Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn xã Mường Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM MÙA A KỀNH

Tên đề tài:

“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
MƯỜNG PHĂNG HUYỆN ĐIỆN BIÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC



“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN VÀ ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN XÃ
MƯỜNG PHĂNG HUYỆN ĐIỆN BIÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi trường
Khóa học : 2010 – 2014Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Đỗ Thị Lan
Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 201
4

Mùa A Kềnh

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Vị trí nuôi, nhốt gia súc, vật nuôi của các hộ gia đình tại 22 thôn
bản người Thái. 30

Bảng 4.2. Thể hiện hình thức chăn nuôi của các hộ gia đình người Mông. 33

Bảng 4.3. Nguồn nước sử dụng ăn uống của các hộ gia đình. 33

Bảng 4.4. Chất lượng nguồn nước ăn uống của các hộ gia đình. 34

Bảng 4.5. Hệ thống nước thải của các hộ gia đình. 37

Bảng 4.6. Hệ thống các nguồn tiếp nhận nước thải từ các hộ gia đình. 38

Bảng 4.7. Hình thức đổ rác thải của các hộ gia đình. 39

Bảng 4.8. Hệ thống nhà vệ sinh của hộ gia đình. 40

Bảng 4.9. Số hộ gia đình sử dụng và không sử dụng các loại phân bón. 41

Bảng 4.10. Số hộ gia đình sử dụng và không sử dụng các loại thuốc BVTV. 42
Bảng 4.11. Kết quả điều tra sức khoẻ hộ gia đình. 43

Bảng 4.12. Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường. 45DANH MỤC CÁC HÌNH


Hình 4.15. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số hộ gia đình sử phân bón trong tổng số hộ
gia đình không sử dụng phân bón. 41

Hình 4.16. Biểu đồ thể hiện tỷ lệ số hộ gia đình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. 42

Hình 4.17. Biểu đồ thể hiện một số loại bệnh thường gặp của các hộ gia đình.
43
Hình 4.18. Mô hình R-VAC trên đất dốc [15] 48

Hình 4.19. Cấu tạo mô hình đêm lót sinh học trong chăn nuôi 49

Hình 4.20. Cấu tạo mô hình bể biogas trong xử lý chất thải chăn nuôi và tạo
khi đốt dùng trong đun nấu gia đình. [14] 50

Hình 4.21. Mô hình lộc nước nấu ăn uống cho hộ gia đình mà nước bị đục sau
khi mưa. 52

Hình 4.22.Sơ đồ xử lý nước thải bằng bãi lộc ngầm và thực vật thuỷ sinh cho
hộ gia đình. 54

Hình 4.23. Mô hình xử lý nước thải bằng bãi lọc ngầm và thực vật thuỷ sinh
khoa MT – ĐH Nông lâm Thái Nguyên 55

Hình 4.24. Sơ đồ quy trình xử lý rác thải, phân gia súc vật nuôi làm phân bón
compost. 56

Hình 4.25. Mô hình nhà vệ sinh tự hoại 3 ngăn. [8] 57


2.1. Cơ sở lý luận 4

2.2. Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên Thế
giới và trong nước. 5

