Đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển các loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị, tại khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm - Pdf 26

MỞ ĐẦU
Hiện nay, LSNG được quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau, chúng có giá trị
góp vào việc phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học. Giá
trị về mặt kinh tế thể hiện ở nguồn thu nhập cho các cộng đồng người dân sống gần
rừng. LSNG có thể là nguồn thu bằng tiền duy nhất để mua lương thực thực phẩm,
hàng tiêu dùng, và trang trải chi phí thuốc men, chi phí học hành của con trẻ đối với
các hộ nghèo. Ngoài ra LSNG còn góp phần rất lớn vào kinh tế đất nước. Theo ông
Phạm Đức Tuấn (2007), phó cục trưởng cục kiểm lâm: " lâm sản ngoài gỗ của Việt
Nam được xuất khẩu sang 90 nước và vùng lảnh thổ, với tổng kim ngạch gần 200
triệu USD/năm. Tuy nhiên, việc xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ chưa tương xứng với
tiềm năng của rừng Việt Nam". Về giá trị xã hội, LSNG giúp ổn định về kinh tế và an
ninh cho đời sống người dân phụ thuộc vào rừng, tạo việc làm, bảo tồn kiến thức bản
địa và giá trị về mặt môi trường, chúng góp phần bảo vệ, điều tiết nguồn nước, chống
xói mòn, bảo vệ môi trường, tạo cảnh quan, bảo tồn đa dạng sinh học.
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) bao gồm những sản phẩm không phải gỗ có nguồn
gốc sinh vật được khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng, và có nhiều giá trị sử dụng.
Như vậy, LSNG là một bộ phận chức năng quan trọng của hệ sinh thái rừng. Lâm sản
ngoài gỗ không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn có giá trị lớn
đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng. Đã từ lâu, lâm
sản ngoài gỗ được sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như
làm dược liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do
vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân. Tuy nhiên,
sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loại lâm sản ngoài gỗ đã hạn chế
nhiều giá trị kinh tế của chúng. Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số
loại lâm sản ngoài gỗ đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng. Như vậy, vấn
đề đặt ra là phải nâng cao hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ để quản lý, khai thác, sử
dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quí giá này.
Khu dự trữ sinh quyển Quần đảo Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận
ngày 26/5/2009, với tổng diện tích 40km
2
, khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao

ăn việc làm cho một số người dân địa phương, qua đó sẽ từng bước nâng cao đời
sống người dân, và giảm áp lực đến tài nguyên thiên nhiên, góp phần bảo tồn đa dạng
sinh học Khu dự trử sinh quyển Cù Lao Chàm.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2
1.1. Giới thiệu về lâm sản ngoài gỗ
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật
không kể gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất. Dịch vụ trong định
nghĩa này là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gôm nhựa và các
hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến các sản phẩm này (FAO, 1995).
Lâm sản ngoài gỗ bao gồm " tất cả các sản phẩm sinh vật (trừ gỗ công
nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng
trồng được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo , văn hóa hoặc xã
hội. Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý
vùng đệm.... thuộc về lĩnh vực phục vụ của rừng" ( Wickens, 1991).
LSNG là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, có ở đất
rừng và ở các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999).
LSNG là tất cả các vật liệu sinh học ngoài gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên
phục vụ cho mục đích của con người. Bao gồm các sản phẩm là động vật sống,
nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi (W.W.F, 1989).
"nhiều loại cây rừng cho các sản phẩm tự nhiên ngoài gỗ đó là cây cho đặc
sản. Các sản phẩm tự nhiên đó có thể được sử dụng trực tiếp như một số loại cây cho
thuốc, cây cho quả hoặc làm thức ăn cho gia súc nhưng phần lớn phải qua gia công
chế biến như cây cho nguyên liệu, giấy sợi, cây cho cao su, cho dầu...." (Lê Mộng
Chân, 1993).[2]
Tóm lại, lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, không kể
gỗ, cũng như những dịch vụ từ rừng mà người dân có thể sử dụng được, hay đem các
sản phẩm từ rừng ra để chao đổi hàng hóa mua bán mang lại thu nhập kinh tế cho
người dân.

