PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập kỷ gần đây, người ta đã chú trọng nhiều đến việc
phát triển hệ thống sản xuất nông nghiệp bền vững, trong đó ngành chăn nuôi
là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổng thể. Tuy nhiên sản xuất chăn
nuôi đang phải đối đầu với những khó khăn không chỉ về mặt kỹ thuật như
việc cung cấp thức ăn, sức khỏe gia súc, tạo giống và quản lý mà cả những
yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội. Ở nhiều nước trên thế giới, nông dân
ngày càng mở rộng mô hình chăn nuôi theo hướng chuyên môn hóa. Năng
suất cá thể gia súc và năng suất vật nuôi trên một đơn vị ha đất cũng như quy
mô trang trại đang tăng lên một cách đáng kể. Tuy nhiên sự thâm canh với
mật độ ngày càng cao như hiện nay cũng đã và đang làm phát sinh những vấn
đề gây sự quan tâm từ xã hội đó là ô nhiễm môi trường. Việc thu trữ và xử lý
các chất thải chăn nuôi gặp nhiều khó khăn khi tăng cường thâm canh. Tác
động do các chất thải chăn nuôi lên chất lượng môi trường không khí, đất và
nước đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, đến chuỗi thức ăn và sức
khỏe con người. Ô nhiễm mùi và nước thải từ các chất thải chăn nuôi trong
chuồng trại, các hệ thống lưu trữ hoặc từ quá trình sử dụng phân bón trên
đồng ruộng đang là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý môi trường và của
nhân dân trong các khu vực chăn nuôi nhất là ở nơi có mật độ gia súc gia cầm
cao. Việc thể chế hóa thành luận pháp và xây dựng các biện pháp nhằm hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực của các hệ thống chăn nuôi đến môi trường và
tái sử dụng kinh tế chất thải đang là vấn đề cấp thiết.
Nước ta là một nước nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò
rất quan trọng trong nền kinh tế - xã hội nước ta. Những năm qua, ngành chăn
nuôi phát triển khá mạnh về cả số lượng lẫn quy mô. Tuy nhiên, việc chăn
nuôi nhỏ lẻ trong nông hộ, thiếu quy hoạch, nhất là các vùng dân cư đông đúc
1
đã gây ra ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng. Ô nhiễm môi trường do
chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi,
tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy không đúng kỹ thuật.
đối với môi trường xung quanh.
- Đánh giá sơ bộ chất lượng môi trường xung quanh trang trại và tính toán
lượng chất thải của trang trại.
- Hiện trạng các biện pháp xử lý đã và đang được sử dụng tại trang trại.
- Đề suất một số giải pháp quản lý môi trường trong quản lý rác thải chăn
nuôi tại trang trại nghiên cứu.
1.3 Yêu cầu của nghiên cứu
- Các số liệu điều tra phải chính xác, khách quan và đáng tin cậy.
- Nội dung nghiên cứu phải thực hiện được các mục tiêu đề ra.
- Gỉai pháp phải khả thi, đáp ứng các yêu cầu về xử lý ô nhiễm môi trường
của khu vực.
3
PHẦN II: TỔNG QUAN
2.1 Hiện trạng phát triển chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Hiện trạng chăn nuôi trên thế giới
2.1.1.1 Tình hình dân số thế giới
Theo số liệu thống kê năm 2010 dân số của toàn cầu hiện nay trên 6,7
tỷ người, dự báo mỗi năm dân số thế giới tăng 0,7-0,8 triệu. Châu lục có cư
dân lớn nhât đó là Châu Á với số lượng 4.166,0 triệu người tiếp đến là Châu
Phi có 1.033,7 triệu dân, Châu Âu 732,7 triệu, Mỹ La Tinh 588,6 triệu, Bắc
Mỹ 351,6 triệu và Châu Đại Dương 35,8 triệu người. Tính riêng Châu Á đã
chiếm trên 60% dân số thế giới, nếu cả Châu Á và Châu Phi chiếm trên 70%
dân số toàn cầu. Năm cường quốc về dân số trên thế giới số một là Trung
Quốc 1.332,0 triệu người, tiếp theo là Ấn Độ 1.177,8 triệu người, thứ ba là
Hoa Kỳ 311,1 triệu, bốn Indonesia 243,7 triệu và thứ năm Brazin 201,7 triệu
người.
