i
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
MễNG TH XUYN Tờn ti:
ĐáNH GIá HIệU QUả KINH Tế CÂY Đỗ TƯƠNG
TRÊN ĐịA BàN X LƯU NGọC, HUYệN TRà LĩNH
TỉNH CAO BằNG
KHểA LUN TT NGHIP I HC H o to : Chớnh quy
Chuyờn nghnh : Kinh t nụng nghip
Lp : K42 KTNN N02
Khoa : Kinh t v PTNT
Khúa hc : 2010 2014
Ging viờn hng dn: ThS. Lu Th Thựy Linh iii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt
nghiệp tôi đã được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân.
Nhân đây xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Tập thể thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế & PTNT trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn Th.S. Lưu Thị Thùy Linh đã tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn
thành đề tài tốt nghiệp.
Chi cục Thống kê huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng và UBND xã Lưu
Ngọc đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực tập để hoàn
thành đề tài này
Bà con trong các xóm được chọn làm địa bàn nghiên cứu, đã giúp đỡ tôi
trong quá trình thu thập thông tin nghiên cứu để hoàn thành đề tài này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã chia sẻ và
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành đề tài tốt
nghiệp của mình.
năm 2013 54
Bảng 3.9: Kết quả và hiệu quả sản xuất của 1 ha trồng cây đỗ tương. 56
Bảng 3.10: Chi phí sản xuất bình quân cho 1 ha lạc của các nông hộ điều tra năm
2013 57
Bảng 3.12. kết quả, hiệu quả sản xuất của cây đỗ tương và cây lạc 59 v
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Chi phí, doanh thu và lợi nhuận của cây đỗ tương và cây lạc. 60
Hình 3.2: Sơ đồ tiêu thụ đỗ tương của các hộ điều tra. 61
Hình 3.3: Những khó khăn của hộ sản xuất đỗ tương. 62 vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt Nghĩa
1 ĐVT Đơn vị tính
2 FAO
Food and Agriculture Organization of the
United Nations (tổ chức lương thực thế giới)
3 GO Tổng giá trị sản xuất
4 GO/ha Tổng giá trị sản xuất/ha
5 GO/IC Tổng giá trị sản xuất/chi phí trung gian
6 GO/LĐ Tổng giá trị sản xuất/lao động
7 LĐ Lao động
8 MI Kết quả cuối cùng
9 Pr/LĐ Lợi nhuận/lao động
1.2.3. Tình hình sản xuất đỗ tương tại huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng 25
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu 28
2.2. Câu hỏi nghiên cứu 28
2.3. Phương pháp nghiên cứu 29
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin 29
2.3.2. Phương pháp so sánh 30
2.3.3. Phương pháp phân tích thông tin 30
2.4. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 31
2.4.1. Chỉ tiêu tính toán kết quả, hiệu quả 31
2.4.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 35 viii
3.1.1. Điều kiên tự nhiên 35
3.1.2. Điều kiên tự nhiên kinh tế - xã hội 40
3.1.3. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất nông nghiệp ở xã
Lưu Ngọc 48
3.2. Thực trạng phát triển cây đỗ tương trên địa bàn nghiên cứu 49
3.2.2. Thực trạng phát triển chung về sản xuất cây đỗ tương ở xã Lưu Ngọc 49
3.3. Thực trạng phát triển cây đỗ tương của các hộ điều tra 51
3.3.1. Nguồn nhân lực của hộ và trình độ văn hóa 51
3.3.2. Nguồn đất sản xuất của hộ 53
3.3.3. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các hộ sản xuất đỗ tương 54
3.4. Một số khó khăn và nguyện vọng hỗ trợ sản xuất đỗ tương của hộ nông dân 62
3.5. Đánh giá những thuận lợi,khó khăn trong phát triển cây đỗ tương tại địa
tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất.
Xã Lưu Ngọc là một xã vùng cao của huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng đời
sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, người dân sống chủ yếu dựa vào sản
xuất nông nghiệp. Đặc biệt là vùng có diều kiện tự nhiên phù hợp với một số
cây như ngô, đỗ tương, lạc… So với những cây khác thì cây đỗ tương có giá
trị cao, góp phần xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số ở đây.
