Đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Hải huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG THỊ HƯƠNG Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI GÀ
TẠI XÃ SƠN HẢI HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : KT & PTNT
Khoá học : 2010 – 2014


Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với cha
mẹ, anh, chị - những người đã nuôi dưỡng, động viên tôi trong quá trình học
tập để có được kết quả như ngày hôm nay.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Sinh viên Đặng Thị Hương
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

BNN : Bộ nông nghiệp
BNNPTNT : Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn
BTB : Bắc trung bộ
CPSX : Chi phí sản xuất
CNH- HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH : Đồng bằng sông Hồng
ĐB : Đông bắc
ĐNB : Đông nam bộ
HU : Huyện ủy
HQKT : Hiệu quả kinh tế
HTX : Hợp tác xã
KQSX : Kết quả sản xuất
KH-CN : Khoa học công nghệ
NN-PTNT : Nông nghiệp – Phát triển nông thôn
NTB : Nam trung bộ

ở nước ta 29
1.2.3. Tình hình phát triển kinh tế trang trại và trang trại chăn nuôi ở
huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai 32

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 34

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 34

2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 34

2.2. Nội dung nghiên cứu 34

2.3. Câu hỏi nghiên cứu 34

2.4. Phương pháp nghiên cứu 35

2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 35

2.4.2. Phương pháp xử lý số liệu 36

2.4.3. Phương pháp phân tích 36

2.4.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 36

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Sơn Hải, huyện


3.5. Hiệu quả về xã hội và môi trường của trang trại chăn nuôi 64

3.6. Những thành tựu, hạn chế và những thuận lợi, khó khăn của phát
triển trang trại chăn nuôi gà ở xã Sơn Hải huyện Bảo Thắng 66

3.6.1. Những thành tựu 66

3.6.2. Những hạn chế 66

Chương 4. GIẢI PHÁP 68

4.1. Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại chăn nuôi 68

4.1.1. Nhóm giải pháp về đất đai 68

4.1.2. Nhóm giải pháp về đầu tư và vốn 68

4.1.3. Giải pháp về khoa học và công nghệ 69

4.1.4. Nhóm pháp về lao động và nguồn nhân lực giải 70

4.1.5. Nhóm giải pháp về thị trường tiêu thụ 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

5.1. Kết luận 72

5.2. Kiến nghị 731
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nông nghiệp Việt Nam trong những năm qua đạt những thành tựu quan
trọng, đóng góp cơ sở kinh tế ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Song, quy mô nông nghiệp trong những năm qua còn nhỏ lẻ,
manh mún, ước tính có khoảng từ 75-100 mảnh ruộng ở Việt Nam, tính trung
bình mỗi hộ có từ 7-8 mảnh. Khoảng 10% của tổng số mảnh này có diện tích
rất nhỏ 100 m2/mảnh hoặc nhỏ hơn, tính bình quân chỉ khoảng 0,2 ha/đầu
người [11]. Chất lượng nông sản chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường và
chưa chú ý đến vệ sinh an toàn thực phẩm, sức cạng tranh còn kém, số nông
dân tiếp cận và ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp
còn ít, khả năng tiếp cận vốn và thông tin thị trường còn rất hạn chế . . .
Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới năm 2006
và chính phủ Việt Nam phải thực hiện một loại các cam kết theo quy định của
WTO, trong đó có một số các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và nông sản
như giảm thuế suất nông sản nhập khẩu, bãi bỏ các khoản trợ cấp không phù
hợp quy định của tổ chức này. Điều đó đã đặt nông nghiệp Việt Nam trước
những khó khăn và thử thách rất lớn, đòi hỏi chính phủ và nông dân phải có
những nhận thức đúng đắn, đánh giá và phát huy những mô hình kinh tế có
hiệu quả trong nông nghiệp, nâng cao khả năng cạnh tranh nông sản nhằm
đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.
Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến, có hiệu
quả cao đã được hình thành từ lâu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Kinh tế trang
trại đã tạo ra cho xã hội phần lớn sản phẩm hàng hóa chứ không như các hộ
tiểu nông sản xuất tự cung tự cấp. Loại hình này cũng đã và đang hình thành ở
nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong những năm gần đây, là hình thức tổ

