khảo sát tình hình bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do mycoplasma gallisepticum trên giống gà mía nuôi trong các nông hộ tại xã phượng tiến – huyện định hoá – tỉnh thái nguyên - Pdf 21

Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
Phần I
MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chăn nuôi, vấn đề dịch bệnh luôn luôn được quan tâm hàng đầu.
Dịch bệnh là vấn đề quyết định sự thành công hay thất bại trong chăn nuôi
đặc biệt là chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp.
Trong những năm gần đây có nhiều bệnh xảy ra gây thiệt hại cho ngành chăn
nuôi gia cầm như cúm gia cầm, Gumboro, Newcatle, viêm đường hô hấp mãn
tính (CRD). Để hạn chế được dịch bệnh cần phải có những nghiên cứu sâu
rộng về đặc điểm của bệnh cũng như cách phòng chống. Đồng thời phải có
sự phối hợp giải quyết nhiều khâu, từ những người chăn nuôi đến những
người làm công tác thú y… mở rộng các chương trình phòng chống dịch và
phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo về dịch bệnh.
Tại xã Phượng Tiến, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên chăn nuôi
ngày càng phát triển mạnh, phương thức chăn nuôi cũng có bước chuyển biến
từ chăn nuôi chăn thả sang chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp. Nhiều
giống gà được đưa vào chăn nuôi như gà Mía, Lương Phượng, Đông Cảo,
Sacso Cùng với sự phát triển của chăn nuôi, nguy cơ xảy ra dịch bệnh kể
trên càng nhiều trong đó có bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do
Mycoplasma gallisepticum, tuy tỷ lệ chết không cao nhưng gà thường chậm
lớn gây thiệt hại kinh tế trong chăn nuôi.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Khảo sát tình hình bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD) do
Mycoplasma gallisepticum trên giống gà Mía nuôi trong các nông hộ tại xã
Phượng Tiến – huyện Định Hoá – tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp
điều trị”.
Khoa thú y
1
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
1.2. MỤC ĐÍCH

3
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
Hình ảnh 2.1. Giống gà Mía nuôi tại Định Hoá – Thái Nguyên
2.2. NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ BỆNH VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP MÃN
TÍNH (CRD) Ở GIA CẦM DO MYCOPLASMA GALLISEPTICUM
Mycoplasmosis còn là tên gọi khác của bệnh. Đây là một bệnh truyền
nhiễm của nhiều loại gia cầm, nhưng phổ biến hơn cả là gà và gà tây. Bệnh
thường xảy ra ở mọi lứa tuổi, gà con dưới 2 tháng tuổi bệnh xảy ra ở thể cấp
tính, gà trưởng thành bệnh xảy ra ở thể mạn tính, tỷ lệ mắc bệnh trong đàn gà
cao, tỷ lệ chết không cao.
2.2.1. Căn bệnh
Bệnh do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây ra song căn bệnh chủ yếu do
Mycoplasma gallisepticum với đặc tính gây ngưng kết hồng cầu gà. Đặc biệt
là M. Gallisepticum có nhiều biến chủng nhưng có đặc tính kháng nguyên
đồng nhất.
-Hình thái: Mycoplasma là loại đa hình thái có thể hình thoi, hình cầu hay
hình sợi… , đây là loại vi khuẩn cực nhỏ có thể đi qua màng lọc và có thể tái
sinh trong môi trường nuôi cấy (Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 1990)
Khoa thú y
4
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
Theo Nguyễn Bá Hiên và cộng sự, 2009, do Mycoplasma có cấu tạo tế
bào chưa hoàn chỉnh, chỉ có màng nguyên sinh chất và thể nhân, không có
màng tế bào nên chúng có hình thái dễ biến đổi như hình hạt nhỏ riêng lẻ
hoặc kết thành đôi, hình chuỗi ngắn có thể hình vòng khuyên, hình ô van,
hình ngôi sao.
-Đặc tính nuôi cấy: Mycoplasma gallisepticum có thể sống hiếu khí hoặc
yếm khí tuyệt đối hoặc tùy tiện, có thể phát triển trong môi trường phôi thai
gà. Mycoplasma gallisepticum cũng có khả năng nhân lên trong môi trường
nhân tạo nhưng đòi hỏi độ dinh dưỡng cao cụ thể là phải có nước chiết tim bê,