Cây đỗ tương được coi là cây trồng được coi trọng , chính quyền địa phương
đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển sản xuất cây đỗ tương nên
diện tích ngày càng tăng. Tuy nhiên việc sản xuất cây đỗ tương vẫn còn nhỏ
lẻ, người dân chỉ biết chăm sóc và thu hoạch nhưng khi mang ra thị trường thì
giá cả lại bấp bênh. Ngoài sản xuất cây đỗ tương trên địa bàn còn trồng cây
khác như ngô, khoai, lạc, … giá trị kinh tế mỗi loại cây trồng đem lại khác
nhau nên người dân phải xem xét nên đầu tư cho từng loại cây trồng phù hợp
nhất để có hiệu quả nhất. Nhìn vào kết quả sản xuất trong những năm gần đây 2
cho thấy, quy mô sản xuất cây đỗ tương có xu hướng ngày tăng còn năng suất
thì giảm chưa tương xứng với tiềm năng của vùng. Từ tình hình nói trên
chúng ta cần phải đi sâu tìm hiểu nghiên cứu, để từ đó đưa ra các giải pháp
khắc phục nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất của người dân.
Đặc biệt chính quyền địa phương cũng như người dân vẫn chưa có một
bức tranh tổng quát về hiệu quả kinh tế cây đỗ tương so với các cây trồng
khác. Xuất phát từ những thực tế trên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh
giá hiệu quả kinh tế cây đỗ tương trên địa bàn xã Lưu Ngọc, huyện Trà
Lĩnh, tỉnh Cao Bằng”.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Đánh giá được hiệu quả kinh tế của cây đỗ tương tại xã Lưu Ngọc, phân
tích các thuận lợi và khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế từ đó đề
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 4: Các giải pháp nhằm phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả kinh
tế cây đỗ tương trên địa bàn xã Lưu Ngọc, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. 4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Hiệu quả kinh tế
1.1.1.1. Các quan điểm về hiểu quả kinh tế
Trong các doanh nghiệp hoặc nền sản xuất xã hội nói chung người ta hay
nhắc tới “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không có hiệu quả” hay “sản xuất
kém hiệu quả”. Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Xuất phát từ các góc độ nghiên
cứu khác nhau, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều quan điểm về hiệu quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể khái quát như sau:
Hiệu quả theo Mác, đó là việc “tiếp kiệm phân phối một cách hợp lý thời
gian lao động sống và lao động vật hóa giữa các ngành” và đó cũng chính là
quy luật “ tiếp kiệm và tăng năng suất lao động” hay tăng hiệu quả. Mác cũng
cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người
so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Có quan điểm lại xem xét, hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa mức độ
biến động của chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó.
Theo ý kiến của một số nhà kinh tế khác thì những quan điểm nêu trên
chưa toàn diện, vì mới thấy những góc độ khía cạnh trực tiếp. Vì vậy xem xét
hiệu quả kinh tế phải đặt trong tổng thể kinh tế - xã hội, nghĩa là phải quan
tâm đến mục tiêu phát triển kinh tế xã hội như nâng cao mức sống, cải thiện
môi trường…
Vì vậy có thể hiểu hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh một cách
bao quát như sau:
Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu
hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai 6
thác các nguồn lực và tiếp kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản
xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh hiệu quả kinh tế, còn bàn về hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh
tế xã hội:
Hiệu quả xã hội phản ánh sử dụng lao động các nguồn lực nhằm đạt được các
mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường thấy là: giải quyết
công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế; giảm
số người thất nghiệp, nâng cao trình độ và đời sống văn hóa, tinh thần cho
người lao động, đảm mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng cao mức
sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các mối quan hệ
trong phân phối, đảm bảo nâng cao sức khỏe; đảm bảo vệ sinh môi trường; …
Nếu xem xét về hiệu quả xã hội, người ta xem xét mức tương quan giữa các
kết quả (mục tiêu) đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiện lao động, nâng
cao dời sống văn hóa và tinh thần, giải quyết công ăn việc làm…) và chi phí
bỏ ra để đạt được kết quả đó.
đầu vào bỏ ra và kết quả đạt được đó chính là lợi nhuận.
Một số công thức tính hiệu quả kinh tế.
