70
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LA THỊ THÙY
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN
TẠI XÃ SƠN PHÚ, HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình
độ còn hạn chế nên đề tài của em không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất
mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, bạn bè để đề tài của em được
hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 22 tháng 05 năm 2014
Sinh viên La Thị Thùy 66
MỤC LỤC
trang
PHẦN 1:MỞ ĐẦU 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
1.2.1. Mục đích của đề tài 2
1.2.2. Yêu cầu 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
3.2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Sơn Phú 19
3.2.2. Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Sơn Phú 19
3.2.3. Đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương 20
3.3. Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, thông tin thứ cấp 20
3.3.2. Phương pháp lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm 20
3.3.3. Phương pháp tổng hợp so sánh, đối chiếu 2267
3.3.4. Phương pháp, điều tra phỏng vấn người dân 22
3.3.5. Phương pháp khảo sát thực địa 22
3.3.6. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu 22
PHẦN 4:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Sơn Phú 23
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 23
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 26
2. Tiếng anh 58
68
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng 11
Bảng 2.2. Tình trạng phát sinh chất thải rắn 14
Bảng 3.1: Lấy mẫu nước giếng tại một số hộ dân trên địa bàn xã Sơn Phú 20
Bảng 3.2: Lấy mẫu nước suối ở một số vị trí thuộc địa bàn xã Sơn Phú 21
Bảng 4.1: Thống kê hiện trạng sử dụng đất toàn xã năm 2013 24
Bảng 4.2: Tình hình dân số của xã Sơn Phú, huyện Định Hóa 27
tỉnh Thái Nguyên năm 2013 27
Bảng 4.3: Cơ cấu lao động của xã Sơn Phú năm 2013 28
Bảng 4.4: Nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho người dân trong xã Sơn Phú 33
Bảng 4.5: Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm (nước giếng) trên địa bàn xã
Sơn Phú 34
Bảng 4.6: Kết quả phân tích mẫu nước mặt (nước suối) trên địa bàn xã Sơn Phú 35
69
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Các loại cống thải hộ gia đình sử dụng 36
Hình 4.2: Các hình thức xử lý rác thải rắn của các hộ gia đình 39
Hình 4.3: Thực trạng nhà vệ sinh tại xã Sơn Phú 42
Hình 4.4: Địa điểm đặt chuồng trại và nhà vệ sinh tại các hộ gia đình 43
Hình 4.5: Các nguồn tiếp nhận nước thải từ nhà vệ sinh và chuồng trại của các hộ
gia đình 45
Hình 4.6: Những loại phân bón được các hộ gia đình sử dụng 46
Hình 4.7: Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn xã Sơn Phú 47
Hình 4.8: Hình thức xử lý bao bì thuốc BVTV trên địa bàn xã 48
Hình 4.9: Ý kiến về việc cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường 50
BTNMT
Bộ Tài nguyên & Môi trường
BXD
Bộ Xây dựng
BYT
Bộ Y tế
BVTV Bảo vệ thực vật
CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
COD Nhu cầu oxy hóa học
DO Nồng độ oxy hòa tan trong nước
NĐ-CP Nghị định-Chính phủ
FAO Tổ chức Lương thực thế giới
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
UBND Uỷ ban nhân dân
UNICEF Qũy Nhi đồng liên hợp quốc
VSMT Vệ sinh môi trường
VSV Vi sinh vật 1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
2
nông nghiệp chiếm 72% với chủ yếu là trồng lúa và trồng chè [12]. Hiện nay,
thì xã Sơn Phú đang đầu tư vào phát triển làng nghề chè truyền thống Phú
Hội. Cùng với sự phát triển đó thì môi trường trên địa bàn xã đang có dấu
hiệu suy giảm, không đảm bảo cho sự phát triển bền vững cả kinh tế và môi
trường. Trước tình hình đó đặt ra câu hỏi phải làm thế nào để đảm bảo hài hòa
giữa lợi ích kinh tế - xã hội và bền vững về môi trường?
Xuất phát từ vấn đề trên, được sự nhất trí của Ban Giám hiệu nhà
trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã
Sơn Phú, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích của đề tài
- Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Sơn Phú, huyện Định
Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Từ đó đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương.
1.2.2. Yêu cầu
- Phản ánh đúng hiện trạng môi trường tại địa phương nghiên cứu.
- Đảm bảo thu thập số liệu được phải trung thực, chính xác.
- Các giải pháp đưa ra phải có ý nghĩa thực tiễn và phù hợp với địa phương.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học trong thực tiễn.
- Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm phục vụ cho công
tác sau này.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
- Xác định được hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Sơn Phú, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho khu vực nông thôn tại xã
khía cạnh phát triển nông thôn là các vấn đề: Chất lượng cuộc sống nông
dân, dân trí và giáo dục, vệ sinh nông thôn, bệnh dịch, cơ sở hạ tầng và các
vấn đề xã hội khác.
4
Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2005 thì: Ô nhiễm môi
trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
+ Ô nhiễm môi trường nước
Theo khoản 14 điều 2 Luật Tài nguyên nước năm 2012: Ô nhiễm
nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học của nước không
phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng
xấu đến con người và sinh vật.
+ Ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm đất là sự biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi
những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và
những phương thức canh tác khác nhau và do thải bỏ không hợp lý các chất
cặn bã đặc và lỏng vào đất. Ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các
chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất [13].
Đất bị suy thoái là những loại đất do những nguyên nhân tác động nhất
định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban
đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh
trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông lâm nghiệp [13].
+ Ô nhiễm môi trường không khí
Theo TCVN 5966 -1995, sự ô nhiễm không khí được định nghĩa là: “Sự có
mặt của các chất trong khí quyển, sinh ra từ hoạt động của con người hoặc từ các
quá trình tự nhiên và nếu nồng độ đủ lớn, thời gian đủ lâu chúng xẽ ảnh hưởng
đến sự thoải mái, dễ chịu, sức khỏe và lợi ích của con người và môi trường”.
+ Ô nhiễm tiếng ồn
Tiếng ồn là âm thanh không mong muốn hay âm thanh được phát ra
phát sinh, thu gom, lưu trữ trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng
hoặc bãi chôn lấp cuối cùng.
- Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ
thuật làm giảm, loại bỏ tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích.
- Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với
các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.
2.1.2. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ vào Luật Bảo vệ Môi trường 2005 được Quốc hội nước
CHXHCN Việt Nam khóa 11 kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có
hiệu lực thi hành ngày 1/7/2006.
6
- Căn cứ vào Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc
hội nước CHXHCNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012.
- Căn cứ vào Nghị định số 80/2006 NĐ-CP ngày 9/8/2006 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Bảo
vệ Môi trường.
- Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý
chất thải rắn.
- Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT ngày 11/3/2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế
về việc ban hành Tiêu chuẩn ngành: Tiêu chuẩn vệ sinh đối với các loại nhà tiêu.
- Căn cứ Quyết định số 17/2001/QĐ-BXD ngày 07/08/2001 của Bộ
Xây dựng định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường - Công tác thu
gom vận chuyển, xử lí rác.
- Quyết định số 22/2006 QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc áp dụng TCVN về môi trường.
- Quy định số 367-BVTV/QĐ về sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật
sử dụng ở Việt Nam do Cục Bảo vệ thực vật ban hành.
- Chỉ thị số 36/2008/CT - BNN ngày 20/02/2008 của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn về tăng cường các hoạt động bảo vệ môi trường trong
không chỉ xảy ra ở thành thị mà còn ở những vùng nông thôn. Nguyên nhân gây
ô nhiễm môi trường ở thành thị chủ yếu là do lượng chất thải phát sinh lớn nên
không xử lý kịp hoặc chưa có biện pháp xử lý. Còn ở nông thôn thì chất thải
không được thu gom mà vứt bừa bãi gây mất vệ sinh chung và vấn đề sử dụng
phân bón, thuốc BVTV cũng gây ảnh hưởng rất lớn.
Theo Lê Thạc Cán (1995) [3], Trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ
XX, tình hình môi trường trên thế giới hiểu theo nghĩa rộng là bao gồm cả các nhân
tố về chất lượng môi trường và tài nguyên thiên nhiên có những đặc điểm sau:
- Tăng trưởng dân số nhanh:
Dân số thế giới đã lên tới 6,7 tỉ người, trên thế giới bình quân mỗi giây
có 3 trẻ em ra đời, mỗi ngày nhân loại sản sinh ra 30 vạn trẻ em. Với tốc độ
sinh đẻ này thì đến năm 2120 dân số thế giới sẽ vượt quá 15 tỉ người, lúc đó
mọi nơi trên thế giới đều lâm vào cảnh đất chật người đông. Dân số càng cao,
sức ép về lương thực, thực phẩm, năng lượng, môi trường, tài nguyên cũng
ngày càng lớn. Theo dự báo thì đến năm 2050 thì dân số thế giới xẽ tăng lên
9,1 tỷ người.