2.2.1. Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên Thế
giới 5

2.2.2. Tình hình hiện trạng về môi trường ở Việt Nam 11

PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 17

3.1. Đối tượng và phạm vị nghiên cứu 17

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 17

3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 17

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17

3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 17

3.2.2. Thời gian nghiên cứu 17

3.3. Nội dung nghiên cứu 17

3.4. Phương pháp nghiên cứu 18

3.4.1. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 18

4.3.2. Vấn đề nước thải 36

4.3.3. Vấn đề rác thải 39

4.3.4. Vệ sinh môi trường 40

4.3.5. Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường 41

4.3.6. Sức khoẻ và môi trường 43

4.3.7. Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường 44

4.4. Đánh giá chung, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường
46

4.4.1. Đánh giá chung 46

4.4.2. Đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường 46

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

5.1. Kết luận 61

5.2. Kiến nghị 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 641
PHẦN 1


2
rác thải (túi nilông, xác động vật nuôi bị chết, các đồ dùng phế thải của gia
đình…) ra môi trường xung quanh, cộng với phân gia súc, gia cầm vương vãi
càng làm cho môi trường sống thêm ô nhiễm. Mặt khác, làm nông nghiệp
không chỉ dựa vào mấy loại cây trồng như lúa, ngô, đậu tương mà phải chăn
nuôi để tăng nguồn thu nhập và lấy phân bón cho cây trồng. Điều đó dĩ nhiên
người dân phải tiếp xúc trực tiếp với phân gia súc, gia cầm. Nếu không có
biện pháp nuôi nhốt, thu gom và sử lý các nguồn phân gia súc hợp lý và khoa
học thì vấn đề ô nhiễm môi trường ở các vùng nông thôn miền núi trên địa
bàn xã Mường Phăng hiện nay ngày càng chở nên nghiêm trọng hơn.
Xuất phát từ vấn đề đó, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường
ban chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo PGS.TS.Đỗ Thị Lan, em tiến hành
thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn và đề xuất giải
pháp bảo vệ môi trường trên địa bàn xã Mường Phăng huyện Điện Biên
tỉnh Điện Biên”.
1.2. Mục đích của đề tài
- Tìm hiểu về một số thói quen của các dân tộc trên địa bàn xã gây ảnh
hưởng xấu đến môi trường.
- Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Mường
Phăng huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên.
- Đánh giá, đề xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại
địa phương
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở các ngành
nghề khác nhau.
- Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại
xã Mường Phăng
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực

của con người và sinh vật. (Luật bảo vệ môi trường, 2005) [11]
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong
lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng
phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện
môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo
vệ đa dạng sinh học. [11]
- Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế
hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo
đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. [11]
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người,
sinh vật. [11]
- “Nâng cao chất lượng môi trường là mục đích chủ yếu của công tác
BVMT. Chất lượng môi trường phản ánh mức độ phù hợp của môi trường đối
với sự tồn tại, phồn vinh cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của nhân loại. ở
những năm 60 cùng với sự xuất hiện vấn đề chất lượng môi trường cũng ngày
càng được quan tâm. Người ta dần dần định mức độ tốt xấu của môi trường,
để biểu thị mức độ môi trường bị ô nhiễm” (Lê Văn Khoa và cs, 2003) [6].

5
2.2. Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên
Thế giới và trong nước.
2.2.1. Một số đặc điểm về hiện trạng và xu thế diễn biến môi trường trên
Thế giới
a) Khí hậu toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng
Vào cuối những năm 1990, mức phát tán dioxit cacbon (CO
2
) hàng
năm xấp xỉ bằng 4 lần mức phát tán năm 1950 và hàm lượng CO

và thực vật cũng như các loại vật liệu khác, khi tầng Ôzôn tiếp tục bị suy
thoái, các tác động này càng trở nên tồi tệ. Ví dụ, mức cạn kiệt tầng Ôzôn là

6
10% thì mức bức xạ tia cực tím ở các bước sóng gây phá huỷ tăng 20%. Bức
xạ tia cực tím có thể gây huỷ hoại mắt, làm đục thuỷ tinh thể và phá hoại
võng mạc, gây ung thư da, làm tăng các bệnh về đường hô hấp. Đồng thời,
bức xạ tia cực tím tăng lên được coi là nguyên nhân làm suy yếu các hệ miễn
dịch của con người và động vật, đe doạ tới đời sống của động và thực vật nổi
trong môi trường nước sống nhờ quá trình chuyển hoá năng lượng qua quang
hợp để tạo ra thức ăn trong môi trường thuỷ sinh. [9]
Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí nằm trong tầng bình lưu khí
quyển gần bề mặt Trái Đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 - 40
km phụ thuộc vào vĩ độ. Việc giao thông đường bộ do các phương tiện có
động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều
chất hữu cơ bay hơi (VOC) tạo ra Ôzôn mặt đất. Nếu không khí có nồng độ
Ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối
với sức khoẻ con người. [9]
Ví dụ:Nồng độ Ôzôn = 0,2ppm: Không gây bệnh.
Nồng độ O
3
= 0,3ppm: Mũi, họng bị kích thích và bị tấy.
Nồng độ O
3
= 1 - 3ppm: Gây mệt mỏi, bải hoải sau 2 giờ tiếp xúc.
Nồng độ O
3
= 8ppm: Nguy hiểm đối với phổi
Các chất làm cạn kiệt tầng Ôzôn (ODS - Ozon Depletion Substances)
bao gồm: Cloruafluorocacbon (CFC). mêtan (CH4). các khí nitơ ôxit (NO2,