-Công thức 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỉ số giữa giá trị kết
quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó:
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được/Chi phí sản xuất
Hay H = Q/C
Trong đó: H là hiệu quả
Q là kết quả thu được
C là chi phí sản xuất.
Việc tính công thức này cho phép về kết quả và chi phí sản xuất có phạm
vi rộng. 8
+ Phần tử Q có thể là kết quả và hiệu quả chung như là: Tổng giá trị hay
là giá trị gia tăng, lợi nhuận.
+ Phẫn mẫu C có thể hiểu là chi phí các yếu tố đầu vào như: Tổng chi
phí bằng tiền hay tổng vốn đầu tư trong sản xuất hay vốn đầu tư, tổng số lao
động đầu tư trong sản xuất để tạo ra sản phẩm đó.
Hiệu quả kinh tế tối ưu khi giá trị chỉ tiêu đó đạt đến cực đại.
Ý nghĩa của công thức 1 đã phản ánh rõ hiệu quả kinh tế sử dụng nguồn
lực sản xuất. Do đặc điểm cách tính của công thức này, nên ở đây có nhiều
chỉ tiêu khác nhau và có rất nhiều ý nghĩa phong phú. Do đó tùy thuộc vào
mục đích đối tượng nghiên cứu mà lựa chọn các tiêu chí tính toán đánh giá
cho phù hợp. Gồm các chỉ tiêu như: Hiệu quả sử dụng một đồng tiền vốn hay
một đồng chi phí, hay hiệu quả đơn vị sản xuất diện tích sản xuất, hiệu quả
một đơn vị lao động đầu tư.
Công thức: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng hiệu số giữa kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả kinh tế = Kết quả thu được – Chi phí sản xuất.
“ông hoàng trong các loại cây họ đậu”, sở dĩ cây đỗ tương được đánh giá như
vậy bởi lẽ cây đậu tương có giá trị rất toàn diện: Thành phần dinh dưỡng cao,
hàm lượng prôtein trung bình khoảng từ 35,5 - 40%, lipit từ 15-20%, hyđrát
các bon từ 15-16% và nhiều loại sinh tố và muối khoáng quan trọng cho sự
sống. Hàm lượng axít amin có chứa lưu huỳnh như methionin và sixtin của đỗ
tượng cao gần bằng hàm lượng các chất này có trong trứng gà, hàm lượng
cazein, đặc biệt lisin cao gần gấp rưỡi lần chất này có trong trứng. Hạt đỗ
tương có chứa hàm lượng dầu béo cao hơn các loại đậu đỗ khác nên được coi
là cây cung cấp dầu thực vật quan trọng, trong hạt đỗ tương có khá nhiều loại
vitamin, đặc biệt là hàm lượng vitamin B1 và B2, ngoài ra đậu tương còn làm
nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, cải tạo đất, làm thức ăn gia súc[1]. 10
Đỗ tương phân bố rộng, được gieo trồng ở nhiều nước trên thế giới, từ 48
vĩ độ Bắc đến 30 độ Nam. Đỗ tương có phản ứng chặt chẽ với độ dài ngày, là
cây ngắn ngày điển hình. Theo phản ứng quang chu kì đậu tương chia làm 13
nhóm chín khác nhau. Các nhóm chín sớm thích hớp với và mùa hè ngắn ở
phía nam Canada và Bắc Mỹ. Nhóm chín muộn thích hợp với ánh sáng ngắn
ngày của các vùng cận nhiệt đới xích đạo.
Ở Việt Nam đỗ tương được trồng đã lâu đời. Từ thế kỉ 13 Lê Quý Đôn đã
ghi chép lại trong sách “Vân đài loại ngứ” đỗ tương trồng ở một số tỉnh vùng
Đông Bắc, miền Bắc nước ta. Các sản phẩm chính của đố tương được nhân
dân chế biến phổ biến là: đậu phụ, chao, tương, dầu, sữa, làm bột trong một số
loại thực phẩm và kẹo, bánh…
Một số tài liệu cây đỗ tương đã được đưa vào trồng nước ta từ thời vua
Hùng và xã định rằng nhân dân ta đã trồng đỗ tương trước đỗ xanh và cây đỗ
đen. Mặc dù được trồng từ rất sớm nhưng chỉ trong vài chục năm gần đây
cây đỗ tương mới được quan tâm, phát triển và ngày nay nó được xem là một
cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
36%, linolenoic khoảng 2- 3. Dùng dầu đỗ tương thay mỡ động vật có thể
tránh được xơ mỡ động mạch.
