Page 1 of 128
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước đã giúp cho tỉnh Thái Nguyên ngày càng một phát triển
hơn, một mặt tạo sự phát triển kinh tế, công ăn việc làm, nâng
cao mức sống cho người dân mặt khác đây cũng là nguy cơ làm
giảm chất lượng môi trường. Hiện nay, ô nhiễm môi trường
không còn là xa lạ với chúng ta và nó đã trở thành một vấn đề
của toàn cầu. Nếu chúng ta không có biện pháp bảo vệ môi
trường kịp thời để ngăn chặn phòng ngừa mức độ ô nhiễm môi
trường thì sự suy thoái môi trường là điều không thể tránh khỏi.
Một trong những vấn đề môi trường cấp bách hiện nay ở
nước ta đó là rác thải sinh hoạt, một thách thức lớn đang được
xã hội quan tâm.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, dân số ngày càng gia tăng
dẫn tới nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng theo, theo đó
lượng rác thải phát sinh cũng ngày càng nhiều và đặc biệt là rác thải
Page 2 of 128
sinh hoạt. Việc bùng nổ rác thải sinh hoạt là nguyên nhân chính gây
ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ cộng đồng,
con người cũng như làm mất cảnh quan đô thị…
Hiện nay tình trạng rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt
nói riêng tại thị trấn Đu - huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
chưa có đánh giá một cách đầy đủ dẫn đến việc thu gom và xử
lý cũng như quản lý rác thải gặp nhiều khó khăn và chưa phù
hợp trong công tác bảo vệ môi trường.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý
của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên
và Môi trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu
gom, vận chuyển và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị
trấn Đu.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý xử lý rác thải sinh
hoạt.
Page 5 of 128
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về chất thải
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động
khác. (Luật BVMT, 2005).
Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh
hoạt của con người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương
mại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trường học, các
khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong
giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông
đường bộ, đường thuỷ… (GS.TS. Nguyễn Đình Hương, 2003).
2.1.1.2. Khái niệm về chất thải rắn
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá
trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt
Page 6 of 128
động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải thông thường và chất
thải rắn nguy hại.
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia
đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt.
- Từ sinh hoạt: Phát sinh từ hộ gia đình, các biệt thự và các
căn hộ chung cư. Thành phần chủ yếu bao gồm: thực phẩm dư
thừa, bao bì hàng hoá (bằng giấy, gỗ, carton, plastic, thiếc,
nhôm, thuỷ tinh ), đồ dùng điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia
Page 8 of 128
dụng, bóng đèn, đồ nhựa ), chất thải độc hại như chất tẩy rửa,
bột giặt, chất tẩy trắng, thuốc diệt côn trùng
- Từ khu thương mại: Thương mại (kho, quán ăn, chợ, văn
phòng, khách sạn, nhà in, trạm xăng dầu, gara…): Giấy, các
tông, plastic, gỗ, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại, các loại rác
đặc biệt (dầu mỡ, lốp xe,…), các chất thải độc hại khác…
- Từ khu công sở: Cơ quan (trường học, bệnh viện, các cơ
quan hành chính,…). Thành phần bao gồm: Giấy, các tông,
plastic, gỗ, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại Ngoài ra rác thải y
tế phát sinh từ bệnh viện phát sinh từ hoạt động khám chữa
bệnh, điều trị bệnh vì vậy rác y tế trở thành phức tạp nó bao gồm
các loại bệnh phẩm, kim tiêm, trai lọ chứa thuốc
- Từ hoạt động giao thông: Phát sinh từ các hoạt động xây
dựng và tháo dỡ công trình xây dựng, giao thông vận tải như:
nâng cấp mở rộng đường phố, cao ốc, xây dựng di dời nhà
cửa từ đó sinh ra các loại chất thải như đất, đá, bê tông, gạch
ngói, gỗ, sắt thép
- Từ hoạt động công nghiệp: xây dựng, chế tạo, công nghiệp
nhẹ, công nghiệp nặng, lọc dầu, nhà máy hoá chất, nhà máy
Page 9 of 128
điện,…): Chất thải từ các quá trình công nghiệp, các chất thải
không phải từ các quá trình công nghiệp như thức ăn thừa, tro
bã, chất thải xây dựng, các chất thải đặc biệt, các chất thải độc
hại…
- Từ hoạt động nông nghiệp: Phát sinh từ thu hoạch đồng
- Kim loại nặng: Các chất thải sinh ra trong quá trình sản
xuất công nghiệp có thành phần As, Pb, Hg, Cd… là mầm mống
gây bệnh ung thư cho con người.