Xác định những thuận lợi, khó khăn của hộ chăn nuôi trang trại gà để
từ đó đề xuất giải pháp khắc phục. 3
2.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
+ Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Sơn Hải huyện
Bảo thắng tỉnh Lào Cai
+ Tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi gà tại xã Sơn Hải
+ Tìm hiểu những thuận lợi khó khăn của trang trại chăn nuôi gà
+ Phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại chăn nuôi ở xã đồng
thời phát hiện các tiềm năng chưa được khai thác để nâng cao hiệu quả kinh tế
trang trai chăn nuôi của xã trong những năm tới.
+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả trong quá
trình chăn nuôi trang trai gà trong năm tiếp theo.
3. Ý nghĩa của đề tài
3.1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Nhiên cứu đề tài giúp sinh viên củng cố những kiến thức cơ bản và
kiến thức đào tào chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trong nhà
trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp xúc với những
kiến thức ngoài thực tế.
- Nghiên cứu đề tài làm cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những
kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được
những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với thực tế công việc sau này.
- Nghiên cứu đề tài nhằm phát huy cao tính tự giác, chủ động học tập
nghiên cứu của sinh viên. Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi sáng tạo và khả
năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp phân tích, đánh giá tình hình định
hướng ý tưởng trong điều kiện thực tế.
- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội thực tế vận dụng
kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và là bàn đạp cho việc

Về mặt giải phẫu học: Gà là một loại gia cầm (có lông vũ) với đặc điểm
là bộ máy tiêu hoá không răng, hệ thống bài tiết không có đường tiểu tiện
riêng, ở dưới gia không có tuyến mồ hôi.
Về hoạt động sinh lý: Gà chịu nóng kém (do sự thoát hơi nước để điều
chỉnh nhiệt của cơ thể kém), có thân nhiệt cao hơn các hoạt động vật có vú
0,5-10C. Dân ta thường ví “nóng như da gà” là vì vậy.
Tuy không có răng nhưng gà có một dạ dày cơ (mề) rất khoẻ đủ để
nghiền bóp mọi loại thức ăn thông thường, ngoài ra hệ thống men tiêu hóa lại
rất lớn. Điều này được thể hiện ở việc gà ăn rất khoẻ.
Từ những đặc điểm trên, gà có một tiềm năng sinh vật rất lớn (đẻ nhiều,
lớn nhanh), và do vậy, con gà có những thế mạnh và điểm yếu qua cách nhìn
của người chăn nuôi như sau:
Điểm mạnh: Là hiệu xuất chuyển hoá thức ăn thành sản phẩm ở gà rất:
một gà mái có thể sinh ra một lượng sản phẩm (trứng) nặng gấp 8 lần cơ thể
của nó trong vòng 12 tháng (trong khi muốn đạt được điều này lợn lái cần 40
năm, bò cái cần 80 năm); một gà thịt đạt khối lượng cơ thể gấp 50 lần khối
lượng sơ sinh chỉ sau 8 tuần lễ (con số này ở lợn là 20 lần trong 26 tuần, ở bò
là 6-7 lần trong 52 tuần…). Như vậy tiền năng về sức sản xuất ở gà là rất lớn.
Điểm yếu: Cần chú ý đến 2 điều: Một là: Vì không có tuyến mồ hôi, lớp
mỡ dày (nhất là gà giống thịt) thân nhiệt cao nên gà chỉ thích hợp với những nơi,
những lúc có nhiệt độ thấp, gà chịu rét tốt nhưng chịu nóng rất kém. Hai là: Do
cường độ trao đổi vật chất rất cao nên gà rất mẫn cản với các bệnh về dinh 6
dưỡng và thời tiết, khí hậu, đặc biệt với các giống gà cao sản: Điều thường gặp
nhất là các bệnh do thiếu vitamin và khoáng(vi lượng) trong thức ăn.
Cần thấy hết tính nghiêm trọng của việc này vì tính thường xuyên của
nó. Thường xuyên đến mức khó phát hiện và dễ “bỏ qua”, chỉ đến khi quá
nặng, hoặc sau một chu kỳ sản xuất, “tổng kết” lại mới nhận ra được, lúc đó sự