nhiễm, đậu gà, Newcatle, Marek. Các bệnh do vi khuẩn thường gây kế phát
với CRD là bệnh do E. coli, Salmonella và Pasteurella. Khi tiêm phòng vi
khuẩn nhược độc cũng dễ dàng làm trỗi dậy bệnh CRD. Song các yếu tố về
dinh dưỡng không đảm bảo như thiếu đạm, vitamin hay chuồng trại không
đảm bảo vệ sinh cũng góp phần làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể tạo
điều kiện cho bệnh xảy ra (Theo Nguyễn Xuân Bính, 2009)
2.2.2. Truyền nhiễm học
Loài mắc bệnh:
Trong thiên nhiên gà, gà tây, gà sao là dễ mắc bệnh. Bồ câu, vịt, ngan,
ngỗng ít cảm thụ. Ở gà tây bệnh này được mô tả dưới tên viêm xoang mũi
truyền nhiễm (Infectious Sinustis in – Turky). Theo Davison và cộng sự, 1982
đã phân lập được bệnh từ gà tây. Theo Bosman và cộng sự, 1983
Mycoplasma đã được phân lập từ vẹt gáy vàng.
Ở gà chăn nuôi theo phương thức công nghiệp bệnh phổ biến hơn gà chăn
nuôi theo phương thức tự nhiên. Do chăn nuôi tập trung mật độ gia cầm cao
rất nhiều thuận tiện cho mầm bệnh lan truyền theo đường hô hấp, hơn nữa sức
đề kháng tự nhiên của gà công nghiệp kém hơn gà địa phương. Mặt khác các
yếu tố dinh dưỡng, điều kiện nuôi dưỡng đối với gà công nghiệp hầu hết có
tính nhân tạo cho nên sức đề kháng của gà công nghiệp thường thấp hơn nhất
là khi điều kiện khí hậu, thời tiết thay đổi đột ngột. Gà bắt đầu đẻ dễ mắc hơn
gà con với triệu chứng bệnh tích điển hình hơn. Ở gà đẻ khả năng mang trùng
rất cao nên đây cũng là nguyên nhân để bệnh lưu hành rộng rãi. So với các
giống gà địa phương thì các giống gà nhập nội có khả năng và tỷ lệ nhiễm
Khoa thú y
6
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
bệnh cao hơn. Khả năng nhiễm bệnh của con vật liên quan chặt chẽ tới sức đề
kháng của cơ thể nên người ta coi bệnh này như một bệnh “chỉ thị” thông báo
về sức đề kháng của gia cầm (Lin và cộng sự, 1987)
Trong một ổ dịch, tỷ lệ gia cầm mắc bệnh rất cao, nhưng tỷ lệ chết rất

và làm viêm nhẹ niêm mạc đường hô hấp, niêm mạc mũi và các xoang xung
quanh, thành túi khí. Khi đó niêm mạc phù nhẹ, lớp dưới bị thâm nhiễm các tế
bào lympho và tế bào đơn nhân tạo nên các hạt nhỏ lấm tấm. Nếu sức đề
kháng của cơ thể tốt, trạng thái cân bằng giữa cơ thể và mầm bệnh xâm nhập
vào cơ thể được thiết lập thì bệnh nổ ra rất mạnh, lây lan toàn đàn, toàn trại.
Trường hợp này thường thấy khi niêm mạc đường hô hấp bị tổn thương do
các virus viêm phế quản, đậu và thanh khí quản. Bệnh càng thể hiện rõ khi
niêm mạc đường hô hấp có một số vi khuẩn E. coli ký sinh, con vật thường bị
kiệt sức rồi chết (Nguyễn Bá Hiên và cộng sự, 2009). Thông qua đường máu
mầm bệnh đi đến các cơ quan trong cơ thể, có thể phân lập được mầm bệnh
trong tủy xương là 26,6%, lách 18,3%, hồng cầu 11,5%, gan 33,7% nhưng có
một thời gian mầm bệnh khu trú ở phổi, túi khí, buồng trứng, tinh hoàn. Thời
gian nung bệnh theo thực nghiệm cho thấy thường là từ 6 – 21 ngày, tuy
nhiên thời gian nung bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào mùa vụ, thể trạng con
vật và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng (Đỗ Tiến Huy và cộng sự, 2008).
2.2.4. Triệu chứng
Bệnh có tính chất lây lan chậm trong chuồng nuôi gia cầm, ở giai đoạn gà
con 3 – 5 tuần tuổi dễ mắc bệnh, sau đó đến gà mái tơ ở lứa tuổi 5 – 6 tháng,
vào thời kỳ đầu đẻ trứng. Thời gian nung bệnh phụ thuộc vào căn nguyên và
bản thân sức đề kháng của cơ thể, thời gian ủ bệnh thường từ 6 đến 21 ngày.
Bệnh kéo dài từ 20 – 68 ngày và có thể lâu hơn (Hồ Đình Chúc và Trần Vạn
Kim, 1988 – 1989).
Các dấu hiệu đầu tiên của bệnh là gà bệnh giảm ăn, khó thở, có âm ran khí
quản, lúc đầu ở một số ít sau đó ở nhiều gia cầm, triệu chứng này thấy rõ về
Khoa thú y
8
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
đêm và sáng sớm. Do bị viêm đường hô hấp kể cả túi khí nên gia cầm thường
hay hắt hơi, ho khan, vảy mỏ, mỏ nửa kín nửa hở. Ho cũng như thở có âm ran
và tiếng kêu đột ngột (khẹc) thường xuất hiện vào ban đêm. Gà ăn ít dẫn đến

