVN
40:2011/ BTNVMT - giá trị giới hạn cột B 50

Hình 4.4: So sánh hàm lượng kim loại nặng trong nước thải so với QCVN 40:2011/
BTNVMT - giá trị giới hạn cột B 51

Hình 4.5: So sánh hàm lượng chất hữu cơ và vô cơ trong nước mặt so với QCVN
08:2008/ BTNMT - giá trị giới hạn cột B (mức B1) 53

Hình 4.6: So sánh hàm lượng kim loại nặng trong nước mặt so với QCVN 08:2008/
BTNMT - giá trị giới hạn cột B (mức B1) 53


TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
TTQT : Trung tâm quan trắc
UBND : Ủy ban nhân dân

MỤC LỤC
Trang
Phần 1. MỞ ĐẦU
10

1.1. Đặt vấn đề 10

1.2. Mục đích của đề tài 11

1.3. Mục tiêu của đề tài 11

1.4. Ý nghĩa của đề tài 12

1.4.1. Ý nghĩa học tập 12

1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 12

Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
13

2.1. Cơ sở khoa học 13

2.1.1. Một số khái niệm có liên quan 13

2.1.2. Cơ sở pháp lý 15


3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 30

3.2.2. Thời gian nghiên cứu 30

3.3. Nội dung nghiên cứu 303.3.1. Điều tra thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội tại xã Phù
Lãng - HuyệnQuế Võ - Tỉnh Bắc Ninh. 30

3.3.2. Công nghệ và quy trình sản xuất của làng nghề gốm sứ Phù Lãng. 30

3.3.3. Đánh giá chất lượng nước tại làng nghề gốm sứ Phù Lãng 30

3.3.4. Đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm làng nghề gốm sứ Phù Lãng tới sức khỏe
của người dân 30

3.3.5. Dự báo ảnh hưởng và đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi
trường làng nghề gốm sứ 31

3.4. Phương pháp nghiên cứu 31

3.4.1. Phương pháp kế thừa 31

3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu 31

3.4.3. Phương pháp điều tra và khảo sát 31

3.4.4. Phương pháp tổng hợp so sánh 32



4.3.3. Đánh giá chất lượng nước ngầm tại làng nghề gốm sứ Phù Lãng 54

4.4. Đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm làng nghề gốm sứ Phù Lãng tới sức khỏe
người dân 564.5. Dự báo ảnh hưởng và đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước
làng nghề gốm sứ Phù Lãng 57

4.5.1. Dự báo ảnh hưởng ô nhiễm nước làng nghề gốm sứ Phù Lãng 57

4.5.2. Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm nước làng nghề gốm sứ 57

Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
63

5.1. Kết luận 63

5.2. Kiến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO
65
Phần 1
MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

sâu bên trong giáp với sông Cầu, có nghề gốm truyền thống nổi tiếng (Gốm
Nhung, Gốm Thiều ). Do sự phát triển thiếu bền vững cùng công nghệ sản
xuất lạc hậu đã làm suy giảm chất lượng môi trường làng nghề và khu vực
xung quanh ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và sức khỏe người dân.
Môi trường nước tại làng nghề cũng có những thay đổi đáng kể về chất lượng.
Những nước thải phát sinh trong quá trình sản xuất của làng nghề cũng là một
vấn đề lớn gây tác động tới môi trường và mỹ quan thành phố.
Xuất phát từ thực tế này và được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa
Môi trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và được sự hướng dẫn
trực tiếp của thầy giáo,ThS. Nguyễn Duy Hải em đã tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi
trường nước tại làng nghề gốm sứ Phù Lãng, Xã Phù Lãng, Huyện Quế
Võ, Tỉnh Bắc Ninh”
1.2. Mục đích của đề tài
- Tìm hiểu những ảnh hưởng do sản xuất gốm sứ gây ra đối với môi
trường nước và sức khỏe người dân.
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước từ hoạt động làm gốm sứ của
làng nghề gốm sứ Phù Lãng.
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm của nước thải làng nghề
gốm sứ Phù Lãng.
1.3. Mục tiêu của đề tài
- Tìm hiểu những ảnh hưởng của môi trường nước làng nghề gốm sứ tới
sức khỏe của người dân trên địa bàn.
- Đánh giá hiện trạng môi trường nước tại làng nghề gốm sứ Phù Lãng.
- Phân tích được những thuận lợi và khó khăn trong việc bảo vệ chất
lượng môi trường nước làng nghề.
- Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm nước phù hợp với thực tế
của địa phương.