Trong hạt đỗ tương có khá nhiều loại vitamin, đặc biệt là hàm lượng
vitamin B
1
và B
2
ngoài ra còn có các loại vitamin PP, A, E, ,K, D, C, v.v…
Đặc biệt trong hạt đỗ tương đang nảy mầm hàm lượng vitamin tăng lên nhiều,
đặc biệt là vitamin C. Phân tích thành phần sinh hóa cho thấy trong hạt đỗ
tương đang nẩy mầm, ngoài hàm lượng vitaminC cao, còn có các thành phần
khác như: vitamin PP, và nhiều chất khoáng khác như Ca, P, Fe v.v… Chính
vì thành phần dinh dưỡng cao như vậy nên đỗ tương có khả năng cung cấp
năng lượng khá cao khoảng 4700cal/kg. Hiện nay, từ hạt đỗ tương người ta đã
chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có hơn 300 loại làm 12
thực phẩm được chế biến bằng phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại
dưới dạng tươi, kho và lên men v.v … như làm giá, đậu phụ, tương, xì dầu v.v
… đến các sản phẩm cao cấp khác như cà phê đỗ tương, bánh kẹo và thịt nhân
tạo v v Đỗ tương còn là vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt
đen, có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột. Đỗ tương là thức ăn tốt
cho người bị bệnh đái đường, thấp khớp, thần kinh suy nhược và duy dinh
dưỡng [1].
- Giá trị về mặt công nghiệp
Đỗ tương là nguyên liệu của nhiều ngành công nghiệp khác nhau như:
chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, xà phòng, chất dẻo, tơ nhân tạo, chất
đốt lỏng, dầu bôi trơn trong ngành hàng không, nhưng chủ yếu đỗ tương
dùng để ép dầu. Hiện nay trên thế giới đỗ tương là cây đứng đầu về cung cấp
tốt bởi có hàm lượng N trong thân chiếm 0,05%, trong lá 0.19% .
Nhóm nhân tố ảnh hưởng về kỹ thuật
a. Giống đỗ tương
Giống là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến
năng suất và chất lượng cây trồng. trong thực tế sản xuất, sử dụng giống ngô
tốt sẽ làm cho năng suất cao hơn. Nếu giống tốt lại mang thêm các đặc tính
khác như khả năng chống chịu sâu bệnh sẽ làm giả chi phí đầu tư về bảo vệ
thực vật, khả năng chống chịu mọi khắc nghiệt của thời tiết như hạn, chịu rét
và ngập úng, sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nữa. Do vậy, để được vụ
đỗ tương bội thu việc chuẩn bị giống là yếu tố rất quan trọng trong quy trình
kỹ thuật trồng đỗ tương [1].
Ở Việt Nam, cây đỗ tương lai mới được đưa vào cơ cấu sản xuất trong
thời gian gần đây do có khả năng vượt trội của các giống này về năng suất
nên diện tích trồng cũng khá lớn. Các giống đỗ lai có mặt tích cực về khả
năng cho năng suất cao hơn so với giống đỗ tương thuần nhưng người trồng
không tự sản xuất hạt giống cho mình theo cách truyền thống như giống đỗ
tương thuần và giống đỗ tương địa phương. Một số giống đỗ tương đang
trồng phổ biến ở nước ta: Đậu tương DDT12, giống Đậu tương DT84, giống
Đậu tương DT51, giống đậu tương DT-99…
b. Một số yếu tố kĩ thuật
- Nhiệt độ
Trong quá trình sinh trưởng cây đỗ tương, nếu nhiệt độ biến động trên
hoặc dưới mức thích hợp quá nhiều, có thể gây thiệt hại đối với cây trồng.