Các chất phóng xạ, các phế thải có phóng xạ sinh ra qua quá
trình xử lý giống cây trồng, bảo quản, khai khoáng năng
lượng… (PGS. Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)
2.1.1.5 Thành phần chất thải rắn
Page 11 of 128
- Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phức
tạp của nhiều vật chất khác nhau. Tuỳ theo cách phân loại, mỗi
một loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trưng nhất định.
Thành phần của chất thải rắn đô thị là bao quát hơn cả bao gồm
các chất thải từ nhiều nguồn gốc khác nhau như sinh hoạt, công
nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đường phố
Thành phần chủ yếu của chất thải rắn như sau:
+ Hỗn hợp có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27%-62,22%)
+ Chứa nhiều đất, cát, gạch vỡ
+ Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900cal/kg)
2.1.1.6. Hoạt động thu gom, vận chuyển, quản lý, xử lý chất
thải rắn
Theo điều 3 Nghị định/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 về
quản lý chất thải rắn.
- Hoạt động thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp,
đóng gói, và tạm thời lưu giữ chất thải rắn tại nhiều điểm thu
gom.
Page 12 of 128
- Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất
thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, đến nơi xử lý, tái
chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp.
- Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động
ngày 29/11/2007 của chính phủ về phí BVMT đối với chất thải
rắn.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính
phủ: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của
Luật Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính
phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bảo vệ Môi
trường.
- Nghị định 21/2008/NĐ-CP ban hành ngày 28/02/2008
của Chính Phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính Phủ về việc quy
Page 15 of 128
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ
Môi trường.
- Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 của
Chính phủ: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực Bảo vệ Môi trường.
- Nghị định số 175/NĐ-CP ngày 18/10/1994 của Chính
phủ: Hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường.
- Chỉ thị số 199-TTg ngày 3/4/1997 của Thủ tướng Chính
phủ về những biện pháp khẩn cấp để quản lý chất thải rắn ở khu
công nghiệp và đô thị.
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủ
tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh công tác quản lý CTR tại các
đô thị và khu công nghiệp.
- Luật Bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, 1991.
- Thông tư số 1350/TT-KCM ngày 2/8/1995 của Bộ Khoa
học Công nghệ và Môi trường: Hướng dẫn thi hành Nghị định
số 02-CP ngày 5/1/1995 của Chính phủ về việc buôn bán có
điều kiện các hoá chất độc, các chất phóng xạ, chất thải và bán
xây dựng về ban hành” Định mức dự toán thu gom, vận chuyển
và xử lý chôn lấp rác thải đô thị”.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới
2.2.1.1. Tình hình phát sinh, thu gom và phân loại rác thải trên
thế giới
Trong vài thập kỷ vừa qua, do sự phát triển của khoa học
kỹ thuật dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, do sự bùng
nổ tăng nhanh dân số, vấn đề chất thải gây ô nhiễm môi trường
Page 18 of 128
sống đã trở thành vấn đề lớn của hầu hết các nước trên thế giới.
(PGS. TS Hoàng Kim Cơ và cs, 1999).
Hiện nay, chất thải rắn đang là một trong những nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường. Chính sự mất vệ sinh, đặc biệt là
mùi hôi thối, góp phần làm ô nhiễm không khí và là nguyên
nhân gây ô nhiễm nước mặt cũng như nước ngầm, gây nguy hại
đến sức khoẻ cộng đồng.
Theo Nguyễn Thị Anh Hoa (2006) mức độ đô thị hoá cao
thì lượng chất thải tăng lên theo đầu người, ví dụ ở một số quốc
gia hiện nay:
- Canada: 1,7 kg/người/ngày
- Australia: 1,6 kg/người/ngày
- Thụy Sĩ: 1,3 kg/người/ngày
- Thụy Điển: 1,3 kg/người/ngày
- Trung Quốc: 1,3 kg/người/ngày
Nếu tính bình quân một người mỗi ngày đưa vào môi
trường xung quanh 0,5 kg chất thải thì mỗi ngày trên thế giới 6
tỷ người sẽ thải ra khoảng 3 triệu tấn và mỗi năm sẽ có khoảng 1
tỷ tấn rác thải.