Theo số liệu thống kê thế giới dự kiến đến năm 2050 dân số toàn cầu có số
lượng trên 9,5 tỷ người. Các vấn đề liên quan đến con người đến nông
nghiệp, lương thực, thực phẩm, môi trường sống và đói nghèo là những vấn
đề luôn được cả loài người quan tâm. Khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới
Về chăn nuôi gà số một Trung Quốc 4.702,2 triệu con gà, nhì Indonesia
1.341,7 triệu, ba Brazin 1.205,0 triệu, bốn Ấn Độ 613 triệu và năm Iran 513
triệu con gà. Việt Nam về chăn nuôi gà có 200 triệu con đứng thứ 13 thế giới.
Chăn nuôi Vịt nhất Trung Quốc có 771 triệu con, nhì Việt Nam 84 triệu, ba
Indonesia 42,3 triệu, bốn Bangladesh 24 triệu và thứ năm Pháp có 22,5 triệu
con Vịt. Về số lượng vật nuôi của thế giới, các nước Trung quốc, Hoa kỳ, Ấn
Độ, Brazin, Indonesia, Đức là những cường quốc, trong khi đó Việt Nam
cũng là nước có tên tuổi về chăn nuôi: đứng thứ 2 về số lượng vịt, thứ 4 về
heo, thứ 6 về số lượng trâu và thứ 13 về số lượng gà.
5
*Sản phẩm chăn nuôi
Thịt gia súc, gia cầm : Với số lượng vật nuôi như trên, tổng sản lượng
thịt sản xuất năm 2009 của thế giới trên 281 triệu tấn, trong đó thịt trâu chiếm
3,30 triệu tấn, thịt bò 61,8 triệu, thịt dê 4,9 triệu tấn, thịt cừu 8,1 triệu tấn, thịt
lợn 106 triệu tấn, thịt gà 79,5 triệu tấn, thịt vịt 3,8 triệu tấn và còn lại là các
loại thịt khác như thỏ, ngựa, lạc đà, lừa Cơ cấu về thịt của thế giới nhiều
nhất là thịt lợn chiếm 37,7%, thịt gà 28,5%, thịt bò 22,6% tổng sản lượng thịt,
còn lại 12,7% là thịt dê, cừu, ngựa , trâu, vịt và các vật nuôi khác.
Nếu dân số của thê giới hiện nay trên 6,7 tỷ người thì bình quân về số lượng
thịt trên đầu người là khoảng 41,9 kg/người/năm, trong đó các nước phát triển
đạt trên 80 kg/người/năm và các nước đang phát triển đạt khoảng 30
kg/người/năm.
Các cường quốc về sản lượng thịt bò năm 2009: Thứ nhất Hoa Kỳ sản xuất
11,9 triệu tấn năm, nhì Trung Quốc 6,1 triệu tấn, ba Argentina 2,8 triệu tấn,
bốn Australia 2,8 triệu tấn và năm Liên Bang Nga 1, 7 triệu tấn/năm. Về thịt
trâu nhất Ấn Độ 1.427,4 tấn, nhì Parkistan 738 tấn, ba Trung Quốc 309,4 tấn,
bốn Nêpan 156,6 tấn và năm Việt Nam 105,5 tấn/năm. Về thịt lợn thứ nhất là
Trung Quốc 49,8 triệu tấn, thứ hai Hoa Kỳ 10,4 triệu tấn, thứ ba Đức 5,2 triệu
tấn, thứ tư Brazin 4,29 triệu tấn, thứ năm Tây Ban Nha 3,29 triệu tấn, thứ 6
Việt Nam 2,55 triệu tấn. Về thịt gà nhất Hoa Kỳ 16,3 triệu tấn, nhì Trung
nông nghiệp của các nước trong thời kỳ phát triển mới.
* Phương thức chăn nuôi
Phương thức chăn nuôi hiện nay của các nước trên thế giới vẫn có ba
hình thức cơ bản đó là: i) Chăn nuôi quy mô công nghiệp thâm canh công
nghệ cao ii) Chăn nuôi trang trại bán thâm canh và iii) Chăn nuôi nông hộ
quy mô nhỏ và quảng canh.