Theo kết quả nghiên cứu của Vonsekkel và cộng sự, 1962 đã công bố tổn
thương ở các tổ chức như sau:
Cơ quan Tỷ lệ (%)
Phế quản 97
Thanh quản 82
Mũi 40
Xoang 33
Phổi 13
Túi khí 41
Tổn thương vi thể: Theo E. Jolinson, tổn thương do Mycoplasma
gallisepticum gây ra ở gia cầm rất điển hình và cần phải coi đó là những biến
đổi đặc hiệu nhất, thường thì biểu hiện rõ nhất ở khí quản và phổi.
Thông qua xét nghiệm mô học trong các miếng cắt từ khí quản người ta
quan sát thấy sự tăng sinh tế bào đơn nhân có tính đặc hiệu ở niêm mạc. Các ổ
tăng sinh lympho, các ống tuyến dịch của biểu mô dài ra rõ rệt rất có ý nghĩa
chẩn đoán vì với những biến đổi ấy người ta không thấy có trong các bệnh
khác (A. V. Akulov và V. A. Subin). Trong mô phổi có tăng các tế bào
lympho dạng nang. Đặc biệt trong các phế quản nhỏ có viêm tăng sinh với các
tế bào đơn nhân và tế bào khổng lồ mang tính đặc hiệu của bệnh do
Mycoplasma. Theo Roekel và Olesink đã nghiên cứu thì thấy tổn thương dạng
u hạt này chiếm tỷ lệ đến 22,50% trường hợp bệnh trong tự nhiên, còn ở các
trường hợp gà con mắc bệnh thực nghiệm chỉ đạt tỷ lệ 7%.
Ở bào thai chết vào ngày thứ 8 – 14 người ta thấy thủy thũng và chảy máu
ở đầu, cổ. Ở bào thai chết vào ngày thứ 15 – 21 ngoài hiện tượng xuất huyết
và thủy thũng ở đầu và cổ còn thấy màu trắng ở khớp háng – xương chày rất
dễ phân biệt với các chi có màu đỏ của máu. Các bào thai bị bệnh quan sát
Khoa thú y
10
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
thấy có kích thước ngắn, màng đệm niệu nang dày thêm đục khô dính chặt

