MỤC LỤC
1
1
DANH MỤC BẢNG
2
2
3
3
I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu. Sự ô nhiễm môi
trường đang là mỗi đe dọa tới cuộc sống con người và cả trái đất nói chung.
Môi trường Việt Nam đang bị hủy hoại nghiêm trọng gây nên nguy cơ mất
cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm ảnh hưởng đến chất
lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của đất nước. Một trong những
nguyên nhân chính của vấn đề là nhận thức và thái độ của con người đối với
môi trường còn nhiều hạn chế. Tại các tỉnh thành trên cả nước, việc thu gom,
xử lý rác thải sinh hoạt là một trong những nhiệm vụ cơ bản đối với công tác
quản lý môi trường. Trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng trưởng, sự phát
triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ...đáp ứng
sinh môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân.
Trong khi rác thải ra môi trường ngày càng nhiều,việc quản lý về vấn đề
này chưa cao,người dân còn đổ rác bừa bãi.Điều này đã làm mất cảnh quan đô
thị, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người dân.
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần nâng cao nhận thức của bản thân
về vấn đề môi trường trong thị trấn và đề xuất một số giải pháp trong công tác
quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại Thị Trấn Đô Lương
Huyện Đô Lương Tỉnh Nghệ An và đề xuất một số biện pháp quản lý”.
1.2 Mục đích
- Đánh giá thực trạng quản lý chất thải sinh hoạt tại Thị Trấn Đô Lương
huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An.
- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt tại Thị Trấn Đô
Lương
1.3 Yêu cầu
-Tìm hiểu thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại Thị Trấn.
- Đánh giá được ưu, nhược điểm của công tác quản lý.
- Giải pháp đưa ra phải có tính khả thi trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt
tại Thị Trấn.
5
5
II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Khái niệm môi trường
2.1.1 Các khái niệm môi trường
- Khái niệm môi trường
Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: Môi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
6
6
giấy vụn, sành sứ. . .(Lê Văn Nhương) [9].
2.1.2 Những thách thức môi trường toàn cầu
2.1.2.1 Khí hậu toàn cầu biến đổi với tần suất thiên tai gia tăng
Các nhà khoa học đã cho biết trong vòng 100 năm trở lại đây, trái đất
đã nóng lên trên 0.5oC và trong thế kỷ này sẽ tăng 1.5 – 4.5 oC. Sự nóng lên
của trái đất gây nên một số nguy cơ:
+Mực nước biển có thể dâng lên 0.25 – 1.4 m, sẽ nhấn chìm một vùng
ven biển rộng lớn,làm mất đi nhiều vùng đất nông nghiệp.
+ Sự gia tăng thiên tai như: gió, bão, lũ lụt, hạn hán.. .(Lê Văn khoa,
2004) [7].
Sự nóng lên của trái đất là do các hoạt động của con người dẫn tới sự
gia tăng nồng độ CO2, SO2, CH4. Thiên tai không những không nhưng xuất
hiện với tần suất gia tăng mà quy mô tác gây thiệt hại cho con người cũng
ngày càng lớn.Tháng 12/1999, hai trận mưa lớn ở Venezuela đã làm cho
50.000 người chết và 20.000 người không có nhà ở. Ngày 26/01/2001, thảm
họa động đất ở Ân Độ đã làm cho khoảng 30.000 người chết và hàng vạn
người bị thương, gây thiệt hại lớn về người và của (Lê Văn khoa, 2004) [7].
2.1.2.2 Nguồn tài nguyên bị suy giảm
Cùng với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường là sự khái thác
quá mức nguồn tài nguyên
+ Tài nguyên đất đang bị suy thoái một cách nghiêm trọng, đất đang
biến thành sa mạc. Sa mạc Sahara, với diện tích 8 triệu km 2, mỗi năm mở
rộng thêm 5 – 7 km2. Sự biến đổi khí hậu đang gây nên tình trạng xói mòn đất
ở nhiều khu vực. Theo FAO, trong vòng 20 năm tới sẽ có 140 triệu ha đất bị
+ Chất thải không nguy hại là những chất thải không chứa các chất và
các hợp chất có một trong những đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác
thành phần
+ Chất thải nguy hại bao gồm: các loại háo chất dễ gây phản ứng, độc
hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ, các chất phóng xạ, các
chất thải nhiễm khuẩn dễ lây lan. . . có nguy cơ đe dọa sức khỏe con người,
động vật và thực vật ( UBNN huyên Đô Lương, 2010 ) [21].
+ Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ hoạt động y tế, công
8
8
nghiệp, nông nghiệp.
2.2.2.2 Phân loại theo nguồn gốc tạo thành
+ Chất thải rắn sinh hoạt: Là những chất thải liên quan đến các hoạt
động con người. Nguồn gốc chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường
học, các trung tâm dịch vụ thương mại. Chất thải rắn sinh hoạt bao gồm kim
loại, sành sứ, thủy tinh, đất đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá
hạn sử dụng. . . (UBNN huyên Đô Lương, 2010)[21].
+ Chất thải rắn công nghiệp: Là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
+ Chất thải xây dựng: Là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ
do các hoạt đông tháo gỡ, xây dựng công trình.
+ Chất thải nông nghiệp: Là những chất thải phát sinh từ hoạt động
nông nghiệp như trồng trọt, chế biến thực phẩm. . . Hiện nay việc quản lý
CTNN không thuộc về trách nhiệm của các công ty đô thị của các địa
phương.
2.3 Thành phần rác thải sinh hoạt
chiếm tỷ lệ lớn. Các thành phần này phụ thuộc vào vận tốc xây dựng, cải tạo
nhà cửa ở các khu dân cư.
Bảng 2.1 Thành phần rác sinh hoạt ở Hà Nội, Hải Phòng, TP. HCM
Thành phần (%)
Hà Nội
Hải Phòng
TP.HCM
Lá cây,vỏ hoa quả, xác động vật
50,27
50,07
62,24
Giấy
Giẻ rách, củi, gỗ
Nhựa, nilon,cao su,da
Vỏ ốc, xương
Thủy tinh
Rác xây dựng
Kim loại
Tạp chất khó phân hủy
2,72
6,27
Bảng 2.2 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số địa phương.
Thành phần
Cầu diễn –Hà
Việt Trì – Phú
Nội
53
4-5,5
1-1,5
4-5
5-7
0,1-0,5
30-35
Hữu cơ
Giấy vụn
Giẻ rách, gỗ vụn
Cao su, ni lon
Sành sứ, vỏ ốc
Kim lọai, vỏ hộp
Rác vụn khác
Lại xá
Thọ
78-80
Rác làm vườn
Gỗ
Cacbon
Hydro
Oxy
Nito
Lưu huỳnh
Tro
48,0
43,5
41,0
60,0
55,0
78,0
60,0
49,5
49,5
6,4
6,0
5,9
7,2
6,6
5,0
6,0
5,0
10,0
10,0
10,0
4,5
1,5
Nguồn: Nguyễn Xuân Thành, 2004 [14]
Qua bảng số liệu trên cho thấy thành phần hóa học trong rác thải sinh
hoạt được tạo thành chủ yếu từ cacbon và oxy. Tỷ lệ cacbon dao động từ 41,078,0%, còn oxy là 11,6-42,7%, còn lại là các thành phần khác. Độ tro của chất
dẻo, cao su là cao nhất(10%), độ tro của gỗ là thấp nhất 1,5%.
11
11
Như vậy rác thải sinh hoạt là một hỗn hợp không đồng nhất và mỗi
thành phần có thành phần hóa học, cấu trúc hóa học khác nhau. Do đó việc xử
lý chúng cũng sẽ rất khác nhau, bởi vậy mà công việc phân loại rác thải sinh
hoạt là một khâu rất quan trọng để tiết kiệm kinh phí cho vấn đề xử lí rác. Rác
thải sinh hoạt nếu không được quản lý, xử lý ,tốt thì nguy cơ ô nhiễm môi
trường là không thể tránh khỏi.
2.4 Tình hình ô nhiễm chất thải rắn
2.4.1 Tình hình ô nhiễm chất thải rắn trên thế giới
Trong vài thập kỷ vừa qua do sự phát triển của kho học kỹ thuật dẫn
đến sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế và sự bùng nổ dân số, vấn đề chất thải
gây ô nhiễm môi trường sống đã trở thành vấn đề lớn của hầu hết các nước
28,2
12,1
8,1
5,1
1,9
19,8
1,4
0,8
20
22,7
3,9
Pháp
0
30
34
2
4
0
10
7
0
13
0
Singapo
0
20-20
26-45
0
13
13
Bảng 2.5 Lượng chất thải rắn tạo thành và tỷ lệ thu gom trên toàn quốc
từ 1997-1999
Loại chất thải
Chất thải sinh hoạt
Bùn, cặn cống
Phế thải xây dựng
Chất thải y tế nguy hại
Chất thải công nghiệp nguy hại
Tổng cộng
Lượng chất thải
Tỷ lệ thu gom
(Tấn/ ngày)
1997
1998
1999
14.525 16.558 18.879
822
920
1.049
1.798 2.049 2.336
240
252
Qua bảng trên cho thấy
+ Nguồn phát sinh chất thải lớn nhất là nguồn chất thải sinh hoạt : năm
1997 lượng phát sinh chất thải từ nguồn này chiếm tới 75,2%, năm 1998 là
75,3% và năm 1999 là 75,4%, còn lại là các nguồn khác.