1.4. Ý nghĩa của đề tài

nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động
trên đều cần nước ngọt, bao gồm nước mặt và nước ngầm.
* Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước
Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:
"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất
lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công
nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài
hoang dã".
* Khái niệm về suy thoái nguồn nước
Là sự thay đổi tính chất của nước theo chiều hướng làm suy giảm chất
lượng nguồn nước, làm thay đổi tính chất ban đầu của nước. Suy thoái nguồn
nước có thể do ô nhiễm từ nguồn gốc tự nhiên (mưa, tuyết tan, lũ lụt…) hay
nhân tạo (do nước thải khu dân cư, bệnh viện, sản xuất nông nghiệp).
* Khái niệm nước mặt
Là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngật nước. Nước
mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy
vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất [9].
* Khái niệm nước ngầm
Là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá. Nó cũng có
thể là nước chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mặt nước ngầm. Đôi khi
người ta còn phân biệt nước ngầm nông, nước ngầm sâu và nước chôn vùi [9].

* Khái niệm về nước thải
Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người
và dã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng.
Đặc trưng của nước thải.
Nước thải có những biểu hiện đặc trưng sau [3]:
Độ đục, màu sắc, mùi, vị, nhiệt độ, độ dẫn điện, DO (Lượng Ôxy hoà
tan), chỉ tiêu vi sinh vật.
* Khái niệm về môi trường

Làng nghề là các làng nông thôn Việt Nam đang tồn tại hoạt động của
các nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp có ít nhất 30% so với tổng số hộ và
lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động nhưng đóng góp ít nhất 50%
tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng, doanh thu hàng năm từ
nghành nghề ít nhất 300 triệu đồng (Đặng Kim Chi, 2005) [2].
2.1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội thông qua ngày
29/11/2005.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 8 năm 2006 của Chính
phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo
vệ môi trường.
- Nghị định số 179/1999/NĐ-CP của Chính phủ về quy định việc thi
hành Luật tài nguyên nước và xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
trầm trọng.
- Nghị định số 120/2008/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý lưu vực.
- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ về quy định cho phép,
thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước.
- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường
về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP của Chính phủ về quy
định cho phép, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào
nguồn nước.

- Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 16 tháng 11 năm 2009 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường Quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc bắt buộc áp dụng tiêu chuẩn môi trường.
- Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
* Các tiêu chuẩn, quy chuẩn của Việt Nam.
- TCVN 5942:1995 Chất lượng nước - Tiêu chuẩn nước mặt.

Như vậy có thể thấy rằng nước là nguồn tài nguyên có vai trò rất lớn
trong cuộc sống của con người và sinh vật. Tuy nhiên hiện nay nguồn nước
cũng đang bị suy thoái và bị ô nhiễm ảnh hưởng tới trữ lượng và chất lượng
nước, ảnh hưởng tới bản thân chúng ta. Vì vậy bảo vệ tài nguyên nước là
nhiệm vụ rất cần thiết, là trách nhiệm chung của toàn thể nhân loại không
phân biệt quốc gia, màu da, lứa tuổi
2.2. Tình hình ô nhiễm nước ở Việt Nam và thế giới
2.2.1. Tình hình ô nhiễm nước ở thế giới
Trên hành tinh chúng ta nước tồn tại ở dưới nhiều dạng khác nhau: Trên
mặt đất, trong biển và đại dương, dưới đất và trong không khí dưới các dạng:
Lỏng (Ao, hồ, sông suối, biển), khí (Hơi nước), rắn (Băng, tuyết).
Lượng nước trong thủy quyển được UNESCO công bố như sau [16]:
Lượng nước trong thủy quyển 1386 triệu km
3
(100%): Lượng nước ngọt
chiếm 35 triệu km
3
(2,5%), lượng nước mặn 1351 triệu km
3
(97,5%).
Trong thành phần nước ngọt thì nước ở dạng rắn chiếm 24,3 triệu km
3
(69,4%), dạng lỏng 10,7 triệu km
3
(30,6%).