+ Cây làm mỹ phẩm
Nhóm 4: Các sản phẩm chiết xuất:
+ Tinh dầu
+ Dầu béo
+ Nhựa và nhựa dầu
+ Dầu trong chai cục
+ Gôm
+ Ta-nanh và thuốc nhuộm
4
Nhóm 5: Động vật và các sản phẩm động vật không làm thực phẩm và làm
thuốc.
+ Động vật sống, chim và côn trùng sống: da, sừng, xương, lông vũ...
Nhóm 6: Các sản phẩm khác:
+ Cây cảnh
+ Lá để gói thức ăn và thực phẩm. [2.7]
Phương pháp này đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa
của người dân dễ áp dụng trong thực tế quản lý, sản xuất và kinh doanh. Tuy nhien
phương pháp này không đề cập đến đặc điểm sinh học của các loài nên khó khăn
trong việc nhận biết, có thể gây sự nhầm lẫn và nhiều loài có thể nằm ở nhiều nhóm
khác nhau. khung là phân loại LSNG của Việt Nam đã được bổ sung thêm 3 nhóm
phụ: các cây có chất độc vào nhóm 3; các cây cảnh, các lá dùng để gói, bọc vào nhóm
6. tuy nhiên, đối với từng loài cụ thể việc phân loại không cố định mà biến đổi theo
địa phương. Ví dụ như cây quế được xếp vào dược liệu nhưng cũng có nơi xếp vào
gia vị
1.2. Tổng quan về lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
1.2.1. Tình hình khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới có rất nhiều loại LSNG có giá trị, có sản
lượng lớn và có thể khai thác. Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản ngoài gỗ
Việt nam trong số 12000 loài cây được thống kê có: 76 loài cho nhựa thơm; 160 loài
cho dầu; 600 loài cho tanin; 260 loài cho tinh dầu; 93 loài cho chất màu; 1498 loài

khai thác theo phương thức hái lượm nên con số thống kê cụ thể còn chưa được thực
hiện đầy đủ.
Nhiều loại LSNG được sử dụng cho sản xuất và đời sống của người dân, có
vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nước ta. Nó đặc biệt quan trọng đối
với cộng đồng địa phương miền núi và người dân tộc thiểu số có đời sống phụ thuộc
chặt chẽ vào tài nguyên rừng. LSNG còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, Bộ NN và
PTNT ước tính giá trị xuất khẩu LSNG năm 2008 là khoảng 300-400 triệu USD,
bằng gần 20% tổng giá trị xuất khẩu đồ gỗ. Khai thác, chế biến, kinh doanh LSNG đã
thu hút hàng trăm nghìn lao động, chủ yếu là ở nông thôn, miền núi góp phần đáng kể
vào xoá đói, giảm nghèo ở các địa phương có rừng và đất rừng. Tuy nhiên, đến nay
chúng ta vẫn chưa quy hoạch tổng thể được việc bảo tồn, phát triển, khai thác, và
kinh doanh các loại LSNG ở nước ta. Để có thể nâng cao hiệu quả kinh tế của người
dân từ LSNG, nhà nước và nhân dân cần phải có chiến lược phát triển về gây trồng,
chế biến và tiêu thụ góp phần nâng cao đời sống của người dân miền núi. [1]
1.2.2. Tình hình quản lý LSNG ở Việt Nam
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của LSNG, Nhà nước ta đã ban hành nhiều
chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn rừng trong đó có đề cập đến
nội dung quản lý LSNG. Một số chính sách quan trọng đã tạo nên sự chuyển biến về
phát triển và quản lý LSNG như chính sách của chính phủ về Giao đất giao rừng cho
hộ gia đình và cộng đồng quản lý (Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994;
6
thông tư 06LN/KN về giao đất lâm nghiệp; Nghị định 163/CP ngày 16/11/1999 về
giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp); chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng cũng đã
đề cập đến việc phát triển Lâm sản ngoài gỗ; luật bảo vệ và phát triển rừng
(19/8/1991), thông tư 13LN/KL của Bộ Lâm nghiệp đã ban hành nhiều quy định
nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên động thực vật rừng quý hiếm, mà nhiều loài
LSNG có giá trị.[1]
Hiện nay, lâm sản ngoài gỗ hiện nay được quản lý dưới nhiều hình thức khác
nhau: quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng và quản lý ở cấp hộ gia đình, cá nhân với
nhiều mục đích khác nhau (kinh doanh, sử dụng cho mục đích tự cung cấp, nghiên