ngòi và biển cả. Theo tài liệu thống kê của Liên Hợp Quốc, diện tích đất canh tác
bình quân đầu người trên thế giới năm 1983 là 0,31ha/người thì đến năm 1993
chỉ còn 0,26 ha/người và còn tiếp tục giảm trong tương lai. [9]
- Sự phá huỷ rừng vẫn đang diễn ra với mức độ cao, trên thế giới diện
tích rừng có khoảng 40 triệu km2, song cho đến nay diện tích này đã bị mất
đi một nửa, trong số đó, rừng ôn đới chiếm khoảng 1/3 và rừng nhiệt đới
chiếm 2/3. Sự phá huỷ rừng xảy ra mạnh, đặc biệt ở những nước đang phát
triển. Chủ yếu do nhu cầu khai thác gỗ củi và nhu cầu lấy đất làm nông
nghiệp và cho nhiều mục đích khác, gần 65 triệu ha rừng bị mất vào những
năm 1990 - 1995. [9]
- Với tổng lượng nước là 1386.106 km
3
, bao phủ gần 3/4 diện tích bề
mặt Trái Đất, và như vậy Trái Đất của chúng ta có thể gọi là "Trái Nước",
nhưng loài người vẫn "khát" giữa đại dương mênh mông, bởi vì với tổng
lượng nước đó thì nước ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng lượng nước, mà hầu hết tồn
tại ở dạng đóng băng và tập trung ở hai cực (chiếm 2,24%), còn lượng nước
ngọt mà con người có thể tiếp cận để sử dụng trực tiếp thì lại càng ít ỏi (chỉ
chiếm 0,26%). Sự gia tăng dân số nhanh cùng với quá trình công nghiệp hoá,
đô thị hoá, thâm canh nông nghiệp và các thói quen tiêu thụ nước quá mức
đang gây ra sự khủng hoảng nước trên phạm vi Toàn cầu. Gần 20% dân số
Thế giới không được dùng nước sạch và 50% thiếu các hệ thống vệ sinh an

8
toàn. Sự suy giảm nước ngọt ngày càng lan rộng hơn và gây ra nhiều vấn đề
nghiêm trọng, đó là nạn thiếu nước ở nhiều nơi và đối với các khu vực ven
biển đó là sự xâm nhập mặn. Ô nhiễm nước uống là phổ biến ở các siêu đô
thị, ô nhiễm nitrat (NO3 -) và sự tăng khối lượng các kim loại nặng gây tác
động đến chất lượng nước hầu như ở khắp mọi nơi. Nguồn cung cấp nước
sạch trên thế giới không thể tăng lên được nữa. ngày càng có nhiều người phụ

Ví dụ, ở Anh đã chính thức xác nhận 300 vùng với diện tích 10.000 ha bị ô
nhiễm, tuy nhiên trên thực tế có tới 50.000 - 100.000 vùng với diện tích
khoảng 100.000ha (Bridges, 1991). Còn ở Mỹ có khoảng 25.000 vùng, ở Hà
Lan là 6.000 vùng đất bị ô nhiễm cần phải xử lý. [9]
e) Sự gia tăng dân số
Con người là chủ của Trái Đất, là động lực chính làm tăng thêm giá trị
của các điều kiện kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, xung
lượng gia tăng dân số hiện nay ở một số nước đi đôi với đói nghèo, suy thoái
môi trường và tình hình kinh tế bất lợi đã gây ra xu hướng làm mất cân bằng
nghiêm trọng giữa dân số và môi trường. [9]
Đầu thế kỷ XIX, dân số Thế giới mới có 1 tỷ người nhưng đến năm
1927 tăng lên 2 tỷ người. năm 1960: 3 tỷ. năm 1974: 4 tỷ. năm 1987: 5 tỷ và
năm 1999 là 6 tỷ người, trong đó trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi.
Mỗi năm dân số Thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người. Theo dự tính đến
năm 2015, dân số Thế giới sẽ ở mức từ 6,9 - 7,4 tỷ người và đến 2025 dân số
sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người. 95% dân số tăng thêm nằm
ở các nước đang phát triển do đó các nước này sẽ phải đối mặt với những vấn
đề nghiêm trọng cả về kinh tế, xã hội đặc biệt là môi trường, sinh thái. Việc
giải quyết những hậu quả do dân số tăng của những nước này có lẽ còn khó
khăn hơn gấp nhiều lần những xung đột về chính trị trên thế giới. [9]
f) Sự suy giảm tính đa dạng sinh học (ĐDSH) trên trái đất
Các loài động và thực vật qua quá trình tiến hoá trên trái đất hàng trăm
triệu năm đã và đang góp phần quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng môi
trường sống trên trái đất, ổn định khí hậu, làm sạch các nguồn nước, hạn chế
xói mòn đất, làm tăng độ phì nhiêu đất. Sự đa dạng của tự nhiên cũng là
nguồn vật liệu quý giá cho các ngành công nghiệp, dược phẩm, du lịch, là
nguồn thực phẩm lâu dài của con người, và là nguồn gen phong phú để tạo ra