Aspergillosis thiếu vitamin A…
Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm: Thường chỉ xảy ra ở những đàn gà con
dưới 6 tuần tuổi. Nếu gà đẻ bị bệnh sẽ có triệu chứng cấp tính, tỷ lệ mắc bệnh
cao. Triệu chứng hô hấp của gà bệnh không phải thể hiện ở phần trên mà ở
phần sâu hơn của đường hô hấp. Một số trường hợp gà bị sưng hầu, sản lượng
trứng tụt đột ngột.
Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm: Bệnh khó chẩn đoán và dễ nhầm
với bệnh Mycoplasma ở thể nhẹ. Trường hợp này có thể kiểm tra tổ chức học
bệnh tích niêm mạc khí quản để phát hiện thể bao hàm, đồng thời có thể phân
lập virus để định bệnh.
Bệnh đậu gà: Có thể nhầm với bệnh đậu yết hầu. Nhưng trong bệnh đậu
màng giả niêm mạc miệng, hầu thường dầy, tràn lan và khó bóc. Ngoài ra
trong ổ dịch đậu, sớm muộn trên một số con cũng có biểu hiện triệu chứng
mụn đậu ngoài da.
Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm:
Chẩn đoán vi khuẩn học: Lấy bệnh phẩm trong xoang mũi, niêm mạc
khí quản, kiểm tra bệnh tích phổi, thành túi khí hoặc canh trùng nuôi cấy,
phết kính, nhuộm giemsa có thể thấy căn bệnh là cầu trực khuẩn nhỏ li ti,
có dạng hình cầu, hình nhẫn, thường tập trung thành từng đám (Nguyễn
Vĩnh Phước, 1978).
Chẩn đoán huyết thanh học: Phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính
với kháng nguyên chuẩn Mycoplasma gallisepticum. Nhỏ một giọt kháng
nguyên chuẩn lên phiến kính, hút một lượng huyết thanh gà đã qua xử lý lên
phiến kính và trộn đều. Sau 1 – 2 phút quan sát kết quả và kết luận. Phản ứng
dương tính thì kháng nguyên sẽ bị ngưng kết thành những hạt nhỏ li ti mà mắt
thường có thể quan sát được. Phản ứng âm tính khi huyễn dịch không có thay
đổi so với ban đầu.
Khoa thú y
12
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51

Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
tác dụng bất lợi của khí hậu chuồng nuôi đối với cơ thể gà. Từ đó mới có
được kết quả phòng bệnh mang tính ổn định và lâu dài hơn.
Điều trị: Trong đàn gà bị bệnh, trước tiên phải cách ly những con ốm, loại
thải những con bị bệnh nặng sau đó tiến hành điều trị bằng kháng sinh với
những con bệnh. Dùng kháng sinh có hoạt tính mạnh như Erythromycin,
Enrofloxacin, Tetracycline, Lincomycin… Bên cạnh đó phải dùng thêm các
loại vitamin nhóm B dùng liên tục trong 3 – 5 ngày. Đối với những con còn
lại trong đàn điều trị kháng sinh dự phòng với liều tương tự (Jordan và cộng
sự, 1998).
2.3. NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ MYCOPLASMA
2.3.1. Giống vi khuẩn mycoplasma
Năm 1898, hai nhà bác học người Pháp là Enocard và Ronx đã phát hiện
ra bệnh viêm màng phổi ở động vật có sừng do một loại vi khuẩn có tên
Arterococcus mycoindex gây lên. Tới năm 1929, Ednard và cộng sự đã chứng
minh được căn nguyên chính là do Mycoplasma pneumonia.
Đến năm 1960, Hofstad lần đầu tiên phát hiện bệnh xảy ra ở gà và đặt
tên là bệnh do Mycoplasma gallisepticum và Brion gọi là bệnh
Mycoplasmosis ở gà. Tháng 5 năm 1961, tại Hội nghị Quốc tế về Thú y lần
thứ 19 đã thống nhất đổi tên bệnh thành “viêm phổi và màng phổi do vi
sinh vật đường hô hấp”.
Mycoplasma là vi sinh vật có phương thức sống dinh dưỡng độc lập, kích
thước khoảng 150 – 300nm, khó thấy dưới kính hiển vi quang học thông
thường. Klineberger, Smeils và các nhà nghiên cứu khác cho rằng tính đa
dạng của Mycoplasma gây nên bởi nguyên sinh chất loãng mà vỏ tế bào cứng
không có, mặc dù chúng có màng ngoài. Mycoplasma bắt màu gram âm, có
tính đa hình thái, đường kính khuẩn lạc chỉ khoảng 0,1 – 1,0nm.
Mycoplasma có 19 serotype từ A đến S (Yoder và Hofstael, 1964),
nhưng trong thực tế có serotype gây bệnh là: Mycoplasma gallisepticum,
Khoa thú y