+ Tỷ lệ thu gom các loại chất thải là rất thấp: năm 1997 mới thu gom
được 56%, năm 1998 là 70% và năm 1999 là 73%. Trong đó tỷ lệ thu gom
chất thải sinh hoạt chưa cao: Năm 1997 thu gom được 55 %, năm 1998 là
68% và năm 1999 là 75%.
+ Tỷ lệ thu gom chất thải công nghiệp nguy hại là thấp nhất: năm 1997
thu gom được 48%, năm 1998 thu gom được 50% và năm 1999 là 60%.
Như vậy ta thấy trong giai đoạn này, lượng phát sinh chất thải lớn
nhưng lượng thu gom lại thấp. Điều này dẫn tới việc ô nhiễm chất thải rắn là
điều không thể tránh khỏi.
Nhìn chung, trên địa bàn toàn quốc rác thải rắn có xu hướng biến
động mạnh cả về chất và lượng. Trong đó rác thải sinh hoạt tăng lên một
cách đáng kinh ngạc do sự gia tăng dân số ở các đô thị lớn. Rác thải công
nghiệp và y tế cũng có xu hướng tăng lên. Tình hình ô nhiễm chất thải rắn
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.6 Tình hình phát sinh chất thải rắn
14
14
Các loại chất thải rắn
Toàn quốc
Tổng lượng phát sinh CTRSH (tấn/năm) 12.800.000
CTNH từ công nghiệp (tấn/năm)
128.400
CTKNH từ công nghiệp (Tấn/năm)
tỉ lệ CTR nguy hại (dầu mỡ, nhựa PVC…) chiếm trung bình 0,6%.
15
15
Bảng 2.7 Lượng CTR khu vực đô thị và công nghiệp tỉnh Nghệ An
năm 2006
Loại chất thải rắn
CTR sinh hoạt
CTR công nghiệp
CTR y tế
Tổng
Tổng lượng (tấn)
109.281
21.856,2
1.044
132.181,2
Lượng CTR nguy hại (tấn)
655,7
8.305
261
9.221,7
Vùng nông thôn của tỉnh Nghệ An có diện tích là 1.638.916 ha (chiếm
99,4 % diện tích tự nhiên) với dân số là 2.730.609 người (chiếm 89,21% tổng
dân số toàn tỉnh). Ở nông thôn ước tính lượng rác thải phát sinh là
đến nặng, tạo điều kiện cho các vi sinh vật và tảo lam phát triển làm cho nguồn
nước ngọt dần trở nên khan hiếm. Đây chính là nơi ủ mầm bệnh gây ra những
bệnh về da, bệnh đường ruột hay phụ khoa cho phụ nữ... dễ mắc vào mùa hè và
bùng phát thành dịch ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng.
Trước thực trạng đó, rác thải nông thôn không còn là chuyện nhỏ, nó
thực sự cần được sự quan tâm của các cấp, các ngành, nếu không chỉ một vài
năm nữa xử lý rác thải sẽ rất tốn kém, phức tạp và ảnh hưởng tới sức khỏe,
môi trường sống của người nông dân.
2.5 Các phương pháp xử lý chất thải rắn trên thế giới và ở Việt Nam
Lâu nay, rác thải đang trở thành vấn đề tất cả mọi người đều phải quan
tâm.Rác thải không chỉ là vấn đề của các khu đô thị mà nó còn vươn tới các
vùng quê xa xôi. Tuy chẳng ai muốn dính đến rác, song cũng không ai tránh
được rác vì nó là một phần trong hoạt động sống của con người. Theo số liệu
báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004, tổng lượng chất thải rắn phát
sinh trong các đô thị trên cả nước là 8,266 triệu tấn/ năm, trong đó rác thải
sinh hoạt chiếm hơn 80 % (Nguyễn Xuân Thành và cộng sự 2004) [13].
Không ít các nhà khoa học , các cơ quan, ban ngành đã đầu tư nghiên
cứu và đã thực hiện một số biện pháp xử lý rác thải, song còn có nhiều vấn đề
như vốn đầu tư, đất đai và đặc biệt là ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.
Trên thế giới và Việt Nam đã và đang áp dụng nhiều biện pháp xử lý rác thải
sinh hoạt .
2.5.1 Xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp
Đây là phương pháp phân hủy kỵ khí với khối lượng cơ chất lớn. Chôn
17
17
lấp là phương pháp lâu đời. Hiện nay nhiều nước trên thế giới kể cả một số
nước như Anh, Mỹ, CHLB Đức vẫn còn áp dụng phương pháp chôn lấp để xử
trường nghiêm trọng. Đặc biệt các bãi rác ở Hà Nội như: Mễ Trì, Vạn Phúc,
Thủ Lệ, Văn Điển. . .Một số bãi rác được quy hoạch nằm trong thành phố
( Bãi rác Cát Bà- TP Hải Phòng, bãi rác TP Vinh – tỉnh Nghệ An), (Nguyễn
Xuân Thành và cộng sự 2004) [13].
Các yếu tố cần xem xét khi lựa chọn bãi chôn lấp.
+ Quy mô bãi rác.
+ Ví trí bãi chôn lấp.
+ Địa chất công trình, thủy văn.
+Các chỉ tiêu kinh tế.
18
18
Bảng 2.8 Quy mô bãi chôn lấp
Quy mô bãi
chôn lấp
Loại nhỏ
Loại vừa
Loại lớn
Loại rất lớn
Dân số
Lượng chất thải
Diện tích
Thời gian tái
học tạo môi trường tối ưu đối với quá trình.
Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ là một phương pháp truyền thống
được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Quá
trình ủ được coi như quá trình lên men yếm khí mùn hoặc chất mùn. Sản
phẩm thu được là hợp chất mùn không mùi, không chứa VSV gây bệnh và hạt
cỏ. Để đạt mức độ ổn định như lên men, việc ủ đòi hỏi năng lượng để tăng
nhiệt độ đống ủ. Trong quá trình ủ oxy sẽ được hấp thụ hàng trăm lần và hơn
nửa so với bể aeroten. Qúa trình ủ áp dụng với chất hữu cơ không độc hại, lúc
đầu là khử nước, sau là xử lý cho đến khi nó thành xốp và ẩm. Độ ẩm và nhiệt
độ được kiểm tra và giữ cho vật liệu ủ luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt
thời gian ủ. Quá trình tự tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình oxy hóa các chất thối
rữa. Sản phẩm cuối cùng là CO2, nước và các hợp chất hữu cơ bền vững như:
lignin, xenlulo, sợi. . .(UBNN tỉnh Ninh Bình-Sở KHCN, 2010) [23].
* Phương pháp xử lý khí sinh học (biogas)
Sản xuất khí sinh học là phương pháp đã được sử dụng từ lâu ở các nước phát
19
19
triển thuộc khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong vài chục năm gần đây
với mục đích giới hạn ở vùng quê làm chất đốt và thắp sáng. Gần đây công
nghệ này càng ngày càng được hoàn thiện và chuyển hướng sang sử dụng các
loại nguyên liệu là rác thải nông – công – nghiệp và rác thải sinh hoạt để sản
xuất khí sinh học, đa dạng hóa nguồn năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi
trường (Nguyễn Xuân Nguyên, 2004) [12].
-
Cơ sở khoa học:
Cơ sở của phương pháp này là nhờ sự hoạt động của các VSV mà các
khí và các chất thải rắn không cháy. Các chất khí được làm sạch hoặc không
được làm sạch thoát ra ngoài không khí. Chất thải rắn còn lại được chôn lấp.
Hiện nay ở các nước châu Âu có xu hướng giảm việc đốt rác thải do
hàng loại vấn đề kinh tế và môi trường. Phương pháp này hiện tại đang được
dùng cho việc xử lý rác thải bệnh viên.
Tồn tại của phương pháp này là tốn nhiên liệu đốt và gây ô nhiễm môi
trường không khí, nếu như quy trình công nghệ không đảm bảo kỹ thuật.
2.5.2 Một số phương pháp xử lý chủ yếu ở Việt Nam
Tuy nhiên đối với chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam, phương thức xử
lý chủ yếu hiện nay vẫn là đổ thải ở các bãi đổ lộ thiên không được chèn lót
kỹ hoặc chôn lấp (nhưng không hợp vệ sinh) hoặc chôn lấp hợp vệ sinh tuy
nhiên số lượng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh so với các bãi chôn lấp và bãi đổ
tự nhiên trong cả nước còn thấp (< 25%) mà chủ yếu thuộc về vùng đô thị.