+ Từ khi bóc trứng cho đến lúc đẻ ra được quả trứng đầu tiên là được
19 tuần tuổi (đẻ đều là 20 tuần tuổi) tương đương với 140 ngày.
+ Thời gian khai thác trứng là 11 – 12 tháng
+ Chỉ số tiêu tốn thức ăn(ECR): Trong thời gian hậu bị là 17 tuần tuổi
cho đến hết thời gian hậu bị (tức từ khi nở ra đến lúc chuẩn bị đẻ quả trứng đầu
tiên) 1 con ăn hết 6 kg thức ăn (thức ăn ăn không hạn chế). Từ 17 tuần tuổi (bắt
đầu lên lồng) ăn theo định mức ăn 115g – 118g trong 1 ngày/1 con gà.
+ Tỷ lệ đẻ: Hậu bị tốt, chăm sóc đúng kỹ thuật (chế độ ánh sáng, gà 5
tuần tuổi là rất mẫn cảm với ánh sáng nếu để ánh sáng quá thì gà không đẻ
được vì vậy phải làm đúng kỹ thuật này) là 97% - 75%.
 Quy trình nuôi gà
- Bước 1: Sát trùng, quét dọn chuồng trại trước khi bắt đầu nuôi gà là
bước quan trọng nhất
Quét nền, sát trùng bằng NAOH nhằm diệt bệnh ký sinh trùng (cầu
trùng) ở gà là một loại vi khuẩn vào trong ruột cắn đứt ruột làm chết con gà.
Và khi gà bị nhiễm loại ký sinh trùng này thì sẽ không có một loại thuốc nào
để chữa được vì vậy phòng bệnh là tốt nhất.
- Bước 2: Chọn con giống
Chọn con giống phải có lý lịch rõ ràng, đã được tiêm phòng các loại
bệnh, có phiếu kiểm nghiệm (xét nghiệm về máu). Con giống trong 7 ngày
đầu phải quây ấm cẩn thận (nhiệt độ là 30-35oC).
- Bước 3: Chăm sóc, luôn tuân thủ các bước đúng kỹ thuật để đạt hiệu
quả co trong chăn nuôi.
- Bước 4: Phòng bệnh cho gà 8
Các bệnh cần chống cho gà là: Bệnh gà rù, bệnh hen xuyễn. Dưới đây
là bảng lịch dùng thuốc thú y cho gà tại trang trại điều tra.
Ngày tuổi Loại thuốc Phòng bệnh

muộn hơn 3 ngày so với lịch trên tùy thuộc vào tình hình sức khẻo đàn gà và
tình hình thực tế của trang trại. 9
1.1.2 Trang trại, kinh tế trang trại và kinh tế trang trại chăn nuôi
1.1.2.1. Khái niệm
Trong những năm gần đây ở nước ta có rất nhiều cơ quan nghiên cứu
như cơ quan quản lý Nhà nước và nhiều nhà khoa học, nhà quản lý đã quan
tâm nghiên cứu về kinh tế trang trại. Một trong những vấn đề được đề cập
nhiều là khái niệm kinh tế trang trại. Về thực chất trang trại và kinh tế trang
trại là hai khái niệm khác nhau, không đồng nhất với nhau, có rất nhiều quan
điểm khác nhau về kinh tế trang trại như :
Xuất phát từ quan điểm của LêNin ”Ấp trại tuy vẫn là nhỏ nếu tính theo
diện tích, nhưng lại hoá thành ấp trại lớn nếu xét về quy mô sản xuất”. Ở đây
ta có thể hiểu khái niệm trang trại thể hiện quy mô tính theo diện tích nhưng
cũng có thể đó là quy mô sản xuất thể hiện bằng thu nhập [1].
Theo GS.TS Nguyễn Đình Hương” Trang trại là một loại hình tổ chức
sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷ sản có mục đích chính là sản xuất hàng
hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ
độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất
tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ luôn gắn với thị trường” [8].
Còn theo Th.s Nguyễn Phượng Vỹ ” Trang trại là một hình thức tổ
chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp, phổ biến được hình thành trên cơ
sở kinh tế nông hộ nhưng mang tính sản xuất hàng hoá” [8].
Theo Nghị Quyết TW số 06/NQ – TW ngày 10/11/1998, đã xác định:
“ trang trại gia đình thực chất là kinh tế hộ sản xuất hang hoá với quy mô
lớn hơn, sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất, kinh
doanh có hiệu quả” [11].
Cũng như khái niệm về trang trại, trong thời gian qua cũng có nhiều