Phương thức chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô lớn thâm canh sản xuất hàng
hóa chất lượng cao chủ yếu ở các nước phát triển ở Châu Âu, Châu Mỹ, Châu
7
Úc và một số nước ở Châu Á, Phi và Mỹ La Tinh. Chăn nuôi công nghiệp
thâm canh các công nghệ cao về cơ giới và tin học được áp dụng trong
chuồng trại, cho ăn, vệ sinh, thu hoạch sản phẩm, xử lý môi trường và quản lý
đàn. Các công nghệ sinh học và công nghệ sinh sản được áp dụng trong chăn
nuôi như nhân giống, lai tạo nâng cao khả năng sinh sản và điều khiển giới
tính.
Chăn nuôi bán thâm canh và quảng canh gia súc gia cầm tại phần lớn các
nước đang phát triển ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La Tinh và các nước Trung
Đông. Trong chăn nuôi quảng canh, tận dụng, dựa vào thiên nhiên sản phẩm
chăn nuôi năng xuất thấp nhưng được thị trường xem như là một phần của
chăn nuôi hữu cơ.
Chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi sạch đang được thực hiện ở một số nước
phát triển, sản phẩm chăn nuôi được người tiêu dùng ưu chuộng. Xu hướng
chăn nuôi gắn liền với tự nhiên đang được đặt ra cho thế kỷ 21 không chăn
nuôi gà công nghiệp trên lồng tầng và không chăn nuôi heo trên nền xi măng.
Tuy nhiên chăn nuôi hữu cơ năng xuất thấp, giá thành sản phẩm chăn nuôi
cao thường là mâu thuẫn với chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn do đó đang là
thách thức của nhân loại trong mở rộng quy mô và phổ cập chăn nuôi hữu cơ.
* Xu hướng của thị trường sản phẩm chăn nuôi
Theo tổ chức nông lương thế giới FAO, nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi
như thịt, trứng, sữa của toàn cầu tăng lên hàng năm do dân số tăng và thu
(Euro/100kg)
Chi phí
lao
động/kg
thịt lợn
( Euro)
Gía bán sỷ thịt
lợn ( Euro/kg)
1 Hà Lan 22,5 1,999 19 0,14 1,14
2 Mỹ 20,8 1,802 13 0,14 1,15
3 Canada 20,0 1,736 14 0,13 1,14
4 Braxin 18,6 1,490 17 0,03 0,99
5 Ba Lan 18,1 1,432 19 0,04 1,15
6 Trung Quốc 20,3 1,397 23 0,06 1,35
7 Việt Nam
(*)
17,6 1,423 20 - -
(Theo Pig progress số 7/2004)
(*) Việt Nam chỉ tính lợn ngoại
Chăn nuôi trên thế giới đang từng bước chuyển dịch từ các nước đã
phát triển sang các nước đang phát triển. Các nước đã phát triển xây dựng kế
hoạch chiến lược phát triển ngành chăn nuôi duy trì ở mức độ ổn định, nâng
cao quá trình thâm canh, các biện pháp an toàn sinh học, chất lượng và vệ
sinh an toàn thực phẩm. Các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Nam
Mỹ được nhận định sẽ trở thành khu vực chăn nuôi chính và cũng đồng thời
là khu vực tiêu thụ nhiều các sản phẩm chăn nuôi.
Tổ chức FAO (Sere và Steinfeld, 1996) đã xác định có 3 hệ thống chăn
nuôi chính: hệ thống công nghiệp, hệ thống hỗn hợp và các hệ thống chăn thả.