Page 19 of 128
sử dụng thùng nhựa bên trong có bao plastic và có nắp đậy
chống ruồi nhặng và bốc mùi hôi thối. Các túi plastic được
chuẩn hoá và bán ở các siêu thị rất thuận tiện, thống nhất trong
việc thu gom và phân loại rác. Ví dụ túi màu đen để đựng rác
thực phẩm, túi màu trắng để đựng kim loại, thuỷ tinh,…
Với lượng chất thải hàng ngày lớn như vậy, việc xử lý chất
thải sinh hoạt đã trở thành một ngành công nghiệp thu hút nhiều
công ty lớn mà phạm vi hoạt động của các công ty này có tầm cỡ
đa quốc gia. Vấn đề này vừa mang ý nghĩa vệ sinh, vừa mang ý
Page 21 of 128
nghĩa kinh tế: “Kinh nghiệm ở một số nước cho thấy có trên 90%
chai và trên 90% cần được đưa vào sử dụng trung bình từ 15 - 20
lần và trong quá trình xử lý rác người ta có thể tái chế ra các loại
nhiên liệu rắn và than cốc”. Ví dụ: ở Mỹ có công ty Waste
Management Inc đã chiếm lĩnh thị trường Trung Cận Đông, công
ty Browning - Feris Inc có cơ sở hoạt động ở rất nhiều nước trên
thế giới. Ở Anh có công ty Attwood PLC, Biffa (BETPLC); ở
Pháp có công ty Cielyonaise des Eaxux,Ciegeneral des Eaux; ở
Đức hiện nay có 500 công ty và rút xuống còn 20 - 30 công ty xử
lý rác. Các công ty này hàng năm có những thu nhập tới hàng
trăm triệu đô la Mỹ.
Từ chất thải công nghiệp có thể tạo ra được cồn etilic, các
loại vật liệu xây dựng. “Ở Thụy Sĩ, từ chất thải sinh hoạt và chất
thải công nghiệp giấy người ta đã làm ra ván ép phục vụ xây
dựng. Ở Mỹ đã nghiên cứu và ứng dụng các thiết bị mới phân
loại rác và chất thải công nghiệp. Hàng năm trong 134 triệu tấn
rác thải của nước này chứa tới 11,3 triệu tấn sắt, 680 ngàn tấn
nhôm, 430 ngàn tấn các loại khác, trên 60 triệu tấn giấy và 13
triệu tấn thuỷ tinh. Khối lượng rác này đốt thu được lượng nhiệt
Page 22 of 128
+ Ở Thụy Điển: Thực hiện chiến lược giảm thiểu lượng
chất thải rắn và tăng cường thu hồi phế liệu cho tái chế (chiếm
25% tổng số chất thải rắn phát sinh năm 1997), áp dụng công
nghệ tiên tiến để phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải rắn (phương pháp hút chân không tự động để thu gom chất
thải rắn). Thụy Điển hiện có 282 bãi chôn lấp với tổng số 4,75
triệu tấn chất thải được chôn lấp. Thụy Điển là một trong số
những nước thực hiện phân loại rác tại nguồn có hiệu quả với sự
Page 24 of 128
tham gia tích cực của người dân, đồng thời xử lý chất thải rắn có
hiệu quả.
+ Ở Singapore: Chất thải rắn được thu gom bằng túi nilon
đặc biệt và được phân loại tại nguồn. Đến năm 2011 cả nước có
5 nhà máy đốt rác với công suất 9.000 tấn/ngày (khoảng 97%,
còn 3% chôn lấp đặc biệt ở biển). Năm 2004, ở Singapore đã
xây dựng nhà máy đốt rác thứ 6. Trong quá trình tiêu huỷ chất
thải rắn, nhiệt được thu hồi để chạy máy phát điện.
+ Ở Nhật Bản: Hiện nay Nhật Bản đang sử dụng phương
pháp thiêu đốt chất thải rắn với việc thu hồi năng lượng là chủ
yếu (chiếm 72% tổng lượng chất thải với 1919 xí nghiệp đốt rác
hoạt động). Công suất của các xí nghiệp lớn nhất lên tới 1980
tấn/ngày đêm.
+ Ở Đức: Rất chú trọng đến biện pháp tái sinh chất thải
rắn, lượng chất thải rắn chôn lấp có xu hướng giảm dần (70%
năm 1990 chỉ còn lại 46% ở những năm cuối thế kỷ 20) nguyên
nhân chính là do chính phủ quy định công nghệ chôn lấp phải
tiên tiến, bãi chôn lấp chỉ tiếp nhận rác đã qua thiêu huỷ hoặc xử
lý sơ bộ.
Page 25 of 128
- Trong khi đó ở các nước đang phát triển còn phải đối mặt