8
- Suy giảm tài nguyên đất:
Hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với sự gia tăng dân số và suy
giảm tài nguyên đất. Nguyên nhân gây ra sự tổn thất và suy thoái đất rất đa
dạng, trước hết phải kể đến là sự mất rừng hoặc khai thác rừng đến cạn kiệt
(gây sói mòn, làm đá ong hóa, làm mất nước, sạt lở…) đã góp tới 37%, chăn
thả quá mức 34%, hoạt động nông nghiệp 28% và hoạt động công nghiệp 1%.
- Đô thị hoá mạnh mẽ:
Quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng trên toàn Thế
giới, với tốc độ là 3% hàng năm cho toàn thế giới và 3 - 5% khu vực Châu
Á-Thái Bình Dương. Dự báo đến năm 2020, tại các nước đang phát triển trong
khu vực 50% dân số sống ở các đô thị và tại các nước phát triển tỉ lệ là 75%.
- Hình thành các siêu đô thị:
- Nhu cầu về lương thực tăng nhanh:
Do việc tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển đã làm tăng nhu
cầu về lương thực và thực phẩm, đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng về thịt và sữa.
Hiện nay nhu cầu về thực phẩm đang chuyển từ các nước phát triển sang các
nước đang phát triển. Những sự thay đổi về nhu cầu lương thực của thế giới
sẽ tạo nên sự khó khăn về sản xuất thực phẩm, gây ra những bất lợi về an ninh
lương thực và ô nhiễm môi trường.
- Sản xuất lương thực tăng chậm và bước vào thời kì suy giảm:
Báo cáo mới nhất của Tổ chức Nông lương thực thế giới (FAO) về
triển vọng mùa vụ và tình hình lương thực cho thấy, sản lượng lương thực
toàn cầu năm 2009 dự kiến sẽ giảm so với năm 2008. Nguyên nhân do thời
tiết bất lợi làm sản lượng lương thực giảm tại hầu hết các nước sản xuất lương
thực lớn trên thế giới. Tại các nước thu nhập thấp và bị thiếu hụt về lương
thực, dự đoán sản lượng lương thực năm 2009 sẽ thấp hơn năm 2008. Mặt
khác, theo FAO giá cả lương thực, thực phẩm tại một số nước phát triển vẫn ở
mức khá cao, làm giảm khả năng tiếp cận lương thực thực phẩm của nhóm
dân số thu nhập thấp. Khủng hoảng lương thực hiện vẫn đang tiếp diễn ở 32
nước trên thế giới [14].
- Gia tăng sử dụng phân bón hoá học và thuốc trừ sâu:
Nhìn chung, trên toàn thế giới lượng phân bón hoá học và thuốc trừ
sâu, diệt cỏ sử dụng vào nông nghiệp đang tiếp tục tăng thêm, tại một số nơi
tăng thêm theo cấp độ số nhân. Tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương là nơi
10
đã và đang có sự gia tăng mạnh mẽ về việc sử dụng thuốc trừ sâu. Trong
những thập kỉ 80, lượng thuốc trừ sâu được sử dụng tại các nước Indonesia,
Pakistan, Philippin, Srilanka, đã gia tăng hơn 10% hằng năm. Lượng phân bón
hoá học được sử dụng dự kiến sẽ giảm với tốc độ khoảng 4,3% hằng năm.
- Gia tăng sa mạc hoá:
Do con người đã khai hoang đất quá mức khiến ngày càng nhiều khu
UBND xã; 26,4% trường học có sử dụng nước máy; Ngoài ra, kiến thức của
người dân về vệ sinh cá nhân và VSMT còn hạn chế, thái độ của người dân
còn rất bàng quang về vấn đề này [8].
Vấn đề nước sạch và môi trường:
Vấn đề phải kể đến về hiện tượng môi trường sống của người dân ở các
vùng nông thôn Việt Nam đang bị tàn phá nghiêm trọng là nước sạch và
VSMT nông thôn. Nếu chúng ta quan niệm nước sạch chỉ đơn giản là nước
mưa, nước giếng khoan qua xử lý bằng bể lọc đơn giản chứ không phải nước
sạch được xử lý ở các thành phố lớn thì tỷ lệ người dân nông thôn được cấp
nước sạch nhất còn rất thấp. Chúng ta có thể thấy rõ điều này thông qua bảng
số liệu sau:
Bảng 2.1: Tỷ lệ người dân nông thôn được cấp nước sạch ở các vùng
STT Vùng
Tỷ lệ người dân nông thôn
được cấp nước sạch (%)
1
Vùng núi phía Bắc 15
2
Trung du Bắc Bộ và Tây Nguyên 18
3
Bắc trung Bộ và Duyên hải miền
Trung
35-36
4
Đông Nam Bộ 21
5
Đồng bằng Sông Hồng 33
6
Đồng bằng Sông Cửu Long 39
(Nguồn: Hoàng Xuân Cơ, Lê Văn Khoa (2004), chuyên đề Nông thôn Việt Nam,
không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc. Thứ ba là do một lượng
lớn thuốc BVTV còn tồn đọng tại các kho thuốc cũ, đã hết thời hạn sử dụng
còn nằm rải rác tại các tỉnh thành trên cả nước. Hằng năm, nước ta sử dụng
trung bình 15.000 - 25.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Bình quân 1ha gieo
trồng sử dụng đến 0,4 - 0,5 kg thuốc bảo vệ thực vật. Sử dụng không hợp lý,
không tuân thủ theo đúng những quy định nghiêm ngặt về quy trình sử dụng
thuốc BVTV gây nhiều tác hại chính cho người sử dụng thuốc và người tiêu
dùng nông sản, thực phẩm có dư lượng thước BVTV, đồng thời ảnh hưởng
đến môi trường sống.
13
Báo cáo tổng hợp của Tổng cục Môi Trường, Bộ tài nguyên & Môi
trường, mỗi năm hoạt động nông nghiệp phát sinh ra khoảng 9.000 tấn chất
thải nông nghiệp nguy hại, chủ yếu là thuốc BVTV, trong đó không ít loại
thuốc có độ độc cao đã bị cấm sử dụng [9].
Môi trường nông thôn đang phải gánh chịu nhiều bất lợi từ hoạt động
sản xuất nông nghiệp.
+ Do tập quán của người dân sử dụng phân chuồng tươi vào canh tác.
Theo Phạm Ngọc Quế (2003), hiện tại số hộ dân ở nước ta chăn nuôi
gia súc gia cầm là rất phát triển nhưng phương thức chăn nuôi lạc hậu (thả
rông, làm chuồng dưới nhà sàn, phân để trong chuồng lâu không được xử lý
hoặc dọn rửa chuồng xả bừa bãi vào các nguồn nước…) đã làm cho môi
trường nông thôn ngày càng ô nhiễm. Ngoài lượng phân, còn có nước tiểu,
thức ăn thừa cũng chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng số chất thải do
chăn nuôi đưa đến. Rõ ràng nếu lượng phân này không được xử lý tốt chắc
chắn sẽ tạo ra sự ô nhiễm đáng kể đối với vệ sinh môi trường [8].
Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất
thải rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện nay cả nước có
khoảng 1450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành và đông đúc nhất ở đồng
bằng sông Hồng, vốn là cái nôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472
Đô thị
Tổng lượng phát sinh chất thải sinh
hoạt(tấn/năm)
12.800.000 6.400.000 6.400.000
Chất thải nguy hại từ nông
nghiệp(tấn/năm)
128.400 125.000 2.400
Chất thải nguy hại từ công
nghiệp(tấn/năm)
2.510.000 1.740.000 770.000
Chất thải y tế lây nhiễm(tấn/năm) 21.000 - -
Tỷ lệ thu gom trung bình theo đầu
người(kg/người/ngày)
- 71 20
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung
bình theo đầu người(kg/người/ngày)
- 0,8 0,3
(Nguồn: Theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004-Chất thải rắn)[2]
Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự xuống cấp của môi trường nông thôn
là do tổ chức trong lĩnh vực VSMT nông thôn còn phân tán, sự phối hợp các
Bộ ngành chưa tốt. Nhà nước chưa có những chính sách huy động sự tham gia
đóng góp của các ngành kinh tế để cùng với người sử dụng xây dựng công
trình vệ sinh mà vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính. Về
pháp chế vẫn còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt
trong lĩnh vực vệ sinh môi trường. Đa số hộ chưa có nhà vệ sinh đạt tiêu
chuẩn, nhất là vùng núi, vùng bị ngập lụt, vùng ven biển những nơi có mật độ
ngư dân cao. [8]
Hiện trạng về VSMT nông thôn vẫn còn nhiều vấn đề bức xúc. Chất
lượng của chúng ngày một tăng, lan tràn làm ô nhiễm đất, nước kể cả ngấm
nhà máy, nhưng hầu hết các bãi thải không được xây dựng, quản lý đảm bảo
vệ sinh đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước xung quanh khu vực, hoặc đổ
thải bừa bãi hoặc được tận dụng để san lập mặt bằng. Chất thải xây dựng chưa
16
được thu gom và quản lý, một phần được tận dụng để san lấp mặt bằng, một
phần đang đổ thải bừa bãi.