9
Hệ thống chăn nuôi công nghiệp là những hệ thống các vật nuôi được
Vĩnh Phúc 260,00 271,00 399,00 679,00
Hưng Yên 1236,00 1358,00 1381,00 1384,00
Thái Bình 2348,00 2351,00 2480,00 2388,00
Nam Định 300,00 304,00 543,00 644,00
Hải Dương 262,00 385,00 248,00 685,00
Bắc Giang 318,00 529,00 348,00 659,00
Bắc Ninh 1350,00 1319,00 1274,00 1339,00
Cả nước 16757,00 17635,00 20809,00 23558,00
(Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2011)
Trong khi diện tích giành cho sản xuất nông nghiệp ngày càng giảm, do
phải giành đất để phát triển đô thị, công nghiệp, giao thông và các công trình
dịch vụ khác thì phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung hóa, nâng cao quy
mô và xu thế tất yếu nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt, trứng, sữa
để cung cấp cho xuất khẩu. Tính sơ bộ đến đầu năm 2009, tổng đàn vật nuôi
của nước ta có khoảng 37.542 triệu gia súc và 247.32 triệu gia cầm (Tổng cục
Thống kê, 2009), phân bố chủ yếu theo ba khu vực chính: các doanh nghiệp
hay trung tâm chăn nuôi tập trung của nhà nước, trang trại hay doanh nghiệp
11
chăn nuôi thương phẩm quy mô vừa và lớn và hộ chăn nuôi gua đình quy mô
nhỏ.
Bảng 3 : Quy mô chăn nuôi lợn của một số trang trại ở Việt Nam
(Đơn vị: con)
Loại lợn Hưng Yên Hải Dương Bắc Ninh
Lợn nái
Đực giống
Lợn thịt
Lợn con theo mẹ
15 – 35
0 – 2
67 – 183
tăng cường nên không xảy ra dịch bệnh trên diện rộng như năm 2008. Sản
xuất thức ăn chăn nuôi tăng kết hợp với sự tăng giá của sản phẩm chăn nuôi
vào các tháng đầu năm đã khuyến khích người dân mở rộng đầu tư nhất là
quy mô trang trại sản xuất hàng hoá.
Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hàng năm
( Đơn vị: %)
Năm
Ngành
1986-1990 1990-1996 1997-2005 1986-2005
2006-
2010
Nông nghiệp
khác
3,4 6,0 5,5 5,2 4,1
Trồng trọt 3,4 6,1 5,4 5,2 5,5
Chăn nuôi 3,4 5,8 6,7 5,6 8,5
Dịch vụ 4,1 4,6 2,3 3,6 4,2
(Nguồn: tctk- viện kinh tế nông nghiệp việt nam-2009)
Tuy nhiêm xu thế không được duy trì cả năm. Xu thế giảm giá trong nửa
cuối của năm 2009 đã phần nào giảm sức sản xuất của năm. Ngoài ra, những
thông tin về an toàn vệ sinh thực phẩm đã tác động không nhỏ đến lợi ích của
người chăn nuôi. Việc chưa chủ động, điều tiết giá cả thức ăn chăn nuôi; Việc
nhập lậu gia súc gia cầm vẫn là những yếu tố tác động tiêu cực ngành sản
13
xuất chăn nuôi không chi đến nhu cầu sản phẩm mà cả đến công tác kiểm soát
dịch bệnh.
- Chăn nuôi trâu, bò
Tại thời điểm 1/10/2009, đàn trâu đạt 2886,6 nghìn con, giảm 0.38%; đàn bò
đạt 6103,3 nghìn con giảm 3,7% so với năm 2008. đàn trâu bò giảm ở hầu hết
các vùng do. (1) Số lượng trâu bò cày kéo tiếp tục giảm nhiều do nhu cầu sử
khoa học công nghệ vào sản xuất. Tuy nhiên, năm 2010 cũng là năm ngành
chăn nuôi phải đối mặt với không ít khó khăn bởi dịch bệnh tai xanh ở lợn
(PRRS) và cúm gia cầm (H5N1) tiếp tục bùng phát trên diện rộng, gây thiệt
hại đáng kể. Đặc biệt, hai trận mưa lũ liên tục tại Bắc Trung bộ đã gây thiệt
hại cho người chăn nuôi trên 200 tỷ đồng. Mô hình chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ,
phân tán; giá nguyên liệu thức ăn phụ thuộc vào nhập khẩu vẫn là những
nguyên nhân khiến hiệu quả chăn nuôi thấp, giá thành chăn nuôi bị đội lên
nhiều lần. Các dịch bệnh nguy hiểm trên đàn gia súc, gia cầm chưa kiểm soát
được, chứa đựng nguy cơ tái bùng phát dịch bệnh cao, gây tâm lý bất ổn cho
cả người chăn nuôi và người tiêu dùng. Trong khi đó, ở tầm vĩ mô, những
15
chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại, công nghiệp, bảo
đảm vệ sinh an toàn thực phẩm của ngành vẫn còn thiếu và bất cập. Vốn nhà
nước đầu tư cho chăn nuôi hằng năm rất thấp, chưa xem là ngành chính trong
phát triển nông nghiệp. Đây là những khó khăn, bất cập khiến cho ngành chăn
nuôi năm tới khó đạt 30 triệu con lợn với tổng sản lượng thịt hơi hơn 3,3 triệu
tấn/năm; trên 337 triệu con gia cầm với hơn 600 ngàn tấn thịt…
Là một trong những địa phương có tổng đàn chăn nuôi lớn vào bậc
nhất cả nước nhưng theo Sở NN&PTNT Hà Nội, hiện nay tổng đàn lợn trên
địa bàn thành phố là 1,7 triệu con, đàn bò 215.000 con, đàn trâu 28.000 con,
đàn gia cầm 16 triệu con. Bên cạnh số ít trang trại chăn nuôi tập trung với quy
mô lớn, còn hơn 80% vẫn chăn nuôi nhỏ lẻ tại gia đình, trong khu dân cư. Do
quy mô nhỏ, khó áp dụng khoa học kỹ thuật, khó xử lý ô nhiễm môi trường,
năm qua trên địa bàn thành phố vẫn xảy ra dịch bệnh ở các hộ chăn nuôi nhỏ
lẻ.
+ Năm 2011
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho biết, tình
hình chăn nuôi trên cả nước đang đi vào ổn định sau thiên tai và dịch bệnh.
Xu hướng chăn nuôi quy mô lớn đang được quan tâm, chăn nuôi nông hộ
giảm dần. Hiện ngành nông nghiệp đang chỉ đạo việc quy hoạch phát triển
hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và thức ăn chăn nuôi thành phẩm lưu
hành trên thị
trường không ổn định. Đa số giá các nguyên liệu tăng, như ngô, sắn, thức ăn
hỗn hợp cho gia súc. Để tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, Bộ NN&PTNT yêu
cầu các đơn vị trong ngành và các địa phương tập trung phòng chống dịch
bệnh trên gia súc, gia cầm; tăng cường công tác tập huấn cho người chăn nuôi
về kỹ thuật và vệ sinh thú y. Đặc biệt, các địa phương cần đầu tư phát triển
sản xuất nguyên liệu thức ăn chănnuôi trong nước, khuyến khích việc áp dụng
công nghệ sinh học trong chế biến các nguồn phụ phẩm để làm thức ăn cho
gia súc. Cùng với đó, Bộ cũng đã chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện
công tác phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch, kiểm soát giết mổ và vệ sinh an
toàn thực phẩm; đề xuất Chính phủ cấp kinh phí, nhập khẩu vắc - xin, xuất dự
trữ quốc gia các loại vắc - xin và hóa chất khử trùng để hỗ trợ cho các địa
phương phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo ổn định chăn nuôi.Ngành chăn
nuôi đã đặt mục tiêu trong năm 2011, tốc độ tăng trưởng đạt 7,5 – 8% so với
năm 2010, đưa tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 30 – 32%. Trong đó,
tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt gần 4,3 triệu tấn, tăng 6,5%; sản lượng
trứng hơn 6,5 tỷ quả, tăng 9,5%; sản lượng sữa 330 ngàn tấn, tăng 10%; sản
lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp quy đổi đạt 12 triệu tấn, tăng 11,1%.
Cùng với việc tăng nhanh đàn gia súc gia cầm, hàng ngày một lượng lớn các
chất thải chăn nuôi được sản sinh ra. Có bao nhiêu nước thải được thu gom và
quản lý, tái sử dụng ha xử lý, bao nhiêu không quản lý được, đổ vào môi
trường? Ô nhiễm môi trường do nước thải, chất thải rắn và khí thải sản sinh
từ chất thải chăn nuôi gia súc, gia cầm đã và đang trở thành một vấn đề quan
tâm của các cơ quan quản lý môi trường.
2.2 Hiện trạng môi trường trong chăn nuôi
18
2.2.1 Hiện trạng môi trường chăn nuôi trên Thế giới
Theo số liệu công bố của FAO, hiện nay trên thế giới có khoảng 2,5 tỷ lợn và
trâu bò. Chỉ riêng số gia súc này có thể sản sinh ra khoảng 85 triệu tấn khối
4
,
-
CO
2
, NH
3
, gây nhiều hậu quả xấu cho sản xuất, sinh hoạt và biến đổi khí
hậu toàn cầu. Các khí oxyt carbon (CO
2
), metan, (CH
4
) và oxyt nito (NO
2
) là
3 loại khí hàng đầu trong các loại khí có tác dụng gây hiệu ứng nhà kính và
tăng nhiệt độ trái đất. Trong đó metan và oxyt nito là hai khí chủ yếu tạo ra từ
19
hoạt động chăn nuôi và sử dụng phân bón hữu cơ. Tác dụng gây hiệu ứng nhà
kính của chúng tương ứng gấp 25 và 296 lần so với khí CO
2
là loại khí thải
sinh ra chủ yếu từ việc đốt các nhiên liệu hóa thạch.
Trong thế giới hiện đại, cùng với sự phát triển nhanh chóng các nền kinh tế,
mức sống con người đã và đang được nâng cao đáng kể. Nhu cầu của con
người đối với các thực phẩm có nguồn gốc động vật như thịt, trứng, sữa đòi
hỏi ngày càng cao, tỷ lệ thuận với trình độ kinh tế của mỗi nước. Theo nghiên
cứu trên thế giới, tỷ lệ sử dụng các thực phẩm động vật tăng cao cùng với
mức độ phát triển, tỷ lệ thuận với tốc độ công nghiệp hóa của một quốc gia,
Theo số liệu thống kê trên 122 nước của Tổ chức Nông Lương Thế giới
biện pháp chủ yếu sau đây: (1) chất thải vật nuôi thải trực tiếp ra kênh mương
và trực tiếp xuống ao, hồ; (2) chất thải được ủ làm phân bón cho cây trồng;
(3) là chất thải chăn nuôi được xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas).
Bên cạnh đó còn có một số phương pháp khác, nhưng chưa được nhân rộng
như xử lý chất thải bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗi nước, bèo lục bình ),
xử lý bằng hồ sinh học.
Theo kết quả thống kê năm 2010, cả nước có khoảng 8.500.000 hộ có
chuồng trại chăn nuôi quy mô hộ gia đình; khoảng 18.000 trang trại chăn nuôi
tập trung. Các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn phần lớn có hệ thống
xử lý chất thải với các loại công nghệ khác nhau, nhưng hiệu quả xử lý chưa
triệt để. Chăn nuôi hộ gia đình mới có khoảng 70% tương ứng với khoảng
5.950.000 hộ có chuồng trại chăn nuôi, trong đó mới có khoảng 8,7% hộ chăn
nuôi có công trình khí sinh học (hầm Biogas). Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng
trại chăn nuôi hợp vệ sinh cũng chỉ chiếm khoảng 10%. Còn khoảng 23% số
21
hộ chăn nuôi không xử lý chất thải vật nuôi và chỉ có 0,6% số hộ có cam kết
bảo vệ môi trường. Số trang trại chăn nuôi có hệ thống xử lý chất thải bằng
biogas khoảng 67%. Trong đó chỉ có khoảng 2,8% có đánh giá tác động môi
trường.
Bảng 5: Thực trạng quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi
Quy mô,
phương thức
chăn nuôi
Trang trại Nông hộ CN đa con Thâm canh Bán thâm canh Thời vụ
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
11.626 31,5 4.009.883 68,3 623.883 85,4 279.602 55,3 797.915 87,5 811.468 59,3
Không xử lý 602 1,6 1.357.292 23,1 91.705 12,6 191.888 37,2 92.034 10,1 495.109 36,2
(Nguồn: Báo cáo công tác BVMT trong chăn nuôi năm 2009)
Theo Viện Chăn nuôi Việt Nam, năm 2011 đã khép lại chuỗi dài khó khăn
đối với ngành chăn nuôi và người chăn nuôi Việt Nam. Rét đậm rét hại kéo
dài, dịch bệnh trên khắp 3 miền khiến hàng triệu gia súc, gia cầm bị chết hoặc
phải thiêu hủy. Ngay khi dịch bệnh tạm thời lắng xuống thì người chăn nuôi
lại phải đối mặt với tình trạng tăng giá thức ăn, thiếu giống vật nuôi, khiến
việc tái đàn càng khó khăn gấp bội. Tuy nhiên, những gì đạt được của chăn
nuôi Việt Nam trong năm 2011 vừa qua vẫn có thể xem là vượt ngoài sự
mong đợi.