Một số tổ chức khác có nghiên cứu về LSNG gồm có Trường Đại học Lâm nghiệp,
Trường Đại học Nông Lâm Huế, Viện Điều tra Qui hoạch rừng, Viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam...
Để phát triển và sử dụng rừng nói chung và LSNG nói riêng chúng ta không
chỉ giải quyết các yếu tố kỹ thuật như chọn, tạo giống, các biện pháp kỹ thuật gây
trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng, mà còn phải nghiên cứu giải quyết rất nhiều vấn đề
có liên quan tác động qua lại với nhau. Vì vậy các hướng nghiên cứu chính về LSNG
tập trung biện chứng vào các vấn đề theo chuỗi hành trình của sản phẩm từ khâu tạo
nguyên liệu như chọn, tạo giống, gây trồng, bảo tồn, phát triển, rồi đến khai thác, chế
biến, thị trường tiêu thụ sản phẩm. Song song với nó là việc điều tra, khảo sát các đặc
điểm về địa hình, khí hậu, tài nguyên LSNG, cộng đồng dân cư và văn hóa, phong
tục, tập quán của họ. Việc đề xuất các chương trình, chính sách văn bản về quản lý,
khai thác và thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng giữ vai trò quan trọng trong việc
nghiên cứu LSNG.[1]
1.3. Tiềm năng của lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
1.3.1. Tiềm năng của lâm sản ngoài gỗ trên quan điểm sinh học
Nước ta có 6 kiểu rừng thuộc đại nhiệt đới ( dưới độ cao 700 – 800m). Đáng
chú ý nhất là các kiểu: rừng kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới; rừng kín thường
xanh, ẩm nhiệt đới; rừng kín, thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp; rừng kín
hỗn hợp cây lá rộng lá kim ẩm, á nhiệt đới núi thấp. Đây là 4 kiểu rừng có tính đa
dạng sinh học cao nhất và cũng nhiêu loại lâm san ngoài gỗ nhất. Hầu hết các loại
lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao thuộc các nhóm: cây lấy sợi cây làm thuốc, cây cho
thực phẩm, cây dầu nhựa, cây làm cảnh,tập trung ở các kiểu rừng này. Ngoài 11 kiểu
rừng chính, tùy theo điều kiện đất đai, khí hậu nước ta có nhiều kiểu rừng độc đáo
như: kiểu phụ rừng trên núi đá vôi, kiểu phụ rừng ngập mặn, kiểu phụ rừng rêu trên
núí cao. Rất nhiều loại LSNG độc đáo của nước ta thuộc nhóm cây thuốc, cây dầu
nhựa, cây cảnh, cây cho tamin- thuốc nhuộm và các loại động vật hoang dã nỗi tiếng
phân bố ở đây. [1]
Hệ thực vật: trước cách mạng tháng 8 năm 1945 qua tài liệu của ngươi pháp
để lại trong " Thực vật chí tổng quát của đông dương – Flore general de L’Indochine

người, hàng năm chỉ ở miền núi khối lượng củi tiêu thụ đã có thể lên tới 20-25 triệu
m
3
. ở trung du và đồng bằng trong sinh hoạt chất đốt vẫn phục vụ trong sinh hoạt chủ
yếu, phần lớn người dân sử dụng phế liệu nông nghiệp, cây trồng phân tán và than
nên ít dùng củi từ rừng. Khai thác củi từ rừng của người dân miền núi là một trong
những nguyên nhân dẩn đến rừng bị suy thoái. Ngày nay việc khai thác củi trong
rừng tự nhiên có chiều hướng giảm vì ở thành thị chất đốt trong sinh hoạt đã được
thay thế phần lớn bàng các năng lượng khác. Trong khi đó, việc khai thác củi làm
chất đốt từ rừng trồng, cây trồng phân tán và phế thải nông nghiệp lại tăng lên. Tuy
nhiên, củi từ rừng tự nhiên vẫn là nguồn năng lượng chủ yếu của người dân miền núi.
LSNG là nguồn thức ăn cho gia súc gia cầm: chăn nuôi gia súc gia cầm có vị
trí quan trong trong kinh tế hộ gia đình ở miền núi. ở miền núi trâu, bò, dê, lợn,
gà....là những vật nuôi chủ yếu. Cách nuôi trâu, bò của người dân miền núi là thả
rông trong rừng, đã gây thiệt hại không ít cho những cánh rừng mới trồng, cây non bị
9
hư hại nhiều. Nhiều loại LSNG đã cung cấp nguồn thức ăn tốt cho trâu, bò, dê, lợn,
gà. Ngoài ra còn rất nhiều rau, củ, quả... được lấy từ rừng kết hợp sắn, ngô và bã
rượu để làm thức ăn cho gia súc. Như vậy thức ăn cho gia súc từ LSNG có vai trò
quan trọng đối với người dân miền núi.
LSNG là nguồn dược liệu qúy: cho đến nay, LSNG vẫn là nguồn dược liệu
chủ yếu và là nguồn thu nhập của người dân ở những vùng mưa thường xanh miền
bắc và miền trung, điển hình là ở Đồng Bằng Bắc bộ và Tây nguyên. Nhiều dược liệu
qúy dùng trong nước và xuất khẩu đều có nguồn gốc từ Lào Cai, Cao Bằng, Lạng
Sơn như sâm ngọc linh, hoàng đằng (để sản xuất bec bê rin) ở Tây nguyên rất nổi
tiếng. Ngày nay nhiều hộ gia đình đã trồng các loại cây dược liệu trong vườn nhà với
nguồn giống từ rừng, như trồng Quế đã trở thành phổ biến ở các tỉnh Đông Bắc, Bắc
bộ và Trà Bồng, Trà My (Quảng Nam), Ba Kích, Hà Thủ ô, Hòe trồng rất phổ biến ở
nhiều nơi. Dược liệu LSNG đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng của nhiều vùng.
Người dân thu hái dược liệu chỉ để sử dụng một phần rất nhỏ còn lại đem bán ra thị