Chất thải công nghiệp nguy hại bước đầu đã được các chủ nguồn thải
thu gom, phân loại và quản lý theo quy định, nhưng chưa triệt để, vẫn còn tình
trạng đổ thải và bán chất thải nguy hại không theo quy định.
* Bảo vệ và cải thiện môi trường nông nghiệp nông thôn
Ô nhiễm môi trường không chỉ xảy ra ở các khu vực công nghiệp và đô
thị mà còn ở các vùng nông thôn, khoảng 80% diện tích của tỉnh là khu vực
nông thôn, đồng thời phần lớn các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở
sản xuất tiểu thủ công nghiệp, khai thác khoáng sản nằm trong hoặc cận kề
khu vực nông thôn. Hơn hơn nữa với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 giá trị
sản xuất trồng trọt đạt trên 50 triệu đồng/ha canh tác; cơ cấu giá trị sản xuất
ngành trồng trọt 33-34%, chăn nuôi chiếm 46-47%, lâm nghiệp 6-7%, thủy
sản 7,5-8%, dịch vụ nông-lâm-thủy sản 6,5-7% và từng bước hình thành các
vùng sản xuất nông-lâm-sản hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến
và tiêu thụ như vùng cây ăn quả đặc sản, vùng chè, vùng rau sạch, vùng lúa
thâm canh…, các vùng sản xuất nông nghiệp và khu vực nông thôn tỉnh Thái
Nguyên sẽ tiếp tục bị sức ép từ nước thải của chất thải chăn nuôi và dư lượng
phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp.
Thực tế, việc sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông
nghiệp chưa được kiểm soát hữu hiệu đã dẫn đến chất lượng môi trường đất,
nước đang đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm nếu không có giải pháp khắc phục.
Tốc độ đô thị hóa nhanh đang ngày càng thu hẹp diện tích đất nông
nghiệp, tạo sức ép về sản lượng cho ngành nông nghiệp, gia tăng chất thải đô
thị và một số vùng nông thôn phải gánh chịu hậu quả. Hiện nay việc quản lý,
phát triển và việc khai thác không hợp lý, cùng với việc săn bắn, vận chuyển,
buôn bán và sử dụng bất hợp pháp Tài nguyên và đặc biệt là Động Thực vật
Hoang dã, nhiều khu rừng đã bị khai thác kiệt quệ, biến thành nương rẫy hoặc
khai trường, lớp phủ thực vật đã suy giảm cả về diện tích và sinh khối, ảnh
hưởng tới sự đa dạng sinh học, suy thoái môi trường và phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh. Hiện nay diện tích rừng tự nhiên còn lại không nhiều và chủ yếu
là rừng nghèo.
Bên cạnh đó, các yếu tố tác động khác như: chuyển đổi mục đích sử
dụng đất, khai thác và sử dụng thiếu bền vững tài nguyên sinh học, ô nhiễm
môi trường do các nguồn thải, cháy rừng, thiên tai cũng gây ảnh hưởng và
làm suy giảm tính đa dạng sinh học và phá vỡ cảnh quan,…
18
* Ứng phó với biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu thực sự là một trong những thách thức lớn nhất đối với
nhân loại trong thế kỷ 21. Các vấn đề của biến đổi khí hậu phải được giải
quyết mang toàn cầu bằng các chương trình, chiến lược, kế hoạch hành động
để ứng phó với biến đổi khí hậu, thích ứng với biến đổi khí hậu, như: điều
chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường
thay đổi, nhằm giảm sự tổn thương đối với dao động và biến đổi khí hậu hiện
hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại (như việc sống
chung với lũ); giảm nhẹ phát thải khí nhà kính bằng các hoạt động giảm sự
phát sinh, phát thải các khí cacbonic, mêtan trong sản xuất và sinh hoạt).
Để ứng phó với biến đổi khí hậu, nhà nước ta cũng đã triển khai nhiều
chương trình, kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu; ban hành
nhiều chủ trương, chỉ thị nghị quyết, chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa
phương xây dựng kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu.
Theo đó, hiện nay tỉnh Thái Nguyên cũng đang xây dựng “Kế hoạch
hành động ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh”. Nội dung kế hoạch
sẽ chỉ rõ các nhiệm vụ trọng tâm, cũng như trách nhiệm của các cấp, các