0
C
trong 3 – 5 ngày, khi soi kính hiển vi với ánh sáng chếch có thể thấy khuẩn
lạc hình tròn, nhẵn thường xuất hiện theo ria cấy, kích thước khuẩn lạc từ 0,2
– 0,3µm.
Trong môi trường nước thạch lỏng: Khi phát triển khuẩn lạc không làm
vẩn đục hoặc chỉ làm hơi vẩn môi trường (Đào Trọng Đạt, 1978).
Khoa thú y
15
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
Trên môi trường nuôi cấy tế bào Mycoplasma chuyển màu môi trường
thành màu hơi vàng và có vẩn bông nhẹ.
Mycoplasma nuôi cấy được trên môi trường tế bào phôi gà một lớp.
Có thể nuôi cấy Mycoplasma trên môi trường nhân tạo và trên phôi trứng.
Môi trường nuôi cấy Mycoplasma đòi hỏi độ dinh dưỡng cao có từ 15 – 20%
huyết thanh (lợn, ngựa) và 10% nước chiết nấm men, độ pH = 7 – 8.
Mycoplasma không mọc trên môi trường bình thường, để Mycoplasma
gallisepticum mọc được trên môi trường cần giàu protein, steroid,
hydratcacbon và vitamin. Nuôi cấy Mycoplasma gallisepticum trên môi
trường đặc biệt (Prokopheve, 1972) trong các môi trường đó người ta thêm
20% huyết thanh ngựa (lợn hoặc gà), chất chiết xuất của nấm men, 10% gan,
20% chất lỏng niệu nang của phôi gà, 0,5 glucose cùng nhiều chất khác.
2.3.3. Đặc tính sinh hóa
Các chủng Mycoplasma lên men glucose, maltose, dextrin sinh axit
không sinh hơi.
Không lên men lactose, maltose cũng rất khác nhau.
Không phân hủy gelatin, không thay đổi sữa.
Phản ứng arginin âm tính.
Các chủng Mycoplasma gây bệnh tạo ra độc tố hemalysin có tính chất gây
kết nguyên, có chứa ngưng kết nguyên huyết cầu Mycoplasma gallisepticum

phân hủy khi có kháng thể thông qua phản ứng ngưng kết nhanh và kết hợp
bổ thể (Kleven, 1982).
Khoa thú y
17
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
2.3.5. Sức đề kháng và ảnh hưởng của mycoplasma lên cơ thể động vật
Ảnh hưởng của Mycoplasma lên cơ thể động vật
Trong nhóm Mycoplasma thì hầu hết chúng có tác dụng gây bệnh cho cơ
thể động vật nuôi ở mức độ khác nhau, trong số đó nhiều khi không thể hiện
triệu chứng lâm sàng mà phải nhờ vào yếu tố stress bất lợi. Theo Brelt
Badertocke, 1976, trong số các Mycoplasma gây bệnh thì những loại
Mycoplasma thuộc nhóm protein là có tính cường độc cao nhất.
Quá trình sinh sản của Mycoplasma trong cơ thể vật chủ xảy ra rất nhanh,
chúng dính chặt vào tế bào vật chủ sử dụng aminoacid của tế bào vật chủ để
tự tổng hợp ADN và tạo ra các chất chứa aminoacid, các men peroxydaza có
tác dụng phá hủy trao đổi chất của tế bào vật chủ, làm giảm quá trình tổng
hợp protein, acid nucleic. Khi đó tế bào vật chủ tạo ra các khí khổng chèn ép
nhân, phân tách ribosom ngăn cản ARN thông tin dẫn đến sự thoái hóa làm
cho tế bào vật chủ không tạo được interferon, interferon là chỉ số thích nghi
và bảo vệ cơ thể. Mycoplasma rất dễ dàng đi qua các màng tổ chức vào máu,
trong quá trình đó màng vi khuẩn chứa lypolipid là một loại độc tố với tế bào
vật chủ, làm giảm chức năng thực bào, hạn chế hệ thống miễn dịch. Trong
trường hợp nhiễm Mycoplasma quan sát hiện tượng thâm nhập của tế bào đơn
nhân lymphocyte, tế bào lymphocyte là những tế bào của hệ thống miễn dịch
của cơ thể vật chủ bao vây Mycoplasma và có cả kháng thể. Mycoplasma có
tác dụng ức chế các phản ứng tế bào làm cho quá trình tạo miễn dịch gặp
nhiều khó khăn và quá trình bệnh lý càng phức tạp, đặc biệt Mycoplasma có
tác dụng thúc đẩy các vi khuẩn khác thâm nhập cùng gây bệnh, do đó trong
các trường hợp ta còn thấy các bệnh ghép.
Sức đề kháng: Theo các kết quả nghiên cứu cho thấy với các chất sát

0
C
trong 12 – 13 giờ. Theo Fabrican, 1953, khả năng sống sót của Mycoplasma
gallisepticum giữ ở 25
0
C sau 1 năm là 60%, sau 2 năm là 35% và sau 3 năm
là 13%. Theo hai nhà khoa học Yoder và Hoftard thì trong môi trường nước
thịt Mycoplasma gallisepticum sống được 2 – 4 năm ở nhiệt độ -30
0
C.
2.3.6. Đặc tính gây bệnh
- Trong tự nhiên: Gà, gà tây, gà sao vẫn mẫn cảm nhất, các gia cầm
khác ít mẫn cảm hơn, gà giống nhập nội ít mắc hơn gà giống nội địa. Bệnh ở
thể cấp đối với gà con, thể mạn đối với gà lớn (Nguyễn Bá Hiên và cộng sự,
2009). Triệu chứng của bệnh: nghe thấy âm ran khí quản vào ban đêm và sáng
sớm, viêm kết mạc mắt, vươn cổ, há mỏ để thở, ỉa phân xanh phân trắng.
- Trong phòng thí nghiệm: Chim bồ câu, chim đa đa, chuột bạch có
thể mắc bệnh (K. W. Winterfild), gây bệnh ở bào thai 9 – 10 ngày tuổi, bào
thai chết vào ngày thứ 3 – 5 sau khi nuôi cấy.
- Khi sức đề kháng của cơ thể tốt thì bệnh diễn ra ở mức độ nhẹ hoặc ở
thể ẩn tính. Ngược lại khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút hoặc do yếu tố
Khoa thú y
19
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
stress, chăm sóc nuôi dưỡng kém, không đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật, thời
tiết thay đổi đột ngột, các mầm bệnh khác thì bệnh xảy ra cấp tính và nặng hơn.
2.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH CRD Ở GÀ
2.4.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo một số tài liệu thu được thì CRD ở gà xuất hiện ở Việt Nam từ
lâu, nhưng được nhìn nhận dưới hội chứng hen suyễn, khó thở. Cho đến năm

nhanh trên phiến kính, tác giả đã thu được kết quả như sau (Trương Quang,
1996 – 1998):
Ngày
tuổi kiểm
Gà hybro Gà ISA
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương
tính
Tỷ lệ (%)
Số mẫu
kiểm tra
Số mẫu
dương
tính
Tỷ lệ
(%)
80 150 10 6,67 150 12 8,00
120 80 3 3,75 80 4 5,00
180 80 2 2,50 80 3 3,75
Tổng 310 15 4,84 310 19 6,13
Kết quả điều tra tỷ lệ nhiễm Mycoplasma gallisepticum và Mycoplasma
synovial trên gà công nghiệp huyện Thủ Đức TP. HCM (Huỳnh Thị Bạch Yến
và Nguyễn Phước Ninh, 1999)
Tỷ lệ nhiễm Mycoplasma gallisepticum và Mycoplasma synovial trên
gà đẻ trứng giống ở trại A:
Ngày tuổi M. gallisepticum (%) M. synovial (%)
0 – 30 50,00 37,50
80 40,00 43,33

2.5.1. Khái niệm về kháng sinh
Kháng sinh là thuật ngữ Việt Nam phiên âm từ danh từ Hán Việt (kháng
sinh tố). Danh pháp quốc tế là Antibiotic. Theo Abraham.E.D, 1981 trước kia
Khoa thú y
22
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
danh từ này dùng để chỉ một nhóm chất có nguồn gốc sinh vật, có tác dụng
kìm hãm hay tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh cho người và gia súc, ở liều lượng
nhỏ không hoặc ít có tác hại cho vật chủ. Ngày nay khái niệm thuốc kháng
sinh được mở rộng hơn.
Kháng sinh là những chất hữu cơ có cấu tạo hóa học phức tạp có nguồn
gốc tự nhiên hoặc bán tổng hợp, với nồng độ thấp đã có tác dụng (cả invivo
và invitro), ức chế sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật gây bệnh nhưng
không gây bệnh cho người, gia súc, gia cầm.
Khác với chất sát trùng và tẩy uế kháng sinh không phá tế bào cơ thể. Nó có
tác dụng chọn lọc trên nguyên nhân gây bệnh (là vi khuẩn) do vậy ít gây độc hại
đối với tế bào vật chủ. Đặc tính chọn lọc của kháng sinh là nhờ khả năng ức chế
chọn lọc một số khâu trong quá trình sinh lý, sinh hóa của vi khuẩn gây bệnh.
Các khâu này có vai trò thứ yếu hoặc không có ở cơ thể người và động vật. Tuy
nhiên kháng sinh không phải là vô hại đối với cơ thể. Tác dụng phụ thường gặp
là các phản ứng dị ứng, rối loạn tiêu hóa, có trường hợp gây sốc quá mẫn. Một
số kháng sinh có thể gây độc với gan, thận, hệ tuần hoàn… Vì vậy kháng sinh có
thể được coi là con dao hai lưỡi chỉ sử dụng khi thật cần thiết.
2.5.2. Phân loại kháng sinh
Tùy theo mục đích và đối tượng nghiên cứu mà có nhiều cách phân loại
kháng sinh như phân loại theo nguồn gốc, phạm vi tác dụng, kiểu tác dụng, họ
kháng sinh… Tuy nhiên, cho tới nay cách phân loại kháng sinh dựa vào cấu
trúc hóa học và cơ chế tác dụng của kháng sinh đối với từng loại vi sinh vật là
phổ biến và hợp lý nhất. Dựa vào cách phân loại này kháng sinh được chia
thành các nhóm sau:

kìm khuẩn và nhóm kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn.
+ Nhóm diệt khuẩn: một kháng sinh được coi là có tác dụng diệt khuẩn
với nồng độ ức chế tối thiểu có khả năng làm cho các chủng vi khuẩn chỉ
còn sống sót ít hơn 0,01% sau 24 giờ. Vì vậy trong trường hợp gia súc, gia
Khoa thú y
24
Khóa luận tốt nghiệp Đinh Thị Yên – TYC51
cầm bị nhiễm khuẩn nặng bao giờ cũng chọn những kháng sinh có tác dụng
diệt khuẩn.
+Nhóm kháng sinh có tác dụng kìm khuẩn là những loại kháng sinh không
trực tiếp giết chết vi sinh vật mà nó tham gia vào một quá trình nào đó trong
sinh tổng hợp protein của vi sinh vật làm gián đoạn quá trình nhân lên dẫn
đến tác dụng kìm khuẩn. Nhóm này bao gồm Tetracyclin, Chloramphenicol,
Lincosamid, các Macrolid, các dẫn xuất của Sulphamid và Nitrofuran (Bùi
Thị Tho, 2008).
2.5.3. Một số kháng sinh mẫn cảm với mycoplasma
2.5.3.1. Oxytetracyclin
Theo Bùi Thị Tho, 2008, Oxytetracyclin là một dẫn xuất thuộc nhóm
kháng sinh Tetracyclin, đây là một loại kháng sinh có hoạt phổ kháng sinh rất
rộng, tác dụng với cả vi khuẩn gram (+) và gram (-) .
-Cơ chế kháng sinh: Tác dụng kháng khuẩn của Oxytetracyclin giống với
cơ chế tác dụng của nhóm kháng sinh Tetracyclin. Cơ chế tác dụng của thuốc
kháng sinh thông qua nhiều cách khác nhau.
Ức chế tổng hợp Protein của vi khuẩn, gắn vào tiểu phần 30s, bao vây sự
kết hợp của amino – acid ARN vào vị trí nhận ở phức hợp ribosom – ARN
thông tin, tác dụng kìm khuẩn.
Số đông vi khuẩn trong quá trình sống cần acid glutamic trong hô hấp mô
bào, Oxytetracyclin làm rối loạn quá trình phosphoryl hóa làm cho vi khuẩn
ngừng phát triển.
Oxytetracyclin làm rối loạn sự tách axetat trong trao đổi chất dẫn đến vi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status