khích người dân thu hái LSNG trong rừng tự nhiên. Bằng phương thức đó LSNG
được xuất khẩu nhưng tài nguyên ngày càng cạn kiệt, nhiều LSNG nay không còn tồn
tại hoặc rất ít không phát hiện được như: cánh kiến đỏ, cánh kiến trắng, sơn, củ nâu.
Từ năm 1973, khi TCLN chuyển thành bộ Lâm Nghiệp, có sự chuyển biến
trong tổ chức quản lý Lâm Nghiệp nói chung và LSNG nói riêng. Một số LSNG được
đầu tư phát triển gây trồng, chế biến, nghiên cứu và được coi là đối tượng kinh doanh
theo một chiến lược của một phân ngành trong ngành Lâm Nghiệp.
Năm 1995, ba bộ Nông Nghiệp, Lâm Nghiệp và Thủy Lợi hợp nhất thành một
bộ mang tên Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn. Các công ty lâm sản xuất
khẩu, các liên hiệp Lâm Công Nghiệp và tổng công ty cơ khí Lâm Nghiệp được tổ
chức hợp nhất thành tổng công ty Lâm Sản sau đổi thành tổng công ty Lâm Nghiệp.
Quá trình biến đổi tổ chức đó đã làm mất dần tính chất chuyên môn hóa của tổ chức
quản lý và đương nhiên LSNG vốn là một tiểu ngành trong Lâm Nghiệp không còn
được quan tâm như trước. Tổng công ty Lâm Nghiệp Việt Nam hoạt động trên các
lĩnh vực sản xuất liên quan đến tài nguyên rừng: trồng rừng, chế biến cung ứng lâm
sản trong đó có LSNG, thiết bị chế biến gỗ.[2]
 Sản xuất Lâm Sản Ngoài Gỗ:
Mặc dù giá trị kinh tế và ĐDSH của LSNG được dánh giá cao nhưng trong
thực tế chưa có điều tra kiểm kê về mặt định lượng. Trong qua trình điều tra kiểm kê
tài nguyên rừng, LSNG hầu như chỉ được đanh giá ngư một tài nguyên tiềm năng và
khả năng đóng góp của chúng vào nền kinh tế quốc dân chỉ bằng cách thông qua công
nghiệp và xuất khẩu. Thiếu phương pháp kiểm kê phù hợp với đặc điểm phân bố của
LSNG tyrong rừng tự nhiên là một trong những nguyên nhân làm cho việc đánh giá
trữ lượng của LSNG gặp khó khăn, cho đến nay vẫn chưa khắc phục được. Nhà nước
tập trung đầu tư vào sản xuất một số sản phẩm cần cho một số ngành sản xuất trong
nước và sẳn có trên thị trường.[2]
Từ năm 1986 đến 1995 sản xuất Lâm Nghiệp chuyển dần sang Lâm Nghiệp xã
hội. LSNG trở thành đối tượng kinh doanh, dù quy mô còn nhỏ song sản xuất LSNG
11
là chủ trương lấy ngắn nuôi dài trong kinh doanh rừng và cũng là một phương thức

