ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN THÁI BÌNH
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT SINH CHẤT THẢI RẮN Y TẾ CỦA
BỆNH VIỆN HUYỆN NGÂN SƠN, BẮC KẠN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi trường
Khoá học : 2010 – 2014
Thái Nguyên, năm 2014ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 1
1.3. Yêu cầu của đề tài 1
1.4. Ý nghĩa đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU…………………………… 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Cơ sở pháp lý 3
2.1.2. Cơ sở lý luận 4
2.1.2.1. Khái niệm thuật ngữ liên quan và phân loại rác thải y tế 4
2.1.2.2. Phân loại chất thải rắn y tế 5
2.2. Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế trên thế giới 6
2.3. Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế ở Việt Nam 7
2.3.1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế 7
2.3.2. Xu hướng xử lý chất thải y tế 10
2.4. Các nguy cơ đến từ chất thải y tế. 13
2.4.1. Các nguy cơ từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn[31] 13
2.4.2. Các nguy cơ từ chất thải hoá học và dược phẩm 16
2.4.3. Các nguy cơ từ chất thải gây độc gen tế bào 16
2.4.4. Các nguy cơ từ chất độc phóng xạ 17
2.5. Các phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 18
2.5.1. Công nghệ xử lý hoá – lý 18
2.5.2. Công nghệ thiêu đốt 19
2.5.3. Công nghệ chôn lấp 19
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… 20
3.1. Đối tượng nghiên cứu 20
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
3.3 Nội dung nghiên cứu 20
3.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Ngân Sơn 20
3.3.2. Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn. 20
4.2.2. Thành phần chất thải rắn tại bệnh viện huyện Ngân Sơn 28
4.2.2.1. Thành phần chất thải sinh hoạt tại bệnh viện huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kan 28
4.2.2.2 Chất thải rắn y tế 29
4.3. Điều tra đánh giá thực trạng công tác thu gom và quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh
vi
ện huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kan 30
4.3.1 Tình hình qu
ản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kan 30
4.3.2. Công tác phân loại, thu gom,vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện huyện Ngân
Sơn, tỉnh Bắc Kan 31
4.3.2.1. Công tác phân loại chất thải rắn tại Nguồn phát sinh. 31
4.3.2.2. Công tác thu gom chất thải rắn y tế 32
4.3.3. Công tác phân loại và thu gom rác thải rắn tại bệnh viện 33
4.3.3.1. Công tác phân loại 33
4.3.3.2. Hình thức thu gom: 34
4.3.4. Kết quả điều tra về khối lượng rác thải y tế tại bệnh viện huyện Ngân Sơn 35
4.4. Kết quả đánh giá về công tác quản lý, thu gom rác thải y tế tại bệnh viện huyện Ngân
Sơn qua phiếu điều tra phỏng vấn 36
4.5. Những thuận lợi, khó khăn và giải pháp đối với công tác quản lý chất thải y tế tại
bệnh viện huyện Ngân Sơn 37
4.5.1. Những thuận lợi và khó khăn 37
4.5. 2.Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện viện huyện Ngân
Sơn 38
4.5.2.1. Giải pháp thu gom, phân loại, xử lý, vận chuyển, lưu trữ 38
4.5.2.2. Giải pháp giảm thiểu 43
4.5.3. Giải pháp kiểm soát ô nhiễm 44
4.5.4. Một số giải pháp khác 44
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1. Kết luận 46 1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ quan
trọng của ngành Y tế. Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và
chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,
hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn
thiện. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh
viện đã thải ra môi trường một lượng lớn các chất thải bỏ, bao gồm cả những
chất thải bỏ nguy hại. .