10
các giống loài mới. ĐDSH được chia thành 3 dạng: Đa dạng di truyền. đa

Hầu hết các loài bị đe doạ đều là các loài trên mặt đất và trên một nửa
sống trong rừng. Các nơi cư trú nước ngọt và nước biển, đặc biển là các dải
san hô là những môi trường sống rất dễ bị thương tổn
2.2.2. Tình hình hiện trạng về môi trường ở Việt Nam
a) Rừng tiếp tục bị thu hẹp
Trước năm 1945, nước ta có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích
tự nhiên của cả nước, năm 1975 diện tích rừng chỉ còn 9,5 triệu ha (chiếm
29%), đến nay chỉ còn khoảng 6,5 triệu ha (tương đương 19,7%). Độ che phủ
của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng rừng ở các vùng
còn rừng bị hạ xuống mức quá thấp. Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng
nguyên sinh. (Nguồn: Hiện trạng môi trường Việt Nam và những lời báo
động, 2013)[13]
Số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn cho thấy đến hết năm 2012 có hơn 20.000 ha rừng tự nhiên bị phá để sử
dụng vào nhiều mục đích, nhiều nhất là để làm thủy điện, nhưng chỉ mới
trồng bù được hơn 700 ha.
b) Đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng
sinh học vào nhóm cao nhất thế giới. Với các điều tra đã công bố, Việt Nam
có 21.000 loài động vật, 16.000 loài thực vật, bao gồm nhiều loài đặc hữu,
quý hiếm. Tổ chức vi sinh vật học châu Á thừa nhận Việt Nam có không ít
loài vi sinh vật mới đối với thế giới. [13]
Thế nhưng, trong 4 thập kỷ qua, theo ước tính sơ bộ đã có 200 loài
chim bị tuyệt chủng và 120 loài thú bị diệt vong. Và, mặc dù có vẻ nghịch lý
nhưng có một thực tế là các trang trại gây nuôi động vật hoang dã như nuôi
những loài rắn, rùa, cá sấu, khỉ và các loài quý hiếm khác vì mục đích thương
mại ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á lại không hề làm giảm bớt tình
trạng săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, mà thậm chí còn làm cho vấn
đề trở nên tồi tệ hơn bởi những trang trại này đã liên quan tới các hoạt động
buôn bán trái phép động vật hoang dã. [13]

con tàu biển trọng tải lớn, cũ nát. Hầu hết các cảng biển trên thế giới đều
không cho phép loại tàu này vào, vì nó quá cũ gây ô nhiễm môi trường lại
không bảo đảm an toàn hàng hải. Thế nhưng, hơn một nghìn con tàu cũ nát đó