nhiên, ai gặp thứ gì quý thì lấy, gặp thú thì săn, thấy cư thì đào,không có ý niệm gì về
đảm bảo tái sinh. Trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn người dân nông thôn, đặc biệt là
vùng núi, phần lớn là người nghèo, sống phụ thuộc vào thiên nhiên, vào tài nguyên
12
rừng, dù họ có kiến thức về bảo vệ đa dạng sinh vật, về tầm quan trọng của rừng đối
với môi trường thì sự từ bỏ thói quen vào rừng hái củi, lấy dược liệu, thực phẩm, vật
liệu làm nhà hoặc kiếm vật phẩm để bán tăng thu nhập vẫn là điều chưa thể có trong
thực tế. Vì vậy chấm dứt tình trạng hái lượm LSNG chưa thành hiện thực, mặc dù ở
vườn Quốc Gia hay khu Bảo Tồn thiên nhiên, nơi đã có quy chế về bảo vệ tài nguyên
rừng chặt chẽ.
Xét về góc quản lý, phải có hướng dẩn kỹ thuật cụ thể để người dân thu hái
LSNG hiểu và áp dụng. Trên thực tế nhà nước chỉ ban hành một số văn bản có tính
chất hành chính là chưa đủ ví dụ như: Quyết định 276/QD ngày 2-6-1991, quy định
về việc quản lý bảo vệ và xuất nhập khẩu động vật rừng; chỉ thị số 260/CT ngày 15-
10-1986 của hội đồng bộ trưởng về việc khai thác trầm hương xuất khẩu; Quyết định
số 364/LSNG ngày 19-10-1991 của bộ Lâm Nghiệp về việc ban hành điều lệ tạm thời
về thiết kế khai thác gỗ,tre, nứa rừng tự nhiên. Trong đó có mẫu dịch quốc doanh đặt
các trạm thu mua ở những nơi có lâm thô sản để dân mang tới bán.dịch vụ đó đương
nhiên là tạo điều kiện cho người dân gần rừng có thể tăng thu nhập, nhưng đồng thời
cũng kích thích họ dua nhau vào rừng thu hái LSNG. Hậu quả là có nhiều loài không
kiệp tái sinh, có nguy cơ tiệt chủng giống như một số động vật rừng quý hiếm là điều
tất nhiên sẽ xảy ra.
Về mặt công nghệ, chỉ mới có quy định quy phạm khai thác nhựa thông, áp
dụng cho trích nuôi dưỡng, trích diệt, phương pháp mở máng, ... những công nghệ
này nhằm mục đích phục vụ có tổ chức dưới sự quản lý của nhà nước. Đối với các
LSNG khác như song mây, quế, măng, tre, nứa,... chỉ có một số quy tắc chung cho
việc khai thác như sau:
+không được gây hại đối với những cây chưa đến độ tuổi khai thác.
+ không đào bới cả gốc rễ đối với những loại không cần lấy củ
+ không làm gãy cành, chồi non của những loại cây mà quả hoặc hoa là sản

Lê Thánh Tông, các làng Cẩm Phô, Thanh Phô, Thanh Hà, Võng Nhi đã xuất hiện
trong đất liền và không bao lâu sau ở cù lao chàm đã có dân cư Đại Việt qua lại khi
làm ăn trên biển.
Đến thế kỷ XIX, Tân Hiệp liên tục được bổ sung các gia đình nhập cư có
người khai thác yến, làm nghề rừng, đánh bắt và chế biến hải sản, cũng như công
việc cung ứng tại chổ nước, củi cho các thuyền buôn đến dừng đậu tại đây. Cho đến
trước và sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt là những năm chiến tranh chống Mỹ ác
liệt, để tránh bom đạn trong đất liền, ở Cù Lao Chàm được bổ sung thêm cư dân từ
các nơi thuộc các địa phương như: Duy Xuyên, Điện Bàn, Đại Lộc...
Xóm Đình là xóm có trước nhất, cổ nhất. Từ xóm Đình về phía Bắc là xóm
Ao, cùng thời kỳ, rồi đến xóm Cấm. Xóm Cấm thực sự là xóm có cách đây khoảng
hơn 200 năm. Từ xóm Đình về phía Nam là xóm Giữa, đến xóm ngoài rồi đến xóm
mới. Xóm Mới xuất hiện thật trọn vẹn từ những năm 60 của thế kỷ XX do chiến
tranh.
14
1.4.2. Điều kiện tự nhiên:
1.4.2.1. Vị trí địa lý:
Cù Lao Chàm là một cụm đảo gồm có 8 hòn đảo lớn nhỏ đó là Hòn Khô Mẹ,
Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Tai và Hòn Ông với tổng
diện tích khoảng 18 km
2
nằm phía đông Bắc thành phố Hội An cách Cửa Đại 15
km,cách trung tâm thành phố 19 km, thuộc phạm vi hành chính xã Tân Hiệp, thành
phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Cù Lao Chàm nằm ở toạ độ địa lý: Từ 15
0
15'20" đến
15
0
55'15" vĩ độ Bắc. Và từ 108
0