22
Rét đậm rét hại làm hàng nghìn gia súc gia cầm chết cóng. Dịch bệnh lây
lan nhanh khắp nước. Hàng triệu con gia súc, gia cầm đã chết hoặc buộc phải
thiêu hủy. Hàng trăm ngàn hộ chăn nuôi điêu đứng, trắng tay.Đó là những
khó khăn chung của hầu hết người chăn nuôi các tỉnh phía Bắc và miền
Trung, Tây Nguyên hồi đầu năm ngoái.Nhưng, chỉ sau vài tháng vào cuộc
quyết liệt, với nhiều giải pháp được triển khai, số trâu bò chết rét giảm nhanh,
dịch bệnh được khống chế. Đến giữa năm 2011, chăn nuôi Việt Nam đã từng
bước phục hồi.
Ông Hoàng Kim Giao, Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ NN & PTNT cho
biết: “Nếu như chúng ta không có những theo dõi, giám sát ngay từ đầu thì số
trâu bò bị chết rét có khi còn nhiều hơn bởi vì năm 2008 cường độ rét không
nhiều như năm nay. Nhưng năm 2008 thì có tới 210 ngàn trâu bò chết, còn
năm nay đã giảm xuống còn 10 ngàn con.”
Kết thúc năm 2011, sản lượng và giá trị ngành chăn nuôi đều tăng hơn so
với năm 2010. Cụ thể thịt hơi các loại đạt 4,3 triệu tấn, tăng 7,7%; trứng gia
cầm đạt 6,5 tỷ quả, tăng gần 11%; sữa tươi đạt 340 ngàn tấn, tăng 11%; sản
lượng thức ăn chăn nuôi ước đạt gần 12 triệu tấn, tăng trên 11% so với năm
2010, đóng góp lớn vào việc ổn định giá thực phẩm trong nước và cho xuất
2020 đạt khoảng 5 – 6% năm.
Theo Chiến lược phát triển ngành chăn nuôi đến năm 2020 thì cần phải
xác định rõ đối tượng vật nuôi chủ yếu lợi thế; quy hoạch vùng chăn nuôi cho
từng loại vật nuôi; quy mô đầu con hợp lý của từng vùng; phương thức chăn
nuôi và các chính sách hỗ trợ. Chuyển hướng chăn nuôi từ chiều rộng sang
chiều sâu; không khuyến khích phát triển ồ ạt về số lượng đầu con mà tập
trung nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Tổ chức tuyên truyền phổ
24
biến sâu rộng trong nhân dân về phát triển chăn nuôi hiện đại, an toàn dịch
bệnh, bền vững, gắn với cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá, xây dựng nông thôn mới. Trên phạm vi toàn quốc, ưu tiên phát triển
lợn, gia cầm, riêng đối với ĐBSCL chú trọng phát triển chăn nuôi vịt, bò thịt.
Đối với các loại vật nuôi khác chỉ phát triển theo điều kiện của từng vùng
sinh thái, từng địa phương và khả năng tiêu thụ của thị trường tiêu thụ.
Chất thải chăn nuôi là nguyên nhân gây ô nhiễm lớn cho môi trường tự nhiên
do lượng lớn các khí thải và chất thải từ vật nuôi. Các khí thải từ vật nuôi
cũng chiếm tỷ trọng lớn trong các khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Bảng 6: Lượng chất thải ước tính từ chăn nuôi lợn năm 2001
( Đơn vị: tấn)
Vùng Lượng phân
Cả nước 63.574
Đồng bằng sông Hồng 14.963
Đông Bắc 13.667
Tây Bắc 2.598
Bắc Trung Bộ 9.235
Duyên hải Nam Trung Bộ 5.304
Tây Nguyên 2.833
Đông Nam Bộ 5.396
Đông bằng sông Cửu Long 9.577
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2002)