- Trang trại tự chủ hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh 11
- Chủ trang trại là người có trình độ, năng lực tổ chức quản lí, có kinh
nghiệm và kiến thức nhất định về sản xuất, kinh doanh.
- Phần lớn các trang trại đều có thuê mướn lao động.
- Các chủ trang trại đều có thu nhập vượt trội so với mức bình quân của
nông dân trong vùng.
1.1.2.2. Phân loại trang trại ở Việt Nam
Cũng như các nước trên thế giới, trang trại nông, lâm, ngư nghiệp của
nước ta bao gồm nhiều loại khác nhau. Việc phân loại trang trại rất quan trọng
trong việc nghiên cứu, phân tích và đưa ra giải pháp phù hợp với từng loại
hình. Theo thông tư 69/200- TTLT/BNN- TCTK thì trang trại được phân theo
các hình thức sau:
Theo thu nhập: các trang trại được phân loại theo thu nhập, theo hai
hướng chính là trang trại sản xuất và trang trại kinh doanh. Trong đó trang trại
sản xuất thu nhập từ sản xuất là chính, trang trại kinh doanh thu nhập chủ yếu
từ hoạt động kinh doanh [4].
Theo quy mô đất đai gồm: trang trại nhỏ từ 2- 5 ha. Trang trại vừa từ 5-
10 ha. Trang trại có quy mô lớn từ 10-30 ha trang trại có quy mô lớn vượt quá
hạn điền lớn hơn 30 ha [4].
Theo cơ cấu sản xuất có các loại trang trại như sau:
Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp: là trang trại kết hợp của các
hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh khác nhau mang tính tổng hợp. sản
phẩm làm ra số lượng một loại không lớn nhưng đa dạng về chủng loại.
Trang trại chuyên môn hóa: là trang trại chỉ tạo ra một hoặc hai sản
phẩm chính như trang trại chuyên chăn nuôi lợn, chuyên chăn nuôi gia cầm,
trồng cây ăn quả [4].
Phân loại theo hình thức quản lý:

chế thuốc, sản xuất bột máu, bột xương dùng trong chăn nuôi [12]. 13
Ngày nay trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nông
nghiệp các nước. Loại hình trang trại gia đình ở các nước phát triển có vai trò
to lớn và quyết định trong sản xuất nông nghiệp, đại bộ phận nông sản phẩm
cung cấp cho xã hội được sản xuất ra trong các trang trại gia đình. Kinh tế
trang trại ở nước ta cũng có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp đất
nước. Mặc dù mới phát triển trong những năm gần đây, song vai trò của nó đã
thể hiện rõ nét cả về kinh tế, xã hội và môi trường.
Về mặt kinh tế các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát
triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hóa cao, khắc phục dần tình
trạng sản xuất phân tán, manh mún và thâm canh cao.
Mặt khác qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trang trại góp phần
thúc đẩy phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ
sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở
những nơi có điều kiện bao giờ cũng đi liền với việc khai thác, sử dụng một
cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp, nông thôn so với
kinh tế nông hộ. Do vậy phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy sự tăng
trưởng và phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Về mặt xã hội, phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm
tăng số hộ giàu trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thêm thu nhập cho
lao động. Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn phát triển kết cấu hạ tầng
trong nông thôn, tạo tấm gương cho các hộ nông dân về cách tổ chức quản lý
sản xuất kinh doanh. Phát triển kinh tế trang trại góp phần giải quyết các ván
đề xã hội và đổi mới bộ mặt nông thôn nước ta.
Về mặt môi trường, do sản xuất kinh doanh tự chủ, vì lợi ích thiết thực,
lâu dài của mình mà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan
tâm bảo vệ các yếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh

nhưng chủ yếu là thuê mướn lao động làm thường xuyên quanh năm hoặc làm 15
theo thời vụ với số lượng nhiều ít khác nhau theo quy mô của trang trại. Số
lượng lao động làm thuê bao giờ cũng lớn hơn số lượng lao động tự có của
gia đình trang trại.
Các chủ trang trại là người có ý chí làm giàu, có phương pháp và nghệ
thuật làm giàu cũng như có nhưng điều kiện nhất định để tạo lập trang trại
1.1.2.5. Tiêu chí xác định kinh tế trang trại
A. Tiêu chí cũ (Trước năm 2011)[4]
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được
xác định là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng sau đây:
+ Giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:
- Ðối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Ðối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
+ Qui mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông
hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.
a. Ðối với trang trại trồng trọt
i. Trang trại trồng cây hàng năm
Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
ii. Trang trại trồng cây lâu năm
- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung
- Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
- Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên
iii. Trang trại lâm nghiệp
- Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
b. Ðối với trang trại chăn nuôi
i. Chăn nuôi đại gia súc: trâu, bò, vv

3. Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu phải có
diện tích tối thiểu 31ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu
đồng/ năm trở lên. 17
1.1.2.6. Điều kiện cơ bản để phát triển trang trại và kinh doanh có hiệu quả
+ Về ruộng đất và quy mô ruộng đất: Tư liệu sản xuất chủ yếu và điều
kiện cơ bản để thành lập và phát triển trang trại chính là ruộng đất. nếu không
có ruộng đất thì không thể tiến hành sản xuất ra nông sản và nông sản hàng
hóa. Tuy nhiên, để thành lập một trang trại theo đúng nghĩa của nó thì quy mô
ruộng đất phải phù hợp với yêu cầu tổ chức kinh tế và tổ chức kỹ thuật của
từng trang trại nhất định mới đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả.
Điều kiện ruộng đất nông nghiệp của nước ta không lớn. Mức ruộng đất
sử dụng bình quân là thấp, khoảng 0,59 ha/hộ và phân bố không đều. Những
nơi có bình quân ruộng đất cao hơn (trong đó ở trung du và miền núi còn có
nhiều đồi gò, đất lâm nghiệp) và những nơi có truyền thống sản xuất hàng hóa
(chẳng hạn như ĐBSCL) có số diện tích đất canh tác bình quân một nông hộ
cao hơn khoảng 0,94 ha/hộ thì nhịp độ phát triển kinh tế trang trại sẽ nhanh
hơn. Ngược lại ở ĐBSH chỉ có khoảng 0,3 ha/hộ thì chậm hơn rất nhiều.
Nói chung, ở nước ta tùy thuộc vào phương hướng kinh doanh mà có
thể hình thành quy mô điện tích trang trại. Hiện nay, diện tích của các trang
trại từ trên dưới 5 ha canh tác có thể lên đến trên dưới 30, 40, 50 ha hay hàng
trăm ha ở nơi có thể là trang trại hợp tác của hai hay một nhóm ông chủ.
+ Về kỹ thuật: có khả năng trang bị và áp dụng những kỹ thuật mới từ ít
đến nhiều, từ thấp đến cao.
+ Những điều kiện cơ bản để trang trại kinh doanh có hiệu quả:
Nhà nước cần có hệ thống chính sách đúng đắn, đồng bộ và ổn
định.Người chủ trang trại phải có ý đồ kinh doanh (sản xuất cái gì? Sản xuất
cho ai? Sản xuất như thế nào? Lợi ích ra sao?) và phải có năng lực tổ chức sản

Theo quan niệm của LN CARIMÔP – Kinh tế chính trị Mác Lê Nin,
cho rằng: “Hiệu quả của sản xuất xã hội được tính toán và kế hoạch hoá trên

Trích đoạn Tình hình phát triển kinh tế trang trại và trang trại chăn nuôi ở Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế Tình hình về chủ các trang trại Tình hình đất đai của các trang trại Tình hình sử dụng lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status