1.4.3. Giá trị tài nguyên thiên nhiên
1.4.3.1. Rừng mưa nhiệt đới
Cù Lao Chàm là một trong số rất ít đảo trong cả nước còn giữ được thảm thực
vật có độ che phủ tương đối lớn, khoảng 60 - 70%. Kiểu thảm chiếm diện tích lớn
nhất là rừng thường xanh cây lá rộng nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở độ cao từ 50 -
15
500m. Rừng Cù Lao Chàm vẫn được đánh giá là nơi lưu trữ nhiều nguồn gen động,
thực vật quý hiếm. Ngoài kiểu rừng kín thường xanh, tại sườn phía đông của đảo, địa
hình rất dốc, lớp đất phủ trên bề mặt hầu như không có, vẫn tồn tại một kiểu thảm
thực vật cây bụi và tràng cỏ với các loài đặc trưng như: sến đất, huyết giác và cỏ
cứng. Tại sườn Tây Bắc đặc trưng nhất là thảm phong lan với loài Huyết Nhung tía
gần như thuần loại. Theo thống kê cho thấy hệ thực vật cù lao chàm có 499 loài thuộc
352 chi, 115 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch, chiếm 1/120 tổng số loài, gần
1/6 tổng số chi và gần 1/2 tổng số họ của thực vật Việt Nam. Trong đó có 342 loài có
ích, trên 60% tổng số loài có thể được sử dụng vào các mục đích khác nhau. Nhóm
cây làm thuốc có sự tập trung nhiều nhất, có 116 loài (chiếm 22,8% số loài thống kê
được). Trong nhóm cây làm thuôc đáng chú ý có Hoàng Nhan, cỏ Xước, Bạch Lộ,
Lạc Tiên, Mã Đề và một số loài trong họ Gừng. Nhóm cây cảnh đáng chú ý nhất là
Tuế và cây xanh, phong lan.
Hệ động vật cũng khá phong phú với 12 loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát
và 5 loài ếch nhái. Trong đó đáng chú ý có khỉ đuôi dài và chim yến là 2 loài được
đưa vào sách đỏ động vật Việt Nam.
1.4.3.2. Tài nguyên biển
Khu biển Cù Lao Chàm bao gồm 5175 ha mặt nước, với khoảng 165ha rạn san
hô, 50ha thảm cỏ biển với nhiều loại hải sản có giá trị. San hô: tập trung chủ yếu ở
phía Tây nam đảo cù lao chàm và hầu hết các đảo nhỏ khác. Tổng diện tích các rạn
san hô được ước tính khoảng 20ha. Một số bãi ngầm có độ sâu lớn phía tây đảo Cù
Lao Chàm với phân bố các thảm san hô cứng thuộc nhóm san hô không rạn, tạo nên
những cảnh quan hấp đẫn ở độ sâu 20-35m. Rong biển: Tổng số rong biển được phát
hiện là 76 loài thuộc 4 ngành rong, trong đó có 29 loài được bổ sung cho khu hệ rong

thám sát thu được nhiều cổ vật Champa thuộc thế kỷ VII – X. Vào tháng 5/1999,
đoàn tiến hành mở rộng hố thám sát (phía sau nhà ông Huỳnh Cư) thành hố khai quật
Bãi Làng.
Dựa vào hiện vật phát hiện tại di tích cho thấy Bãi Làng là di chỉ của cư dân
Champa vào thế kỷ VII – X sau Công nguyên. Ngoài ra, dấu vết Champa này còn
xuất hiện rải rác khắp Hòn Lao. Di tích này đã được Bộ VHTT xếp hạng di tích quốc
gia ngày 13/12/2006.
(Nguồn : Trung tâm quản lý bảo tồn di tích Tp. Hội An, 2007. Kỷ yếu Cù Lao
Chàm)
1.4.4.2. Các di sản văn hóa phi vật thể
Cù Lao Chàm có một số truyền thuyết mang đậm tính dân gian: Đá Chồng,
Bãi Hương, lăng Bà Hồng, Chùa Hải Tạng, suối Tình, lăng Bà Cúc, lăng Ông Tư,
Hòn Nhờn, mũi Sập Nần, mũi Trán Quỷ, Hang Đá Nôi, Eo Khó... Một số lễ hội
truyền thống : Lễ giỗ tổ Nghề Yến, lễ hội Cầu Ngư. Liên quan đến đời sống sông
nước biển đảo, các lễ hội, lễ lệ, trò chơi dân gian thể hiện sự đa dạng về nguồn gốc
văn hóa tín ngưỡng, nếp ẩm thực, nếp sống giàu tính bản địa, tính nhân văn sâu sắc.
Khái quát hơn, đó là cách thích nghi với môi trường tự nhiên, xã hội để phát triển của
cộng đồng dân cư nơi đây. Hằng ngày cư dân trên đảo làm các công việc như đan
17
lưới, sơn sửa tàu thuyền, chế biến thực phẩm, đánh bắt gần bờ. Trải qua bao đời, dưới
tác động của đô thị hóa, Cù Lao Chàm vẫn giữ nguyên vẹn trong mình những truyền
thống của mình. Đây là một bộ phận văn hóa phi vật thể có giá trị quan trọng trong
việc định hình nên những giá trị văn hóa riêng về văn hóa vùng đảo và con người nơi
đây. Biểu hiện rõ nét của nếp sống này là tính thích ứng trong sinh hoạt, suy nghĩ,
hành động, là lối sống trọng tình trọng nghĩa, lối giao tiếp, ứng xử thẳng thắn, bộc
trực, là tinh thần trượng nghĩa, sẵn sàng xả thân cứu người nguy hiểm. Người dân
sống với nhau rất nghĩa tình, sẵn sàng sẻ chia những mẻ cá hiếm hoi trong những
ngày trời động, sẵn sàng xả thân cứu giúp nhau và người khác trong cơn hiểm nghèo,
bất trắc.
Chính bộ phận văn hóa phi vật thể này là cội nguồn sâu xa tạo nên sự độc đáo,