Để quản lý tốt lượng chất thải rắn, chất thải nguy hại phát sinh từ hoạt
động Y tế trên địa bàn huyện Ngân Sơn cần tiến hành thống kê, cập nhật thu
thập các số liệu về khối lượng thành phần các loại chất thải phát sinh. Trên cơ
sở các thông tin và số liệu thu thập được, kết hợp với các quy hoạch phát triển
của tỉnh cho phép dự báo lượng chất thải rắn Y tế phát sinh trong những năm
tiếp theo và đề ra các phương ph áp quản lý và xử lý chất thải rắn Y tế cho
phù hợp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ cảnh quan, bảo vệ
môi trường theo hướng phát triển bền vững. Do vậy, em lựa chọn đề tài
“
Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện huyện
Ngân Sơn, Bắc Kạn và đề xuất một số giải pháp quản lý”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng thu gom, xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện
huyện Ngân Sơn;
- Đề xuất các giải pháp để quản lý và xử lý chất thải rắn y tế bệnh viện
- Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt “Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng”;
- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;
- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22 tháng 02 năm 2005 của Thủ
tướng Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện
Nghị quyết số 41- NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về
Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa
đất nước;
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Y
tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế;
- Quyết định số 2149/QĐ/TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ
tướng Chính phủ Phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR đến
năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;
- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính
phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Thủ
tướng Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác
động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải Y tế giai đoạn 2011
- 2015 và định hướng đến năm 2020; 4
- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số
29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ về đánh giá môi
5
lý và xử lý chất thải. Nếu thực hiện tốt khâu phân loại thì các khâu sau sẽ đạt
hiệu quả cao, hạn chế tốt được ô nhiễm.
- Thu gom: Là việc tách, phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm
thời chất thải tại địa điểm tập trung chất thải của cơ sở y tế.
- Vận chuyển: Là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh tới
nơi xử lý ban đầu, lưu giữ và tiêu huỷ.
- Xử lý ban đầu: Là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải
có nguy cơ lây nhiễm cao ngay gần nơi chất thải phát sinh trước khi vận
chuyển tới nơi lưu giữ và tiêu huỷ.
- Tiêu huỷ: Là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả chôn
lấp) chất thải nguy hại, làm mất khả năng nguy hại đối với môi trường và sức khoẻ
con người.
2.1.2.2. Phân loại chất thải rắn y tế
Theo hệ thống phân loại của tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
- Chất thải thông thường: Đó là các chất thải không độc hại, về bản chất
tương tự như rác thải sinh hoạt.
- Chất thải là bệnh phẩm: Mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác
động vật thí nghiệm, máu, dịch thể.
- Chất thải chứa phóng xạ: Chất thải từ các quá trình chiếu chụp X
quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u
- Chất thải hoá học: Có tác dụng độc hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm
độc gen hoặc không độc.
- Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh
như vi sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm
khuẩn
- Các vật sắc nhọn: Kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ có thể gây
thương tích cho người và vật.
- Dược liệu: Dư thừa, quá hạn sử dụng .
càng được quan tâm hơn do tình trạng bán rác thải trộm ra bên ngoài và nhiều
vấn đề liên quan đến nguy cơ của nó gây ra. Trong thời gian vừa qua tại Ấn
Độ xảy ra một vụ mua bê bối lớn về vấn đề quản lý RTYT: Đó là việc sử
dụng và mua bán các kim tiêm, bình nước biển, ống truyền, chai lọ đã qua sử
dụng. Theo kết quả điều tra của cán bộ có chức trách bang Gujarat, Tây Ấn
Độ thì đây chính là nguyên nhân đã góp phần làm bùng phát bệnh viêm gan
B. Thời gian qua ở nước này khiến 56 người tử vong. Ngoài ra, rác thải y tế
còn có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường do có thể phát tán trong nguồn
nước, không khí và đất. 7
2.3. Hiện trạng quản lý và xu hướng xử lý rác thải y tế ở Việt Nam
2.3.1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế
Việt Nam là quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định
trong khu vực và quốc tế. Tuy nhiên điều này cũng làm nảy sinh nhiều thách
thức đối với môi trường, đặc biệt tại những khu đô thị lớn chiếm 24% dân số
cả nước. Năm 2010, khu vực này phát sinh khoảng 60% tổng lượng chất thải
của cả nước. Lượng rác thải này đang trở thành mối nguy hại lớn của xã hội.
Theo WHO đánh giá: 18 – 64% số cơ sở y tế ở Việt Nam chưa có biện pháp
xử lý chất thải đúng cách.[31]
Năm 2001, Bộ Y tế đã tiến hành khảo sát tại 280 bệnh viện đại diện cho
tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước về vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn
y tế. Kết quả khảo sát ban đầu cho thấy, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế theo
từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế khác nhau. Lượng chất thải rắn phát
sinh trong quá trình khám chữa bệnh mỗi ngày khoảng 429 tấn, trong đó
lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh ước tính khoảng 34tấn/ngày. Năm
2003, lượng chất thải y tế nguy hại của cả nước ta khoảng 21500 tấn/năm,
năm 2010 con số này khoảng 25.000 tấn/năm. 27% tổng lượng chất thải y tế
nguy hại phát sinh từ thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh Hoá (gần
khoa học ở đây cao hơn hẳn so với ở tỉnh và huyện cho nên có nhiều người
bệnh và người nhà bệnh nhân đến đây để khám chữa bệnh. Chính vì lượng
người đến các bệnh viện tuyến Trung ương nhiều hơn cho nên lượng rác thải
cũng nhiều hơn. Còn sự thay đổi lượng rác thải qua các năm là điều đương
nhiên do dân số ngày càng gia tăng và nhu cầu khám chữa bệnh của con
người cũng được nâng cao.
Công tác phân loại rác y tế tại các bệnh viện ngày càng được hoàn
thiện. Ở nhiều nơi, như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vào
sử dụng các phương tiện chuyên dùng có thùng chứa kín, kể cả hệ thống làm
lạnh bên trong. Các thùng nhựa kín đã được sử dụng để lưu chứa và vận
chuyển chất thải y tế để hạn chế sự phát tán và gây nguy hiểm cho nhân viên
trực tiếp thực hiện thu gom.[]. 9
Bảng 1.2. Khối lượng chất thải rắn y tế ở các bệnh viện của một số tỉnh,
thành phố trong năm 2002
Tỉnh, thành phố
Lượng chất thải rắn y tế nguy
hại/tổng lượng chất thải rắn
(tấn/năm)
Thành phố Hồ Chí Minh 4.730/17.518
Đồng Nai 180/995
Bình Dương 368/1.199
Bà Rịa – Vũng Tàu 288/950
Thái Nguyên 215/1.332
Hải Dương 132/1.626
Hải Phòng 547/1.300
Phú Thọ 70/587
Cần Thơ 110/343
Đến năm 2007 cả nước đã có hơn 1.047 bệnh viện với gần 140.000
giường bệnh và hơn 10.000 trạm y tế. Trung bình mỗi ngày đêm, mỗi giường
bệnh sẽ thải ra môi trường khoảng 2,5 kg rác trong đó có từ 10 – 15% là chất
thải nguy hại. Theo Bộ y tế, khoảng 2/3 bệnh viện vẫn chưa áp dụng phương
pháp tiêu huỷ rác thải đảm bảo vệ sinh. Hầu hết rác thải y tế bệnh phẩm chưa
được phân theo đúng chủng loại, chưa được khử khuẩn trước khi thải bỏ. Nhà
lưu chứa không đúng tiêu chuẩn, không đảm bảo vệ sinh và có nguy cơ lây
nhiễm cao cho cộng đồng.[32]
Năm 2010, cả nước hiện có 1.087 bệnh viện (trong đó 1.023 bệnh viện
Nhà Nước, 64 bệnh viện tư nhân) với tổng số hơn 140.000 giường bệnh.
Ngoài ra còn có hơn 10.000 trạm y tế xã, hàng chục ngàn phòng khám tư
nhân, cơ sở nghiên cứu, đào tạo, sản xuất dược phẩm, sinh phẩm y tế. Ước
tính mỗi ngày cả nước thải ra 500 tấn rác thải y tế.
Một thực trạng tại nhiều bệnh viện, một số chất thải rắn bị bán trộm ra
ngoài, trong đó có chất thải không nguy hại, nhiều chất thải sạch được đóng
chung với chất thải bẩn vừa gây thất thoát nguồn thu vừa gây ô nhiễm môi
trường. Bộ Y tế sẽ có hướng dẫn cho phép tái chế và tái sử dụng một số chất
thải y tế thông thường theo quy trình kiểm soát các vật liệu nhằm hạn chế tối
đa lượng chất thải phải xử lý, tiết kiệm nguyên liệu.
2.3.2. Xu hướng xử lý chất thải y tế
Ở Việt Nam, việc xử lý chất thải chủ yếu do các công ty môi trường đô
thị (URENCO) thực hiện. Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu
huỷ chất thải sinh hoạt, bao gồm cả chất thải sinh hoạt gia đình, chất thải văn 11
phòng, đồng thời cũng là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý cả chất thải công
nghiệp và y tế trong hầu hết các trường hợp. Về mặt lý thuyết, mặc dù các cơ
sở công nghiệp và y tế phải tự chịu trách nhiệm trong việc xử lý các chất thải
do chính cơ sở đó thải ra, trong khi Chính phủ đóng vai trò là người xây dựng,
12
trường là 41,7 tấn/ngày, trong đó có 8,3 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại. Ví dụ:
tỉnh Đồng Tháp có 3,7 tấn/ngày CTR y tế, 0,7 tấn/ngày CTR y tế nguy hại;
tỉnh An Giang có 5,3 tấn/ngày CTR y tế, 1 tấn/ngày CTR y tế nguy hại; tỉnh
Cà Mau có 3,8 tấn/ngày CTR y tế, 0,8 tấn/ngày CTR y tế nguy hại; tỉnh Trà
Vinh có 2,1 tấn /ngày CTR y tế, 0,4 tấn/ngày CTR y tế nguy hại;
Sau khi phân loại CTR y tế tại bệnh viện, loại rác thải sinh hoạt thông
thường sẽ được xử lý chung với RTSH đô thị, riêng RTYT nguy hại trong
các bệnh viện từ cấp huyện trở lên đem đi đốt. Cho đến nay mới có khoảng
7% bệnh viện có lò đốt rác đạt tiêu chuẩn môi trường. Các tỉnh đã trang bị
1 lò đốt rác đạt tiêu chuẩn và đã đưa vào khai thác như: Đồng Tháp, An
Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Cần Thơ, Trà Vinh,
Sóc Trăng và Cà Mau (loại lò Hoval MZ, RET, DHBK-HCM, với công
suất từ 50 - 300kg/giờ). Còn lại 93% bệnh viện có lò đốt rác thủ công hoặc
xử lý thô sơ chưa đạt tiêu chuẩn môi trường. Một điều đáng lưu ý nữa, ở
một số bệnh viện đa khoa cấp tỉnh, được trang bị lò đốt rác đạt tiêu chuẩn
nhưng chỉ khai thác sử dụng hết khoảng 1/3 - 1/4 công suất lò đốt, trong
khi các trung tâm y tế cấp huyện lại đang thiếu nguồn kinh phí để trang bị
lò đốt rác nên phải xử lý CTR y tế nguy hại bằng công nghệ thô sơ thủ
công không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.
Trong những năm qua, ngành y tế vùng đồng bằng sông Cửu Long đã
có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường tại các cơ sở, đặc biệt là
quản lý CTR, nhưng trên thực tế còn có nhiều hạn chế.
Đa số các tỉnh chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý CTR y tế. Nguyên
nhân là do nhận thức về tác hại gây ô nhiễm của chất thải y tế của các tỉnh
còn yếu; thiếu mặt bằng xây dựng hệ thống xử lý chất thải; chưa chú trọng bố
trí vốn đầu tư cho xử lý chất thải y tế hoặc nguồn kinh phí ngành y tế hạn hẹp
và các tỉnh chưa đặt vấn đề quy hoạch lò đốt CTR y tế nguy hại tập trung để
giảm kinh phí đầu tư mà hiệu quả thiết thực.
Một số bệnh viện đã đầu tư xây dựng lò đốt CTR y tế nguy hại nhưng
14
Bảng 1.3. Một số ví dụ về sự nhiễm khuẩn gây ra do tiếp xúc với các loại
chất thải y tế, các loại sinh vật gây bênh và phương thức lây truyền.