Trong thành phần nước lỏng 10,7 triệu km
3
(100%) thì nước ngầm chiếm
đại bộ phận 10,5 triệu km

Tại Sukinda, Ấn Độ, các nữ công nhân phải tiếp xúc với nước nhiễm bẩn
cực nặng. Hậu quả của nó là tình trạng vô sinh, thai nhi bị dị tật và chết lưu.
Hàm lượng thủy ngân trong nước ngầm ở Vapi, Ấn Độ, cao gần gấp 96
lần so với tiêu chuản sức khỏe do Tổ chức Y tế Thế giới quy định.
Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với
nhịp độ đáng lo ngại. Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh một cách chân thực tốc
độ phát triển kinh tế của các quốc gia. Xã hộ càng phát triển thì càng xuất
hiện nhiều nguy cõ. Ta có thế kể ra đây vài ví dụ điển hình tiêu biểu:
Ô nhiễm nước ngọt lại càng trầm trọng.
Anh Quốc chẳng hạn: Đầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch. Đến giữa
thế kỷ 20 nó trở thành ống cống lộ thiên. Các sông khác cũng có tình trạng
tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt
Ở Hoa Kì tình trạng thảm thương do ô nhiễm nước cũng xảy ra ở bờ
phía đông, cũng như nhiều vùng khác. Vùng Đại Hồ bị ô nhiễm nặng, trong
đó hồ Erie, Ontario, ô nhiễm đặc nghiêm trọng.
Ở ngay tại Trung Quốc, hàng năm lượng chất thải và nước thải công
nghiệp thải ra các thành phố và thị trấn của Trung Quốc tăng từ 23,9 tỷ m
3
.
Một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý vẫn được thải vào các sông. Hậu quả
là, hầu hết nước ở các sông, hố ngày càng trở lên ô nhiễm. Dựa trên việc đánh
giá 140.000 km sông dọc đất nước Trung Quốc chất lượng nước của 41,7%
chiều dài sông xếp ở loại 4 hoặc thậm chí thấp hơn và 21,8% dưới loại 5.

Theo kozun lượng nước toàn cầu có khoảng 1,386 triệu km
3
trong đó
nước biển và đại dương chiếm 96,5%. Nước trong đất liền và trong khí quyển
chiếm 3,5%. Lượng nước ngọt còn lại mà con người có thể sử dụng được.
2.2.2. Tình hình ô nhiễm nước ở Việt Nam

Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới
300.000 - 400.000 m
3
/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý
nước thải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử

lý nước thải; lượng rác thải sinh hoạt chưa được thu gom khoảng 1.200m
3
/ngày
đang xả vào khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD,
oxy hòa tan, các chất NH
4
, NO
2
, NO
3
, ở các sông, hồ, kênh mương nội thành
đều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thải
lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải;
khoảng 3.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường thuộc phải di dời.
Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông
nghiệp, hiện nay Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là
nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc
không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô
nhiễm môi trường nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo
cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform
trung bình biến đổi từ 1.500 - 3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông tiền và
sông Hậu, tăng lên tới 3800 - 12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu.
Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các thuốc bảo vệ thực vật, các
nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi

Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường nước còn thiếu (chẳng
hạn như chưa có các quy định và quy trình kỹ thuật phục vụ cho công tác
quản lý và bảo vệ nguồn nước). Cơ chế phân công và phối hợp giữa các cơ
quan, các ngành và địa phương chưa đồng bộ, còn chồng chéo, chưa quy định
trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo
vệ tài nguyên nước theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy
định hợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý vào bảo vệ môi trường
nước, gây lên tình trạng thiếu hụt tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi
trường nước.
Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường nước còn rất thấp (một số nước
ASEAN đã đầu tư ngân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việt
Nam mới chỉ có đạt 0,1%). Các chương trình giáo dục cộng đồng về môi
trường nói chung và môi trường nước nói riêng còn quá ít. Đội ngũ cán bộ
quản lý môi trường nước còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Hiện nay ở
Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong
khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân) [15].

2.3. Hiện trạng ô nhiễm làng nghề ở Việt Nam
Vấn đề môi trường mà các làng nghề đang phải đối mặt không chỉ giới
hạn ở trong phạm vi các làng nghề mà còn ảnh hưởng đến người dân ở vùng
lân cận. Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề “Môi trường
làng nghề Việt Nam”, hiện nay hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô
nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên
liệu không gây ô nhiễm như thêu, may ). Chất lượng hầu hết các làng nghề
đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ
gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% từ bụi, 85,9% từ hóa chất. Kết quả khảo
sát 52 làng nghề cho thấy: 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở cả
3 dạng, 27% ô nhiễm vừa, 27% ô nhiễm nhẹ.
Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề xẩy ra ở mấy loại phổ
biến sau:

bã thải lớn từ các làng nghề không thể thu gom và xử lý kịp thời, nhiều làng
nghề rác thải đổ bừa bãi ra ven đường đi và các bãi khu đất [16].
Ở Bắc Ninh điển hình như làng nghề Phong Khê, Phú Nông có khoảng
50 xí nghiệp, với 70 phân xưởng, sản xuất được khối lượng hàng hóa từ
18000 đến 20000 tấn trên năm, nhưng đồng thời thỉa vào môi trường 1200 -
1500m
3
nước thải/ngày với hàm lượng Coliform lớn hơn TCCP hơn 100 lần
(nước thải có chứa chủ yếu là xút, thuốc tẩy, phèn kép, nhựa thông, phẩm
màu) [9].
Tình trạng ô nhiễm môi trường như trên đã ảnh hưởng ngày càng
nghiêm trọng đến sức khỏe của cộng động nhất là những người tham gia sản
xuất, sinh sống tại làng nghề và các vùng lân cận. Báo cáo môi trường Quốc
gia 2013 cho thấy, tại nhiều làng nghề tỷ lệ người mắc bệnh (đặc biệt là nhóm
người trong độ tuổi lao động) đang có xu hướng gia tăng. Tuổi thọ trung bình
của người dân tại các làng nghề ngày càng giảm thấp hơn 10 năm so với làng
không làm nghề. Ở các làng tái chế kim loại, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư,
thần kinh rất phổ biến, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do sự phát thải khí
độc, nhiệt cao và bụi kim loại từ các cơ sở sản xuất.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các
cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán,
phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải. Bên

cạnh đó ý thức của chính người dân làm nghề cũng chưa tự giác trong việc
thu gom, xử lý chất thải.
Nếu không có các giải pháp ngăn chặn kịp thời thì tổn thất đối với toàn
xã hội ngày càng lớn, vượt xa giá trị kinh tế mà các làng nghề mang lại như
hiện nay.
Ở Nam Định làng nghề Yên Tiến (Ý Yên) làm nghề thủ công mỹ nghệ
tre nứa, theo số liệu khảo sát của TTQT và PTNMT tỉnh Nam Định năm 2012

chủng loại như nghề gốm, chạm khắc gỗ và đá, giấy dó, làng kim hoàn…
Thời Hậu Lê và thời Mạc (thế kỷ XV - XVIII) làng nghề thủ công tiếp
tục ra đời và sản xuất ổn định.
Thời cận đại (từ 1858 trở về trước), thủ công nghiệp và làng nghề
truyền thống ở nông thôn tiếp tục phát triển. Nghề thủ công có vai trò hết sức
quan trọng, thường được gắn với tên làng tên xã của nông thôn Việt Nam như
gốm Thổ Hà, gạch Bát Tràng, tranh dân gian Đông Hồ,… Sự phát triển của
làng nghề truyền thống thời kì này khá phong phú và đa dạng, thể hiện sự
phân công lao động và chuyên môn hóa theo nghề ngày càng cao.
Thời Pháp thuộc (1945 - 1958) chính quyền Pháp ở Đông Dương đóng
vai trò chủ đạo trong việc sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam.
Chúng cũng đã tiến hành điều tra, khảo sát, đầu tư phát triển các nghành thủ
công của Việt Nam.
Thời kỳ hòa lập lại ở miền Bắc: Đi đôi với chủ trương đẩy mạnh phát
triển sản xuất nông nghiệp, phục hồi và xây dựng công nghiệp, Đảng và nhà
nước ta đã đánh giá đúng vai trò của làng nghề truyền thống trong tiến trình
phát triển của đất nước. Vì vậy đến những năm 1960 các làng nghề ở nông
thôn thực sự được phục hưng, thực sự góp phần vào công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở miền Bắc. Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam có từng bước
phát triển mới.
Trong giai đoạn đổi mới chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế
thị trường, đây là giai đoạn phát triển quan trọng nhất của làng nghề. Giai
đoạn này được đánh dấu bằng bước ngoặt chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao
cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước. Các chính sách
kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong nông nghiệp và chính
sách phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động trực tiếp và mạnh mẽ
đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và làng nghề nói
riêng. Trong giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và
phát triển, trong mỗi làng nghề quy mô sản xuất được mở rộng, đầu tư về vốn,
kỹ thuật được tăng cường [16].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status