MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
Trang
1.1. Các thông số vật lý của chất thải y tế
4
1.2. Yêu cầu màu sắc, túi, thùng đựng và biểu tượng chỉ chất thải y tế
7
1.3. Kết quả hoạt động của một số bệnh viện công lập
14
1.4. Mức xả thải chất thải nguy hại của một số bệnh viện ở Ninh Bình
15
1.5. Mức xả thải chất thải nguy hại của các trung tâm y tế chuyên khoa
15
2.1. Lượng chất thải lây nhiễm phát sinh
19
10
2.1. Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình
18
3.1. Mô hình tổ chức quản lý chất thải rắn tại bệnh viện
27
3.2. Sơ đồ nhà lưu giữ chất thải tại bệnh viện
31
3
MỞ ĐẦU
Chúng ta đang sống trong thời đại với sự phát triển không ngừng của nền
kinh tế thị trường. Khi trình độ phát triển kinh tế xã hội và dân trí của con người
ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người về việc chăm sóc sức khỏe càng
được chú trọng hơn. Cùng với tốc độ đô thị hóa, vấn đề quản lý chất thải rắn nói
chung, bao gồm chất thải rắn đô thị, công nghiệp và chất thải bệnh viện đang là
những vấn đề nan giải trong công tác bảo vệ môi trường và sức khỏe của nhân
dân.
Nước ta có một mạng lưới y tế với các bệnh viện được phân bố rộng khắp
toàn quốc. Theo số liệu thống kê thì cho đến nay, ngành y tế có khoảng 1.200
bệnh viện với hơn 167.000 giường bệnh. Các hoạt động khám chữa bệnh, chăm
sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu và đào tạo trong các bệnh viện này đều
phát sinh chất thải. Các chất thải y tế dưới dạng rắn, lỏng hoặc khí có là các tác
2. Chất thải rắn y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức
khoẻ con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ
cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này
không được tiêu huỷ an toàn.
3. Quản lý Chất thải rắn y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban
đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu
huỷ chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.
4. Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải
chất thải y tế, bao gồm: Giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản
phẩm có thể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực
hành và phân loại chất thải chính xác.
5. Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ
sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới.
Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới.
6. Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng
gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh trong cơ sở y tế.
7. Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh
tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu huỷ.
8. Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có
nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi
lưu giữ hoặc tiêu huỷ.
9. Xử lý và tiêu huỷ chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm
Chất thải lâm sàng
Bình áp suất
Chất thải phóng xạ
Chất thải hóa học
Theo nghiên cứu của Cục Khám chữa bệnh – Bộ Y tế và Viện Kiến trúc,
Quy hoạch Đô thị và Nông thôn – Bộ Xây dựng, năm 2009 – 2010, tổng lượng
chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng 100 – 140 tấn/ngày, trong đó 16 -30
tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại. Lượng chất thải rắn trung bình là 0,86
kg/giường/ ngày trong đó chất thải rắn y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 – 0,2
kg/giường/ ngày.
1.2.2. Phân loại chất thải rắn y tế
1.2.2.1. Chất thải lây nhiễm
6
“Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt, có thể
nhiễm khuẩn, gồm: bơm kim tiêm, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh
vỡ ,đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ và các vật sắc nhọn khác sử dụng
trong các hoạt động y tế.
Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
Chất thải giải phẫu (loại D): Các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể, rau thai, bào
thai và xác động vật thí nghiệm”. (Bộ Y tế (2007), Quy chế quản lý chất thải y
tế, NXB Y học, Hà Nội)
Chất thải hoá học nguy hại
khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được thiêu
hủy đúng cách. Các bình này chứa khí chỉ được sử dụng một lần.
Chất thải thông thường
1.2.2.5.
Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ,
dễ cháy, nổ, bao gồm:
-
Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
7
-
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng
gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
1.2.3. Thành phần của chất thải rắn y tế
1.2.3.1. Thành phần vật lý
“Đồ bông vải sợi gồm: Bông, gạc, băng, quần áo, khăn lau, vải trải...
Đồ giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh...
Đồ thuỷ tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thuỷ tinh, ống nghiệm...