Khả năng thiệt hại do nhiệt độ tùy thuộc vào giai đoạn sinh trưởng của cây. 14
Đỗ tương được trồng rải ở nhiều nước trên thế giới có thể trồng tới 47
o
Ánh sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng chủ yếu là qua quang
hợp và quang tạo hình.
c. Chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, quá trình bảo quả và thu hoạch 15
Cây trồng chăm sóc tốt, đúng kỹ thuật sẽ cho năng suất thu hoạch nhu
mong muốn.
- Mật độ gieo trồng
Căn cứ vào đặc tính giống: Giống chín sớm, thấp cây, phân cành ít ta có
thể gieo trồng dày hơn so với giống chín muộn, cây cao, cành nhiều ta phải
trồng thưa[4].
Căn cứ vào thời vụ: Vụ xuân và vụ đông xuân trong điều kiện nhiệt độ
thấp hay khô hạn cây sinh trưởng kém thì ta trồng dày hơn so với vụ hè và vụ
hè thu nóng ẩm.
Căn cứ vào đất đai: Đất tốt nhiều màu ta trồng thưa, đất xấu ít màu ta
trồng dày.
Căn cứ vào mức độ thâm canh: Đầy đủ phân bón, chăm sóc tốt thì trồng
thưa, trái lại ít phân bón chăm sóc kém thì trồng dày[4].
- Phân bón
Đỗ tương cần đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết để sinh trưởng,
phát triển bình thường. Nếu thiếu hoàn toàn hoặc thiếu bất cứ một yếu tố nào
đều ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cây. Để phát huy đầy đủ
tác dụng củ các loại phân bón cho đỗ tương, cần phải hiểu rõ đặc tính lý hóa
và thành phần dinh dưỡng của đất,đặc điểm tính chất của từng loại phân bón,
đặc điểm dinh dưỡng của cây đỗ tương. Đỗ tương cảm ứng với muối khoáng
hơn các loại cây trồng khác. Do đó khi bón phân cho đỗ tương không nên rắc
tập trung mà nên vãi đều trên bề mặt để không ảnh hưởng đến sự nẩy mầm
của hạt. Trong trường hợp đất nghèo dinh dưỡng hoặc lượng phân bón ít phải
bón tập trung thì nên rắc phân cách hàng 8-13cm, lấp sâu 8 -10 cm. Không
màu xanh của tất cả quả mất đi là giai đoạn chín sinh lý bắt đầu và nó xuất
hiện muộn hơn một chút gian đoạn khi một quả trên thân cây chính có màu
quả chín. Khi quả chín sinh lý hàm lượng chất khô tích lũy trong hạt lớn nhất.
thủy phần trong hạt lúc này khoảng 40 - 60%. Vì thủy phần ở gian đoạn sinh
lý còn cao, người ta không thu hoạch ở gian đoạn này. Thu hoạch bắt đầu khi
90% số quả trên cây có màu chín đặc trưng. Người ta có thể thu hoạch bằng 17
máy gặt đập liên hợp, máy kết hợp với tay hoặc đập bằng tay, tùy theo cơ sở
vật có từng nơi. Khi thu hoạch nên tiến hành vào ngày có thời tiết nắng ráo.
Đỗ tương có thủy phần 10% hoặc thấp hơn có thể bảo quản an toàn trong
4 năm, với thủy phần 12% có thể bảo quản trong 3 năm, mặc dù nảy mầm và
súc sống giảm trong thời gian này, với thủy phần 13% có thể bảo quản trong 1
năm, nhưng với 14% chỉ đản quản được mấy tháng. Thông thường hạt đỗ
tương có thủy phần cao hơn 15% thì phải phơi khô mới cất vào kho. Khi dùng
khí nóng để sấy để tránh vỏ hạt bị vỡ, độ ẩm khi dùng để sấy phải trên 40%,
nhiệt độ sấy không nên quá 43
o
C[4].
1.1.2.4. Nhóm nhân tố KT – XH
a. Dân cư lao động
Dân tộc và lao động ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp dưới 2 góc độ:
là lực lượng sản xuất và nguồn tiêu thụ các nông sản.
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động tri thức,
phương thức sản xuất, kỹ xảo, thói quen lao động của họ, trong đó người lao
động là người chủ thể, là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định nhất của xã
hội.
Trong quá trình sản xuất thì người lao động đóng vai trò rất quan trọng,
không có lao động thì không có quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất