Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nhìn chung nông thôn Việt Nam có cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa
dạng, giàu giá trị văn hoá và môi trường trong lành. Tuy nhiên, hiện tại nông
thôn Việt Nam đang chịu tác động sâu sắc của quá trình hướng tới xã hội
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra ở nước ta. Nhiều tác động diễn ra
hàng ngày làm thay đổi tận gốc cách làm ăn, cách nghĩ của con người cũng
như môi trường sống của họ.
Ngày nay, nông thôn đã có những thay đổi to lớn về kinh tế xã hội, phần
lớn ở khu vực đồng bằng đều có điện, có trường học, 100% số xã có trạm y tế,
có nhà trẻ. Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 của nước ta được
Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX Đảng cộng sản Việt Nam thông qua năm
2001 đã xác định quan điểm là: “phát triển nhanh, hiệu quả bền vững, tăng
trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi
trường” (Văn kiện Đại hội. NXB chính trị quốc gia Hà Nội, 2001, trang 162).
Chất lượng cuộc sống của con người nay không chỉ là những điều kiện
về ăn, mặc, ở…mà còn về chất lượng không khí hít thở hằng ngày, chất lượng
nước để uống, tắm rửa…Vì vậy, các bộ ngành các chính quyền địa phương
trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nhìn từ góc độ tổng quan về môi trường
để có quyết định phát triển ở địa phương mình.
“Nước ta là một nước nông nghiệp với 75% dân số và nguồn lực lao
động xã hội đang sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn, với hơn 3 triệu
hộ nông dân, lực lượng sản xuất này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát
triển kinh tế xã hội. Theo số liệu thống kê (1998-2002), nông thôn tạo ra
khoảng 1/3 tổng sản phẩm quốc dân. Tỷ trọng công nghiệp mới chiếm 13,8%,
1
dịch vụ 14,7%, nông nghiệp 71,45% trong tổng giá trị sản xuất. Tỷ trọng công
nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu thu nhập của nông dân giữa thành thị và nông
thôn là 2 lần và có khả năng tăng lên. Hơn 90% số hộ nghèo tập trung ở vùng
nông thôn” (Nguyễn Ngọc Nông, 2006) [8].
- Thông qua nghiên cứu chuyên đề, nâng cao hiểu biết của người dân về
vấn đề bảo vệ môi trường
- Đề xuất các giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở các ngành
nghề khác nhau.
- Thu thập các thông tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại
xã Quảng An
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực
- Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi; bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các
thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
- Các kiến nghị được đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và có
tính khả thi cao.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác sau này.
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
- ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Kết quả của chuyên đề sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của
người dân về việc bảo vệ môi trường.
3
+ Làm căn cứ để cơ quan chức năng tăng cường công tác tuyên truyền
giáo dục nhận thức của người dân về môi trường.
+ Xác định hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Quảng An huyện
Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh.
+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho khu vực nông thôn thuộc
tỉnh Quảng Ninh nói chung.
4
Dân số Thế giới đã lên tới 5,769 tỷ người và tiếp tục tăng tới 8,5 tỷ
trong 3 thập kỉ tới. Trong đó, 83,5% là dân số các nước đang phát triển. Sau
năm 2025, tốc độ tăng dân số sẽ chậm lại và lên tới 10 tỷ vào năm 2050.
Tốc độ tăng trưởng dân số Thế giới là 1,68% trong thời gian từ năm
1990-1995 đã giảm xuống còn 1,43% trong thời gian từ năm 2000-2005.
Hiện nay mỗi năm trên Trái đất có khoảng 93 triệu trẻ sơ sinh, vào đầu
thế kỷ XXI con số này là 92 triệu. Ở Châu á tốc độ tăng trưởng dân số hiện
nay là 1,78% và sẽ giảm xuống còn 1,39% trong thời gian từ năm 2000-2005.
Những vấn đề về tài nguyên môi trường mà tăng trưởng dân số đặt ra là:
- Lương thực: Trái đất đủ sức nuôi sống hai lần dân số hiện nay không?
việc thiếu hụt lương thực cho dù chỉ là 10-20% lượng cần thiết sẽ dẫn đến hậu
quả gì?
- Nhà ở và các nhu cầu vệ sinh, sức khoẻ, dịch vụ: xã hội loài người
hiện nay có đủ khả năng sản xuất, phân phối cho mỗi con người các điều kiện
cần thiết để duy trì cuộc sống tương xứng với văn minh mà con người đã xác
định được sau quá trình phát triển trên 1 triệu năm?
- Chất lượng môi trường: Có phải lúc dân số tăng lên 2 lần thì các nguồn
ô nhiễm cũng tăng lên như vậy hay không?
* Suy giảm tài nguyên đất:
Hậu quả môi trường gắn liền trực tiếp với gia tăng dân số và suy giảm
tài nguyên đất. Theo số liệu của viện Tài nguyên Thế giới, vào năm 1993 quĩ
đất cho toàn nhân loại là 13.041,7 triệu ha, trong đó trồng trọt chiếm khoảng
20,6%, đồng cỏ 69,6%. Diện tích đất bình quân đầu người trên toàn Thế giới
6
là 2.432 ha, ở Châu á là 0,81 ha, ở Châu Âu là 0,91 ha. Phần lớn đất trồng trọt
tăng thêm chủ yếu lấy từ đất rừng, gây nên những hậu quả xấu về môi trường.
* Đô thị hoá mạnh mẽ:
Dân số đô thị tăng lên nhanh chóng với tốc độ 3% hàng năm cho toàn
Thế giới và 3-5% cho khu vực Châu á - thái Bình Dương. Năm 1995, 45%
dân số Thế giới sống ở các đô thị. Dự báo đến năm 2020 tại các nước đang
không thể nuôI sống họ nên họ đã phải bỏ làng xóm để đi tìm việc làm tại các
đô thị.
* Tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập không đều:
Có thể nói rằng trong thập kỷ cuối cùng cùng của thế kỷ XX, tất cả các
quốc gia từ các quốc gia đang bị nội chiến tàn phá đều có những cố gắng vượt
bậc để phát triển kinh tế và đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, sự
không đồng đều về kinh tế, thu nhập và mức sống vật chất giữ các quốc gia
ngày càng tăng.
Đầu thập kỷ 90, Hoa Kì vẫn là nước có tổng sản phẩm xã hội cao nhất
Thế giới=5,6 tỷ USD, tiếp đó là Nhật Bản với tổng sản phẩm xã hội bằng 3,3
tỷ USD.
Trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương, vùng có tăng trưởng kinh tế
cao với tốc đọ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội trên 6% trong những năm
đầu thập kỷ 90. Phần Đông Nam á và Đông Bắc á có tốc đọ tăng trưởng lớn
hơn 7% trong lúc phần Nam á chỉ tăng trưởng nhỏ hơn 4%.
Tốc đọ tăng trưởng kinh tế cao kéo theo nhu cầu lớn về tài nguyên thiên
nhiên, nhân lực, cơ sở hạ tầng thúc đẩy quá trình đô thị hoá. Nếu không quản
lý tốt thì đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy thoái môi trường.
Sự phân bố thu nhập trong khu vực phân bố không đều 25% dân số sống
dưới mức nghèo khổ. Điều này tạo nên một áp lực mạnh mẽ đối với tài
nguyên thiên nhiên do những người nghèo khổ, không vỗnv, không phương
8
tiện và thiết bị chỉ còn cách kiếm sống độc nhất là khai thác cùng kiệt tài
nguyên thiên nhiên còn ở trong tầm lao động của họ .
* Nhu cầu về lương thực tăng nhanh:
Trong hai thập kỷ 70-80, năng lượng tiêu thụ trên toàn Thế giới đã tăng
thêm 45% và lên tới 321420 petajoule (1050joule), hay 60 pj/đầu người. Sự
tiêu thụ rất không đồng đều theo quốc gia, Hoa Kì tiêu thụ hàng năm
320petajoule/đầu người bằng 35 lần ấn Độ, hoặc 23 lần Trung Quốc, hoặc 80
lần Vịêt Nam.
Rác thải bình quân vào khoảng 0.4-1.5kg/người/ngày và ngày càng tăng
lên đồng biến với tăng trưởng của thu nhập Quốc dân. Thành phần của rác
thải cũng thay đổi theo hướng tăng lên của bộ phận rác không thể chế biến
thành phân hữu cơ được. Với sự phát triển của công nghiệp lượng rác thải rắn
trở nên rất lớn. Hoa Kì mỗi năm phải xử lí, chôn vùi 150 triệu tấn rác thải.
ở các đô thị và khu công nghiệp, rác thải rắn cũng trở thành vấn đề
nghiêm trọng. Trong hơn 20.000 m
3
rác thải/ngày của các đô thị thì khoảng
50% số này được thu gom và xử lý thô sơ. Trong rác thải rắn có cả những
chất độc hại như kim loại nặng, nguồn dịch bệnh nguy hiểm.
2.2.2. Các vấn đề môi trường nông thôn ở nước ta
Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn do
bộ y tế và UNICEF thực hiện được công bố ngày 26/03/2008 cho thấy VSMT
và vệ sinh cá nhân còn quá kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình, 11,7%
trường học, 36,6 trạm y tế xã 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến xã có
nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của Bộ y tế (Quyết định 08/2005/QĐ-BYT); Tỷ lệ
người dân nông thôn được sử dụng nước sạch còn rất thấp 7,8% khu chợ nông
10
thôn; 11,7% dân cư nông thôn; 14,2% trạm y tế xã; 16,1% UBND xã; 26,4%
trường học có tiếp cận sử dụng nước máy; Ngoài ra, kiến thức của người dân
về vệ sinh cá nhân và VSMT còn rất hạn chế, thái độ của người dân còn rất
bằng quang về vấn đề này [17].
Theo Lê Văn Khoa, Hoàng Xuân Cơ (2004) [6]. Nước ta là một nước
nông nghiệp, 74% dân số đang sống ở khu vực nông thôn và miền núi với
khoảng 20%số hộ ở mức đói nghèo. Những năm gần đây, các hoạt động nông
nghiệp cùng với những hoạt động dịch vụ, sinh hoạt đã làm xuất hiện nhiều
vấn đề môi trường có tính chất đan xen lẫn nhau và ở nhiều nơi, nhiều chỗ đã
và đang trở nên bức xúc.
Những vấn đề này gây tác động mạnh mẽ và lâu dài đến hệ sinh thái
Việt Nam đang phải sinh hoạt với những nguồn nước như thế nào. ở vùng
Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi có tỷ lệ cao nhất cũng chỉ 39% dân số được
sử dụng nước sạch. Còn vùng thấp nhất là vùng núi phía Bắc, chỉ có 15% dân
số được cấp nước sạch.
Tình trạng ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khoẻ, là
nguyên nhân gây các bệnh như tiêu chảy, tả, thương hàn, giun sán… Các
bệnh này gây suy dinh dưỡng, thiếu sắt, thiếu máu, kém phát triển, gây tử
vong nhất là trẻ em. Có 88% trường hợp tiêu chảy là do thiếu nước sạch,
VSMT kém. Có thể thấy, nguyên nhân gây tình trạng ô nhiễm môi trường và
nguồn nước ở nông thôn do các nguyên nhân cơ bản sau:
+ Đầu tiên phải kể đến tình trạng sử dụng hoá chất trong nông
nghiệp như phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan và
không có kiểm soát.
Nhìn chung, lượng phân bón hoá học ở nước ta sử dụng sòn ở mức trung
bình cho 1 ha gieo trồng, bình quân 80-90 kg/ha (cho lúa là 150-180 kg/ha),
so với Hà Lan 758kg/ha, Hàn Quốc 467kg/ha, Trung Quốc 390kg/ha. Tuy
12
nhiên việc sử dụng này lại gây sức ép đến môi trường nông nghiệp và nông
thôn với 3 lý do: Sử dụng không đúng kỹ thuật nên hiệu lực phân bón thấp:
Bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phận đạm; Chất lượng phân bón
không đảm bảo, các loại phân bón N-P-K, hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng do
các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trôi nổi trên thị trường không đảm bảo chất lượng
đăng kí, nhẵn mác, bao bì nhái, đóng gói không đúng khối lượng đang là áp
lực chính cho nông dân và môi trường đất. [6]
+ Ngoài ra miền Bắc Việt Nam còn tồn tại tập tục sử dụng phân Bắc,
phân chuồng tươi vào canh tác. ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), phân
tươi được coi là thức ăn cho cá, gây ô nhiễm môi trường đất, nước và ảnh
hưởng sức khoẻ con người.
+ Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu; thuốc trừ nấm;
thuốc diệt chuột; thuốc trừ cỏ. Các loại này có đặc điểm là rất độc với mọi
BVTV còn rất tuỳ tiện, không có nơi bảo quản riêng, nhiều hộ để thuốc
BVTV trong nhà, trong bếp, trong chuồng nuôi gia súc.[6]
Theo Phạm Ngọc Quế (2003)[11] hiện tại số hộ ở nước ta chăn nuôi gia
súc gia cầm là rất phát triển nhưng phương thức chăn nuôi lạc hậu (thả rông,
làm chuồng dưới nhà sàn, phân để trong chuồng lâu không được xử lý hoặc
dọn rửa chuồng xả bừa bãi vào các nguồn nước…) đã làm cho môi trường
nông thôn ngày càng ô nhiễm. Ngoài lượng phân, còn có nước tiểu, thức ăn
thừa cũng chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng số chất thải do chăn nuôi
đưa đến. Rõ ràng nếu lượng phân này không được xử lý tốt chắc chắn sẽ tạo
ra một sự ô nhiễm đáng kể đối với vệ sinh môi trường.
14
Nguyên nhân thứ hai gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn là do chất thải
rắn từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân. Hiện nay cả nước có khoảng
1450 làng nghề, phân bố trên 58 tỉnh thànhvà đông đúc nhất ở đồng băng
Sông Hồng, vốn là cái nuôi của làng nghề truyền thống, với tổng số 472 làng
nghề các loại tập trung chủ yếu ở các tỉnh như Hà Tây (nay thuộc Hà Nội),
Thái Bình, Bắc Ninh…Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản
xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ sản xuất lạc hậu chiếm phần lớn (trên
70%). Do đó đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nông thôn, tác
động xấu đến môi trường đất, nước, không khí, sức khoẻ của người dân làng
nghề.[6]
Ô nhiễm không khí: Hầu hết nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là
than. Do đó lượng bụi và các lượng khí CO, CO
2
, SO
2
và NO
x
thải ra trong
quá trình sản xuất trong làng nghề khá cao. Theo kết quả điều tra tại các làng
12.800.000 6.400.000 6.400.000
Chất thải nguy hại từ nông nghiệp
(tấn/năm)
128.400 125.000 2.400
Chất thải nguy hại từ công nghiệp
(tấn/năm)
2.510.000 1.740.000 770.000
Chất thải y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000 - -
Tỷ lệ thu gom trung bình (%) - 71 20
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung
bình theo đầu người (kg/người/ngày)
- 0,8 0,3
Một nguyên nhân nữa dẫn đến sự xuống cấp của môi trường nông thôn
là do tổ chức trong lĩnh vực VSMT nông thôn còn phân tán. sự phối hợp các
Bộ ngành chưa tốt. Nhà nước chưa có chính sách huy động sự tham gia đóng
góp của các thành phần kinh tế để cùng với người sử dụng xây dựng công
trình vệ sinh mà vẫn áp dụng cách tiếp cận dựa vào cung cấp là chính. Về
pháp chế vẫn còn thiếu các quy định và hướng dẫn cụ thể để có thể quản lý tốt
trong lĩnh vực vệ sinh môi trường. Đa số hộ chưa có hố xí đạt tiêu chuẩn vệ
sinh, nhất là vùng bị ngập lụt, vùng ven biển nơi có mật độ ngư dân cao [11].
Hiện trạng về VSMT nông thôn vấn còn nhiều vấn đề bức xúc. Chất
lượng của chúng ngày một tăng, lan tràn làm ô nhiễm đất, nước kể cả ngấm
sâu dưới mặt đất hàng choc, hàng trăm mét. Ô nhiễm môi trường gây ra do
con người trong hoạt động nông nghiệp, công nghiệp chế biến các sản phẩm
16
nông nghiệp, chăn nuôi và do những chất thải sinh hổặt các khu vực phân bố
dân cư.
2.3. Hịên trạng môi trường tỉnh Quảng Ninh
2.3.1. Hiện trạng môi trường nước
2.3.1.1. Môi trường nước mặt
đục và BOD thường cao do nước thải nhà máy điện, nước thải sinh hoạt của
dân cư hai bên bờ các sông, khai thác than trên thượng nguồn sông. Trong đó
chịu ảnh hưởng rõ rệt nhấtláông Vàng Danh, TSS vượt giới hạn A trên 5 lần,
BOD vượt giới hạn A (tiêu chuẩn nước cấp cho sinh hoạt) gần 4 lần theo tiêu
chuẩn TCVN 5942-1995. Chất lượng nước sông Sinh nằm đạt tiêu chuẩn loại
B theo tiêu chuẩn TCVN 5942-1995, diễn biến hàm lượng TSS như các năm
trước. Sông Uông vào mùa mưa, hàm lượng TSS là 205,2mg/l, vượt GHCP 2,
56 lần, mùa khô 152mg/l, vượt 1,9 lần so vói giới hạn cho phép, diễn biến
hàm lượng TSS cao hơn năm trước 2000-2005 ()từ 11,2-121mg/l).
Nước sông tại các vùng nông thôn như sông Cầm, sông Bình Hương…
nước sông bị ảnh hưởng bởi nước thải, rác thải, hoạt động sản xuất nông
nghiệp (sử dụng thuốc BVTV, hoá chất, phân khoáng).
+ Nước hồ
Chất lượng nước hồ khu vực phía tâytỉnh Quảng Ninh: Đông Triều (hồ
Nội Hoàng, Cổ Lễ Tân yên, Khe Ươn I, II, Rộc Chày, Yên Dưỡng, Cầu
Cuốn), Uông Bí (Lán Tháp) vẫn chịu tác động mạnh của tình trạng khai thác
than phía thượng nguồnvà ngay cạnh các hồ làm cho nước bị axit hoá (pH<4),
nhiều hồ bị thu hẹp do đât đá thải than trôi lấp. Diện tích hồ Nội Hoàng, Cầu
Cuốn bị giảm do các bãi thải mỏ bồi lấp. Kết quả quan trắc năm 2006 cho
18
thấy, pH tại hồ Nội Hoàng rất thấp (3,6-3,8) và thấp hơn các năm 2004-2005
(4,1-6,9).
Chất lượng nước hồ khu vực phía đông tỉnh Quảng Ninh: Hồ Quất
Đông, hồ Tràng Vinh cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất. Vào mùa
khô, tại các hồ Quất Đông khi mực nước kiệt, gió mạnh, nước hồ bị xáo
trộn khiến gia tăng hàm lượng TSS (mùa mưa 29,15mg/l, mùa khô là
101,1mg/l, cao hơn nhiều so với các năm trước (từ 0,8-6mg/l), vượt quá
giới hạn A của TCVN 5942-1995 quy định đối với mực nước mặt ding
làm nguồn cấp nước sinh hoạt.
2.3.1.2. Hiện trạng nước biển, ven bờ
2.3.2. Hiện trạng môi trường không khí
Môi trường không khí ở khu vực nông thôn - miền núi và khu du lịch
hàm lượng bụi lơ lửng thấp và không có dấu hiệu ô nhiễm các khí độc, mức
ồn đo được nằm trong giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn TCVN 5942-1998.
Khu đô thị và thương mại ngành sản xuất than đã làm ảnh hưởng tới chất
lượng môi trường, đặc biệt là môi trường không khí các khu đô thị như: Cẩm
Phả, Hạ Long, Uông Bí, Mạo Khê, tình trạng này đã diến ra trong nhiều năm
kết hợp với bụi gây ra do hoạt động khai thác và vận chuyển vật liệu xây
dựng nên phần lớn trên các tuyến đường quốc lộ có phương tiện chở than và
đất đá, hàm lượng bụi lơ lửng đều vượt TCCP. Các khu công nghiệp như
KCN Kim Sơn, KCN Chạp Khê, KCN xã Thống Nhất và KCN Ninh Dương
hàm lượng bụi vượt TCCP 1,73 lần.
20
Khu vực khai thác, chế biến và vận chuyển than Mạo Khê hàm lượng bụi
trong môi trường không khí vượt quá TCVN 5937-2005 là 2,86 lần; hàm
lượng SO
2
vượt 2,4 lần.
Tại khu vực sàng tuyển than Cửa Ông, hàm lượng bụi xấp xỉ mức giới
hạn cho phép của TCVN.
Kết quả quan trắc năm 2007 và 2008 của Kho Địa lý, Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên cho thấy môi trường không khí khu vực khai thác than ở
thị xã Uông Bí hiện đang bị ô nhiễm rất nặng nề. Hàm lượng các khí độc
trong không khí như SO
2
, NO
x
, H
2
S… đều cho kết quả cao ở nhiều khu vực,
- Ô nhiễm và suy thoái môi trường đất diễn ra ở nhiều nơi từ đất rừng,
đất nông nghiệp, đất ven biển, đất bãi triều.
- Nguy cơ ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng tại nhiều nơi: Chất
lượng nước mặt, nước ngầm, nước biển ven bờ có xu thế suy giảm (tăng độ
đục, độ axit, hàm lượng các cation kim loại…). Nhiều sông, suối, dòng chảy
bị bồi lấp.
- Vệ sinh môi trường nông thôn bị ảnh hưởng nghiêm trọng do chất thải
rắn, nước thải sinh hoạt,…
2.4. Những chủ trương chính sách của Nhà nước nhằm nâng cao hiểu
biết của người dân về môi trường
2.4.1. Những chuyển biến tích cực về nhận thức của người dân về
môi trường
Sau khi ban hành nghị quyết 41-NQ/TW về bảo vệ môI trường trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đầu năm 2008, Bộ Tài
nguyên và Môi trường phối hợp với Ban Tuyên giáo TW tiến hành kiểm
22
điểm, đánh giá việc thực hiện nghị quyết trong thời gian qua ở các Bộ, ngành
và địa phương. Qua hơn 3 năm triển khai thực hiện Nghị quyết đã cho nhiều
kết quả đáng khích lệ trong hoạt động bảo vệ môi trường, tạo sự chuyển biến
khá mạnh mẽ về nhận thức và hành động của các tổ chức, cá nhân và cộng
đồng xã hội. Các cấp, các ngành ở TW và địa phương đã quan tâm hơn về
công tác bảo vệ môi trường. Tuy nhiên công tác bảo vệ môi trường còn nhiều
hạn chế, chưa đáp ứng được những mục tiêu, nội dung của Nghị quyết, điều
này đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư phải tự giác thực hiện
trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với công tác này.
2.4.2. Những hạn chế trong nhận thức của người dân về vấn đề về môi
trường, hiểu biết Luật pháp về môi trường còn hạn chế
Kết quả điều tra của nhóm Nâng cao nhận thức cộng đồng (chương trình
SEMLA - Bộ Tài nguyên và Môi trường) tại 3 tỉnh Hà Giang, Nghệ An, Bà
Rịa - Vũng Tàu cho thấy, nhìn chung cán bộ công chức của 3 tỉnh đều có hiểu
môi trường tại các địa phương này.
24
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề môI trường trên địa bàn xã Quảng An huyện Đầm Hà tỉnh
Quảng Ninh.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Xã Quảng An huyện Đầm Hà tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Địa đỉểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm thực tập: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đầm Hà,
tỉnh Quảng Ninh.
Địa điểm nghiên cứu: Địa bàn xã Quảng An, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng
Ninh.
3.2.2.Thời gian tiến hành
Từ tháng 01/ 2010 đến tháng 05/ 2010
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Tình hình cơ bản của xã Quảng An
- Điều kiện tự nhiên.
- Điều kiện kinh tế, xã hội.
3.3.2. Đánh giá hiện trạng môi trường tại xã Quảng An
- Vấn đề sử dụng nước sinh hoạt
- Vấn đề nước thải
- Vấn đề rác thải
- Vệ sinh môi trường
- Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường
25