Đồ nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng...
Đồ kim loại: Kim tiêm, dao mổ, hộp đựng...
Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc...
Rác rưởi, lá cây, đất đá...”. (Bộ Y tế (2007), Quy chế quản lý chất thải y tế,
NXB Y học, Hà Nội)
Bảng 1.1. Các thông số vật lý của chất thải y tế
Nếu phân tích nguyên tố thì thấy gồm những thành phẩm: C, H, O, N, S, P,
Cl và một phần tro. Thành phần hoá học điển hình của các loại chất thải rắn y tế
ước tính khoảng 50% cacbon, 20% oxy, 6% hydro và nhiều nguyên tố khác.
8
1.2.3.3. Thành phần sinh học
Máu, những loại dịch tiết, những động vật làm thí nghiệm, bệnh phẩm đặc
biệt là những vi trùng gây bệnh.
1.3. Tác hại của chất thải rắn y tế
1.3.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường đất
“Khi chất thải y tế không được phân loại mà thải chung với chất thải sinh
hoạt và đem chôn lấp không đúng quy cách, nước rác sẽ ngấm vào đất, rác tồn đọng
trong đất sẽ gây ra sự thay đổi các thành phần và gây ô nhiễm đất nơi chôn lấp”. (Bộ
Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo Môi trường Quốc Gia – chất thải rắn)
1.3.2. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường nước
“Chất thải y tế chứa nhiều hoá chất độc hại, vi sinh vật gây bệnh truyền
nhiễm do vậy nếu không được quản lý theo đúng quy định chúng sẽ phát tán vào
môi trường nước gây ô nhiễm nguồn nước”. (Bộ Tài nguyên và Môi trường
(2011), Báo cáo Môi trường Quốc Gia – chất thải rắn)
1.3.3. Ảnh hưởng của chất thải y tế tới môi trường không khí
“Các chất hữu cơ có trong rác thải bị phân huỷ dưới tác dụng của các vi sinh
vật hiếu khí và yếm khí tuỳ theo từng điều kiện tại những nơi thu gom, vận
chuyển, chôn lấp sẽ sinh ra các khí độc hại khác nhau. Hoạt động của các lò đốt
chưa đúng tiêu chuẩn trong bệnh phát sinh các khí độc hại như NO x, CO, CO2,
SO2, dioxin và bụi…. Nếu chất thải đốt ở nhiệt độ t o < 900oC sẽ phát sinh dioxin
gây nguy hiểm cho người vận hành lò đốt”. (Bộ Tài nguyên và Môi trường
(2011), Báo cáo Môi trường Quốc Gia – chất thải rắn)
9
10
Bảng 1.2. Yêu cầu màu sắc, túi, thùng đựng và biểu tượng chỉ chất thải y tế
Loại chất thải
Màu và đánh dấu nhãn
Vàng, ký hiệu nhiễm
khuẩn cao
Chất thải lây nhiễm,
Vàng, có logo nhiễm
bệnh phẩm, giải phẫu
khuẩn
Vàng, đề chữ vật sắc
Vật sắc nhọn
nhọn
Chất thải y tế có động vị Đen, logo có bức xạ theo
phóng xạ
quy đinh
Chất thải y tế thông
Xanh, như túi đựng rác
thường
sinh hoạt
Chất thải có khả năng
Trắng, biểu tượng chất
tái chế
thải có thể tái chế
Chất thải lây nhiễm cao
vận chuyển chất thải, tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc
người bệnh và các khu vực sạch khác. Túi chất thải phải được buộc kín miệng và
được vận chuyển bằng xe chuyên dụng, không được làm rơi, vãi chất thải, nước
thải và phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển”. (Nguyễn Đức Khiển
(2003), Quản lý chất thải nguy hại, NXB Xây Dựng, Hà Nội)
1.4.1.4. Lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế
“Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các
buồng riêng biệt. Chất thải để tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng. Nơi
lưu giữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau: Cách xa nhà ăn,
buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông người tối thiểu là 10
11
mét. Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến. Diện tích phù hợp
với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế. Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy
hại tại cơ sở y tế: thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48
giờ, lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh, thời gian lưu giữ
có thể đến 72 giờ”. ( Nguyễn Đức Khiển (2003), Quản lý chất thải nguy hại,
NXB Xây Dựng, Hà Nội)
1.4.2. Vận chuyển chất thải rắn y tế ra ngoài cơ sở y tế
• Chất thải y tế nguy hại phải được vận chuyển bằng phương tiện chuyên
dụng bảo đảm vệ sinh;
•Trước khi vận chuyển tới nơi tiêu huỷ, chất thải y tế nguy hại phải được
đóng gói trong các thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyển;
1.4.3. Các biện pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại
1.4.3.1. Các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải lây nhiễm.
•
toàn các mầm bệnh trong chất thải. Phương pháp này đòi hỏi chi phí đầu tư ban
đầu khá cao, chi phí vận hành, chi phí bảo dưỡng tương đối tốn kém.
-
Chôn lấp hợp vệ sinh: Phương pháp này có chi phí đầu tư ban đầu thấp, chi phí
vận hành rẻ nhưng chỉ nên thực hiện khi các nhà chức trách quản lý về môi
trường cho phép và phải có điều kiện tự nhiên phù hợp như diện tích rộng, đặc
điểm thổ nhưỡng, đặc điểm nguồn nước ngầm, xa khu dân cư. Phương pháp này
chỉ áp dụng tạm thời đối với các cơ sở y tế chưa có cơ sở xử lý chất thải y tế
nguy hại đạt tiêu chuẩn tại địa phương.
•
Chất thải sắc nhọn có thể áp dụng một trong các phương pháp tiêu hủy sau:
-
Thiêu đốt trong lò đốt chuyên dụng cùng với chất thải lây nhiễm khác.
-
Chôn lấp trực tiếp trong các hố xây xi măng chuyên dùng để chôn lấp vật sắc
nhọn: hố có đáy, thành và nắp đậy bằng bê- tông.
•
Chất thải giải phẫu có thể áp dụng một trong các phương pháp tiêu hủy sau:
-
Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đủ đồng bộ, hầu hết chưa
đạt tiêu chuẩn. Do vậy việc mua sắm phương tiện thu gom chất thải rắn y tế đạt
tiêu chuẩn của bệnh viện gặp khó khăn. Theo báo cáo của JICA(2011), các cơ sở
y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và Hồ Chí
Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ
vận chuyển bằng tay khác nhau. Một số khu vực lưu trữ chất thải rắn trước khi
xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị điều hòa và hệ
thống thông gió theo quy định.
Hình 1.2. Tình hình xử lý chất thải y tế của hệ thống cơ sở y tế các cấp
(Theo: “Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo
cáo Môi trường Quốc Gia – chất thải rắn”)
Chất thải không nguy hại hầu hết ở các tỉnh, thành phố đều do công ty Môi
trường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý tập trung của
địa phương. Hoạt động thu hồi và tái chế chất thải rắn y tế tại Việt Nam đang
thực hiện không theo đúng quy chế quản lý chất thải rắn y tế đã ban hành. Chưa
có cơ sở chính thống thực hiện từ hoạt động thu mua và tái chế các loại chất thải
từ hoạt động y tế Việt Nam. Quy chế Quản lý chất thải rắn y tế (2007) đã bổ
sung nội dung tái chế chất thải y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế
thực hiện. Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản
lý tái chế các chất thải rắn y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn.