8ha và chỉ sản xuất được 1 vụ trong năm. Vì vậy Cù Lao Chàm phải nhập toàn bộ rau
củ, hoa quả và lúa gạo từ Hội An.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô nhỏ và thường chăn thả ở những khu đất
công cộng. Tổng đàn gia súc, gia cầm năm 2009 khoảng 1.950 con, trong đó gia súc
900 con, gia cầm 1.050 con.
Một số người dân sống dựa vào rừng bằng việc đi kiếm củi và hái các loài cây
thuốc, rau rừng để bàn cho người dân và khách du lịch.
 Thương mại – dịch vụ - du lịch:
Nhìn chung việc phát triển kinh tế thương mại tại địa phương còn ở mức nhỏ
lẻ. Toàn xã có 116/588 hộ tham gia kinh doanh chiếm 19,73% trong tổng số hộ dân,
khu vực kinh doanh chủ yếu là chợ Tân Hiệp, thôn Bãi Làng. Các hoạt động thương
mại chủ yếu là buôn bán trao đổi các mặt hàng thiết yếu cho cuộc sống của người dân
như: lương thực, thực phẩm, hải sản, một số đồ dùng gia đình và một số mặt hàng
khác.
1.4.6. Cơ sở hạ tầng của Đảo
1.4.6.1. Giao thông
Giao thông trên đảo chủ yếu là đi bộ. Vận chuyển đương thủy chủ yếu ở tuyến
Hội An – Cù Lao Chàm, tuyến đường thủy này nối liền đảo và đất liền. Tuy nhiên
tuyến đường thủy này hiện nay chỉ có một chiếc thuyền khách với sức chứa từ 50 –
70 chỗ ngồi. Bên cạnh đó còn có một đội thuyền phục vụ du lịch 12 chiếc từ 8 – 10
chỗ ngồi tuy nhiên các điều kiện bảo đảm an toàn chưa cao. Cơ sở hạ tầng phục vụ
giao thông đường thủy hiện nay chỉ có 2 cầu tàu dân dụng, một cầu tàu được xây
dựng từ năm 1960 hiện nay hư hỏng nặng, một cầu tàu mới dài 20m, rộng 10m bằng
gỗ do dân đảo tự làm, chất lượng kém. Ngoài ra còn có một càu tàu quân đội. Hiện
nay đang tiến hành xây dựng một cầu cảng mới tại Bãi Hương.
1.4.6.2. Thông tin liên lạc
Hệ thống thông tin liên lạc trên đảo được nhận định tương đối tốt. Toàn xã có
một bưu điện với hơn 100 máy điện thoại cố định. Xã đã lắp đặt 2 mạng điện thoại di
19
động là Viettel và Mobiphone (lắp đặt tháng 3/2009). Tuy nhiên mạng ở đây còn yếu,

- Xây dựng các cơ chế, chính sách và năng lực quản lý cộng đồng nhằm quản
lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm trong hệ thống các khu bảo tồn biển Quốc gia.
20
- Đề xuất các biện pháp nâng cao điều kiện sống cho nhân dân trên quần đảo
Cù Lao Chàm thông qua cộng đồng địa phương và các đoàn thể.
CHƯƠNG 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu chung
Mô tả thực trạng khai thác và sử dụng LSNG của người dân tại khu dự trử
sinh quyển Cu Lao Chàm, và nêu ra những thuận lợi và khó khăn trong quản lý
21
LSNG qua đó đề xuất một số biện pháp quản lý LSNG phù hợp với quy định hiện
hành và với bối cảnh địa phương.
2.2. Nội dung nghiên cứu
Các nội dung được thực hiện:
 Tìm hiểu thực trạng khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người
dân tại khu dự trữ sinh quyên Cu Lao Chàm.
 Tìm hiểu thực trạng về quản lý, khai thác và sử dụng ở KBT rừng
 Sự phù hợp của các mục tiêu quản lý để bảo tồn trong bối cảnh địa
phương
 Nhu cầu của người dân tại xã đảo Cù Lao Chàm
 Những thế mạnh khi kết hợp mục tiêu quản lý LSNG để bảo tồn với sự
tham gia của người dân.
 Các giải pháp mang tính hưởng lợi đối với người dân
 Các giải pháp mang tính bảo tồn đa dạng sinh học
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin
Thu thập thông tin thứ cấp: trong nghiên cứu này, thông tin từ internet và kế
thừa là 2 công cụ được sử dụng chủ yếu để thu thập thông tin từ UBND xã, cán bộ