Điều đáng nói ở đây là chưa có đô thị nào có phương tiện đầy đủ và thích hợp
để xử lý chất thải nguy hại từ công nghiệp và y tế.
Ngoài ra, gần đây ở nước ta đã thử nghiệm công nghệ SERAPHIN để
xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Ưu điểm nổi bật của công nghệ này là hiệu quả xử
lý đạt trên 90%, giảm thiểu tối đa việc chôn lấp rác. Do đó, tiết kiệm được đất
đai và xoá bỏ được các bãi rác chôn lấp để thu hồi sử dụng cho các mục đích
khác. Quá trình nghiên cứu và thực tế áp dụng đã cho thấy đây là giải pháp được
xem là hiệu quả nhất hiện nay, không xuất hiện nước rỉ rác và mùi hôi thối vì rác
thải sinh hoạt được xử lý ngay trong ngày, chứ không chôn lấp rác tươi. Sau khi
tách lọc được rác hữu cơ làm phân vi sinh như mùn hữu cơ, phân hữu cơ sinh
học, những loại rác vô cơ còn lại, dây chuyền tự động sẽ chuyển loại rác này về
một bộ phận khác để tạo sản phẩm như nhựa Seraphin, bát đựng mủ cao su và
các loại xô chậu... Khi áp dụng công nghệ này vào việc xử lý rác thải vô cơ (túi
nilông, nhựa...) sẽ tiết kiệm được một lượng rửa lớn, hạn chế việc ô nhiễm môi
trường do nước thải công nghiệp gây nên. Hiện nay nước ta đã có các nhà máy
sử dụng công nghệ này: Nhà máy xử lý rác Thùy Phương (TP. Huế) hoạt động từ
22
III . NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là rác thải sinh hoạt và những vấn
đề liên quan ở thị trấn Đô Lương huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thị Trấn Đô Lương
- Dân số và sự phân bố dân cư
-
Cơ cấu dân cư – lao động, việc làm
-
Kinh tế - xã hội
-
Môi trường
3.2.2 Thực trạng rác thải sinh hoạt tại thị trấn Đô Lương.
-
Các nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt (cơ quan, trường học, khu dân
cư..)
-
Định lượng lượng rác thải từ các nguồn thải chính
23
23
3.2.5 Các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý và xử lý rác thải
sinh hoạt tại Thị Trấn Đô Lương huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An.
-
Giải pháp về chính sách
-
Giải pháp về đầu tư
-
Giải pháp quản lý, xử lý rác thải của cơ quan chức năng
-
Giải pháp nhằm nâng cao ý thức của người dân
-
Giải pháp cải tiến công nghệ quản lý và xử lý chất thải.
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập tại cơ quan chuyên môn:
+ Thu thập số liệu tại phòng Tài nguyên & Môi trường.
thành phố Vinh khoảng 60 km về phía Tây Bắc.Có vị trí khoảng 18 054’7” vĩ
độ Bắc,108018’20” kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp xã Đông Sơn
- PhíaNam giap xã Yên Sơn
- Phía Tây giáp xã Lưu Sơn
- Phía Đông giáp xã Đà Sơn
Tổng chiều dài ranh giới hành chính khoảng 15km
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình thị trấn Đô Lương tương đối bằng phẳng, trên địa bàn thị trấn
không có đồi núi , hệ thông sông ngòi bao bọc ,có dòng sông Lam chảy qua
địa bàn thị trấn kéo dài khoảng 5km, theo hướng Đông Tây
4.1.1.3 Đặc diểm khí hậu
Đô Lương có chế độ khí hậu phức tạp, mang tính chất khí hậu nhiệt đới
nóng ẩm mưa nhiều song phân bố không đều giữa các tháng trong năm, khí
hậu được chia làm hai mùa, đó là mùa mưa và mựa khô, ngoài ra cũng chịu
ảnh hưởng của gió Tây Nam (gió Lào).
- Nhiệt độ: trung bình hàng năm từ 23 - 24 oC, nhiệt độ cao nhất trong
năm là 40 - 41oC (tháng 7) và thấp nhất trong năm là 12oC (tháng 1).
- Nắng: số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 1.500 - 1.700 giờ,
bình quân trong tháng khoảng 1.668 giờ. Tháng cú nhiều nắng nhất là tháng 5,
25
25