1.5.2. Những khó khăn trong công tác quản lý chất thải rắn y tế
Công tác quản lý chất thải rắn đô thị, công nghiệp và đặc biệt là chất thải y
tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Kinh phí đầu tư cho công tác quản lý
chất thải lớn; chưa có tiêu chuẩn đối với lò đốt chất thải nói chung và lò đốt chất
14
thải y tế nói riêng; nhận thức về bảo vệ môi trường của cộng đồng chưa cao;
thải bệnh viện tại nguồn; chưa có nhiều lớp tập huấn về quản lý chất thải y tế,
các ngành hữu quan chưa có được sự quan tâm đúng mức của chính quyền địa
phương; thiếu quy định, văn bản liên Bộ đối với công tác quản lý chất thải bệnh
viện”. (Trung tâm tư liệu Quốc gia (2004), Tổng luận về chất thải y tế, Hà Nội)
1.5.3. Các biện pháp quản lý của Nhà nước trong công tác quản lý chất thải
rắn y tế
1.5.3.1. Các biện pháp chính sách (cơ sở pháp lý)
Đảng và Nhà nước đã ban hành hàng loạt các chính sách và quy định có
liên quan tới công tác bảo vệ môi trường, đó là:
• Luật BVMT số 55/2014/QH3 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy
định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo
vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, hộ gia đình
và cá nhân trong bảo vệ môi trường;
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều lệnh của Luật bảo vệ môi trường;
•
• Nghị định số 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09/04/2007
về quản lý chất thải rắn;
• Thông tư 36/2015/TT-BTNMT, ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;
16
1.5.3.2. Đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường
“Chính phủ đang tiến hành một số dự án để xử lý chất thải nói chung và
Công suất
sử dụng
giường
bệnh
Số xét
nghiệm
Số lần
chụp
Xquang
Số
phẫu
thuật
BV Đa khoa Ninh
235.919
Bình
149%
4.099.599
125.954
161.154
BV Sản - Nhi
Ninh Bình
6.857
BV Mắt
14.025
116%
BVĐK Yên
Khánh
73.331
145%
301.085
111.066
BV Lao và Bệnh
Phổi
116.208
91%
323.186
15.270
Các bệnh viện
(BV)
Số lượt
khám
bệnh
Số ca
đẻ
24.599
30
2.826
7.159
5.048
19.672
1.275
408
101.754
8.499
377
72.901
37.412
239
1.155
BVĐK Kim Sơn
20.496
50%
6.998
1.563
46
86
(Theo: “Sở Y tế Ninh Bình (2013), www.yteninhbinh.vn “)
18
1.6.1.1. Khối lượng chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở y tế
Theo khảo sát của Sở Y tế năm 2014, mỗi ngày các cơ sở y tế tại Ninh Bình
phát sinh khoảng hơn 8,0 tấn chất thải y tế, trong đó có khoảng 1,2 tấn chất thải
Bệnh viện Đa khoa huyện Tam Điệp
0,06
(Theo: “Sở Y tế Ninh Bình (2013), www.yteninhbinh.vn “)
Bảng 1.5. Mức xả thải chất thải nguy hại của các trung tâm y tế chuyên khoa
Trung tâm y tế chuyên khoa
Mức xả thải kg/ngày
Trung tâm y tế thành phố Ninh Bình
1,5
Trung tâm da liễu
4
Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản
1
Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế
0,6
Trung tâm giám định pháp y
0,6
thành phố Ninh Bình và Công ty Cổ phần môi trường đô thị Tam Điệp để vận
chuyển, tiêu hủy rác thải thông thường”. (Sở Y tế Ninh Bình (2013), Quyết định
về việc phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn tỉnh Ninh Bình đến năm
2030, số 245/QĐ-UBND, ngày 09/04/2013)
Hiện tại, Công ty TNHH Môi trường và dịch vụ đô thị thành phố Ninh
Bình xử lý chất thải y tế nguy hại bằng hình thức thu gom tập trung rồi đốt bằng
thiết bị lò đốt rác y tế HOVAL MZ4 công suất 60kg/h.