13
vẫn đang được neo vật vờ ở các tuyến sông, cửa biển để chờ được “hóa kiếp”
thành phế liệu mà việc phá dỡ loại tàu biển cũ này sẽ thải ra rác thải nguy hại
làm ô nhiễm môi trường sống. [13]
Nhiều dự án luyện, cán thép lớn đã, đang và sẽ xuất hiện, hứa hẹn đưa
Việt Nam trở thành nước xuất khẩu thép lớn, song đồng thời cũng có nguy cơ
biến Việt Nam thành nơi tập trung “rác” công nghệ và chất thải. Bài học
“xương máu” này đã từng xảy ra với ngành sản xuất xi măng, song vẫn có
khả năng lặp lại nếu những dây chuyền luyện gang, thép bị loại bỏ ở Trung
Quốc được đưa về lắp đặt ở Việt Nam. [13]
e) Ô nhiễm từ sản xuất nông nghiệp
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho thấy,
nguồn chất thải vào môi trường từ trồng trọt và chăn nuôi đang có xu hướng
gia tăng, trong khi việc kiểm soát chưa đạt hiệu quả cao. Trong đó, lo ngại
nhất là chất thải từ chăn nuôi. Hiện cả nước có 16.700 trang trại chăn nuôi,
tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (45%) và Đông Nam Bộ (13%),
với tổng đàn gia súc 37,8 triệu con và trên 214 triệu con gia cầm. Theo tính
toán của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn), lượng phân thải của bò khoảng 10 - 15 kg/con/ngày, trâu là
15 - 20 kg/con/ngày, lợn là 2,5 - 3,5 kg/con/ngày và gia cầm là 90
gr/con/ngày. Như vậy, tính ra tổng khối lượng chất thải trong chăn nuôi của
nước ta hiện khoảng hơn 73 triệu tấn/năm. [13]
Nuôi trồng thủy sản cũng đang gặp phải vấn đề tương tự. Việc đẩy
mạnh các biện pháp thâm canh, tăng năng suất tại các vùng nuôi tôm tập
trung, trong đó chủ yếu là tôm sú đã làm gia tăng ô nhiễm nguồn nước. Cùng
với đó, tình trạng sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt

NH
3
làm ô nhiễm môi trường không khí, ngoài ra còn khí NO
2
làm ảnh hưởng
đến tầng ôzôn, thường số lượng khí N
2
O sản sinh ra từ phân bón là 15%.[5]
Khi trong sản phẩm có chứa nhiều đạm, nhất là không cân đối thì đạm
sẽ chuyển từ NH
4
-
sang NO
3
-
. Đặc biệt hàm lượng NO
3
-
tồn dư trong các loại
rau rất cao, nguyên nhân là do sử dụng không hợp lý liều lượng và tỷ lệ phân
đạm vô cơ và hữu cơ bón cho cây, phương thức bón không đúng do chạy theo
lợi nhuận, bón thúc trễ, sát với thời điểm thu hoạch, sử dụng nguồn nước tưới
có hàm lượng NO
3
-
rửa trôi cao. [5]

15
f) Ô nhiễm ở các làng nghề
Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường

16
2.500 người mắc bệnh, chủ yếu là mắc bệnh bụi phổi, hen phế quản, tai mũi
họng (80%). Kết quả quan trắc của các cơ quan chuyên môn cho thấy nồng
độ bụi ở khu vực Cẩm Phả vượt từ 3 - 4 lần tiêu chuẩn cho phép, gần 0,3
mg/m3 trong 24 giờ (gồm bụi lơ lửng, bụi Pb, Hg, SiO
2
, khí thải CO, CO
2
,
NO
2
). Mỏ Đèo Nai phải xử lý lượng đổ thải chất cao thành núi trong mấy
chục năm qua. Mỏ Cọc Sáu với biển nước thải sâu 200m chứa 5 triệu m3có
nồng độ a-xít cao và độ pH 4 - 4,5mgđl/l sẽ phải tìm công nghệ phù hợp để
xử lý. [13]
h) Ô nhiễm không khí
Việt Nam cũng đang bị coi là nước có ô nhiễm không khí cao tới mức
báo động.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nồng độ chất ô nhiễm trong không khí
khu vực ven đường giao thông, trong đó chủ yếu là CO tăng 1,44 lần và bụi
PM10 (tức bụi có kích thước bé hơn 10µ) tăng 1,07 lần. Kênh rạch ở khu vực
nội thành bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh ở mức độ cao. Phần lớn nước thải sinh
hoạt chỉ mới được xử lý sơ bộ qua bể tự hoại gia đình. Nhiều nhà máy, cơ sở
sản xuất chưa có hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có trang bị thì không vận
hành thường xuyên. [13]

Trích đoạn Thói quen thả rong, nhốt vật nuôi dưới gầm sàn gâyảnh hưởng đến mô Vấn đề sửdụng nước sinh hoạt xuất một số giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status