sống của họ. từ trước tới giờ việc vào rừng khai thác các nguồn tài nguyên rừng là
công việc hết sức bình thường và diển ra thường xuyên họ khai thác nhiều các loại
cây mây, cây xanh, cây lộc vừng, vạn tuế, cua đá, rau rừng, cây thuốc, khỉ, trăn, rắn,
23
kỳ đà, sóc, chim quốc, chút, cu cu đất…. Từ các loại LSNG có nguồn gốc từ thực vật,
động vật dùng làm thức ăn, làm thuốc, vật liệu xây dựng đến các loại cây lấy gỗ lớn.
Họ thường xuyên vào rừng thu hái các loài rau, củ, săn bắt các loài động vật làm thức
ăn, tìm cây thuốc chửa bệnh, mây làm vật dụng, củi để dun nấu nhằm đáp ứng nhu
cầu hằng ngày và đôi khi đó còn là nguồn thu nhập thêm cho gia đình. Cứ như vậy,
đã hình thành nên những con đường mòn dẫn vào rừng, đó là khu vực để họ khai
thác. Thế hệ trước truyền đạt cho thế hệ sau những kiến thức về cách thu hái từng
loại LSNG, vị trí nào sẽ khai thác được nguồn LSNG gì, từng loại có công dụng sao.
Có thể nhận thấy vào thời gian gần đây việc thu hái của người dân là giảm bớt so với
trước đây là rất nhiều, nguyên nhân do số lượng LSNG không còn nhiều như trước
đây, một phần do số lượng không còn nhiều nên người dân ít khai thác để bảo tồn.
nhưng còn một số người có cuộc sống phụ thuộc vào rừng rất nhiều vào LSNG họ đi
thu hái LSNG về để bán đi tăng thêm thu nhập gia đình và họ không có nghành nghề
khác để thay thế như chú Vinh thôn cấm, chú Ngồ bải ông, chú Công thôn cấm …số
lượng khai thác nhiều, khó kiểm soát. Qua quá trình điều tra từ người dân và từ ban
quản lý rừng.
Nhưng trong những năm gần đây, khi mà tình trạng rừng ngày càng suy thoái
về số lượng và chất lượng nhà nước có nhiều quan tâm hơn đến rừng, đặc biệt là từ
khi xây dựng và thành lập khu bảo tồn Cù Lao Chàm từ 2001- 2003 và công nhận
khu dự trử sinh quyển thế giới 26/5/2009 đến nay thì việc thu hái LSNG của người
dân đã có nhiều thay đổi như các loại động vật khi, kì đà, sóc, rắn, trăn, mây … đã
không còn bị khai thác số lượng đã tăng lên rất nhiều. Nhờ có sự quản lý của cán bộ
bên kiểm lâm và bên xã, luôn động viên, tuyên truyền và chỉ ra nguồn lợi từ rừng cho
người dân biết như giữ cây mây, cây rừng xẽ không bị thiếu nguồn nước như trước
đây, hay không bắt khỉ nó làm cho khách du lịch đến đây để xem nhiều hơn. mà từ đó
mức độ thu hái của người dân đã hạn chế rất nhiều. Việc chặt phá cây làm gỗ lớn làm

loài bò, heo, gà và LSNG. Tuy nhiên LSNG có nhiều vai trò khác nhau như cung cấp
thực phẩm cho bửa ăn hằng ngày, được làm vật dụng cho sinh hoạt hay được sử dụng
như là thảo dược trong lúc ốm đau. Do vậy, việc phân loại LSNG theo mục đích sử
dụng của người dân được chia thành các nhóm sử dụng sau:
Bảng3.1. phân loại theo mục đích sử dụng
Nhóm
Sử dụng
Tổng số
loài
Động
vật
Thực
vật
Phân
bố
Công dụng
Thực phẩm 30 1 29 Rừng Thức ăn
Dược liệu 40 1 39 Rừng Chửa bệnh
Chất đốt 1 0 1 Rừng Đun nấu
Vật dụng gia đình 1 0 1 Rừng Dùng cụ sinh hoạt
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status