1.6.2. Vận chuyển chất thải rắn ra ngoài cơ sở y tế
“Chất thải thông thường: Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, Công ty TNHH Môi
trường và dịch vụ đô thị thành phố Ninh Bình chịu trách nhiệm vận chuyển chất
thải thông thường từ các cơ sở y tế đi xử lý tại bãi rác tập trung của tỉnh. Chất
thải nguy hại: Các cơ sở y tế hợp đồng với Công ty TNHH Môi trường và dịch
vụ đô thị thành phố Ninh Bình để thu gom, vận chuyển và tiêu hủy”. (Sở Y tế
Ninh Bình (2013), Quyết định về việc phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải
rắn tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, số 245/QĐ-UBND, ngày 09/04/2013)
2. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI BỆNH VIỆN ĐA
KHOA TỈNH NINH BÌNH
2.1. Giới thiệu khái quát về bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình
Trụ sở chính: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình
20
Địa chỉ: Đường Tuệ Tĩnh - Phường Nam Thành - Thành Phố Ninh Bình
Điện thoại: 0303.871030
Fax: 0303.897374
Email: [email protected]
Bệnh viện đa khoa Ninh Bình nằm trên đường Tuệ Tĩnh, phường Nam
Thành, thành phố Ninh Bình. Đây là địa chỉ mới của bệnh viện và bệnh viện bắt
đầu đi vào hoạt động tại địa chỉ này từ tháng 4 năm 2010. Bệnh viện được xây
dựng trên diện tích rộng 18 ha với thiết kế đẹp và hiện đại, gồm 1 khu nhà 11
vào danh mục chất thải nguy hại cần được quản lý, thu gom, phân loại, tiêu hủy
triệt để và tuân thủ theo một quy trình đặc biệt để tránh thoát, thải ra môi trường
22
bên ngoài, gồm cả các chất thải có khả năng gây nguy hại cho con người và gia
súc khi tiếp xúc với chất thải này.
2.2.1. Nguồn gốc phát sinh
“Nguồn phát sinh chất thải rắn từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét
nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu đào tạo, sinh hoạt ở tất cả các khoa phòng, khu
căng tin, rác ngoại cảnh.
Chất thải lây nhiễm có thể phát sinh gồm:
Nhóm A: Chất thải sắc nhọn;
Nhóm B: Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn;
Nhóm C: Chất thải lây nhiễm cao;
Nhóm D: Chất thải bệnh phẩm chủ yếu là nhau thai và một số bệnh phẩm”.
(Bộ Y tế (2007), Quy chế quản lý chất thải y tế, NXB Y học, Hà Nội)
Bảng 2.1. Lượng chất thải lây nhiễm phát sinh
Chất thải lây nhiễm phát sinh
Lượng phát thải
(kg/ngày)
Nhóm A
25
Nhóm B
Bảng 2.2. Tổng hợp thông tin về lượng chất thải phát sinh
(bao gồm cả chất thải tái chế)
STT
Nội dung
Kết quả
1
Lượng chất thải phát sinh trung bình trên
1,351 đầu giường
trong 1 ngày (kg/giường/ngày)
2
Lượng chất thải phát sinh trung bình trên1,32
1 đầu giường có
bệnh nhân điều trị trong 1 ngày (kg/giường sử
dụng/ngày)
3
Lượng chất thải phát sinh trung bình cho5,21
tất cả bệnh nhân
bao gồm cả ngoại trú và nội trú (kg/người/ngày)
4
Lượng chất thải sắc nhọn phát sinh trung
24
3
Vỏ hộp thuốc, bìa carton
4
Chất thải y tế nguy hại có thành phần chủ yếu là: Bơm kim tiêm, bông
băng, vật nhiễm máu, đồ thủy tinh, lọ đựng thuốc, các chất dịch bệnh nhân, dây
truyền hóa chất, dược phẩm quá hạn, các mô phủ tạng của cơ thể, …
24
Lượng chất thải y tế nguy hại thay đổi tùy theo số lượng bệnh nhân của
từng tháng.
Chất thải thông thường phát sinh từ các buồng bệnh; hoạt động chuyên môn
y tế (các vật liệu nhựa,…); khu vực hành chính (thùng các- tông, tài liệu, túi
nilon, giấy, báo,…); khu vực nhà ăn.
Bảng 2.4. Lượng chất thải lây nhiễm trong 1 ngày theo khoa
ST
T
Khoa phòng
Số lượng (kg/ngày)
Hệ ngoại
1
Khoa nội tổng hợp
3,1
7
Khoa nội tim mạch
3,1
8
Khoa nội E
0,9
9
Khoa điều trị tích cực
4,1
10
Khoa cấp cứu
6,7
11
Khoa y học cổ truyền
17
Khoa thận nhân tạo
12,7
18
Khoa ung bướu
1,7
19
Khoa khám bệnh
2,6
20
Khoa khám bệnh theo yêu cầu
0,4
-
Khối cận lâm sàng