Loại nhiễm khuẩn Vi sinh vật gây bênh Dạng chất thải y tế
Nhiễm khuẩn tiêu hóa Nhóm enterobacteri:
salmonella, shigella spp,
vibrio cholerac, các loại
giun sán
Phân hoặc chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấp Vi khuẩn lao, virus sởi,
streptococcus
pneumoniac
Các loại dịch tiết,
đờm
Nhiễm khuẩn mắt Virus herps Dịch tiết của mắt
Nhiễm khuẩn da Streptococcus spp Mủ
Bệnh than Bacillus antharacis Chất tiết của da (mồ
hôi, chất nhờn)
Viêm màng não Não mô cầu (neisseria
meningitides)
Dịch não tùy
AIDS HIV Máu, chất tiết của
sinh dục
Sốt xuất huyết Các loại virus: junin,
lassa, ebola, Marburg
Tất cả các sản phẩm
máu và dịch tiết
Nhiễm khuẩn huyết do
nước.
Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm
các vi sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) hầu như là
những mối nguy cơ tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khỏe trong các loại chất thải
bệnh viện. Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là những nguyên nhân gây ra
các vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị
nhiễm các tác nhân gây bệnh. Theo WHO trong các cơ sở y tế, điều dưỡng
viên và hộ lý là 2 nhóm người chính có nguy cơ cao do tổn thương bởi các vật
sắc nhọn. Tỷ lệ hàng năm khoảng 10-20/1.000 người bị vật sắc nhọn nhiễm
khuẩn gây xước hoặc chọc thủng da.[31]
Ước tính mỗi năm trên toàn thế giới sử dụng 12.000 bơm tiêm và
không phải tất cả bơm tiêm đều được loại bỏ đúng cách, tạo nguy cơ gây chấn
thương và nhiễm khuẩn, thậm chí bị tái sử dụng. Trên toàn thế giới, hàng năm
có khoảng 8 - 16 triệu người bị viêm gan B, 2,3 - 4,7 triệu người bị viêm gan
C và 800 – 1.600 người bị nhiễm HIV do tái sử dụng bơm tiêm không tiệt
trùng. Hiện tượng này đặc biệt phổ biến như một số nước ở Châu Phi, Châu Á
và Đông Âu. Ở các nước đang phát triển, còn có thêm nguy hiểm do tìm bới
rác và phân loại rác bằng tay ở bãi rác của các cơ sở y tế. Những người thu
nhặt có nguy cơ chấn thương tức thì do kim tiêm và tiếp xúc với chất độc hại
hoặc chất bẩn.[7] 16
2.4.2. Các nguy cơ từ chất thải hoá học và dược phẩm
Nhiều loại hóa chất và dược phẩm được sử dụng trong các cơ sở y tế là
những mối nguy cơ đe dọa sức khỏe con người (các độc dược, các chất gây
độc gen, chất ăn mòn, chất dễ cháy, các chất gây phản ứng, gây nổ, gây shock
phản vệ ). Các loại chất này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế,
với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác
dụng cần vứt bỏ. Chúng có thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và mãn tính,
trong quá trình điều trị bằng các thuốc đặc biệt hoặc bằng phương pháp hóa trị
liệu. Nhưng phương thức tiếp xúc chính là hít phải hóa chất có tính nhiễm độc
ở dạng bụi hoặc hơi mùi qua đường hô hấp, bị hấp thụ qua da do tiếp xúc trực
tiếp, qua đường tiêu hóa do ăn phải thực phẩm nhiễm thuốc. Việc nhiễm độc
qua đường tiêu hóa thường là do ảnh hưởng của những thói quen xấu, chẳng
hạn như dùng miệng hút ống pipet trong các công việc như khi định lượng
dung dịch, xét nghiệm sinh hóa. Mối nguy hiểm cũng có thể xảy ra do tiếp
xúc với các loại dịch thể và chất tiết, nhất là các bệnh phẩm cần xét nghiệm
của những bệnh nhân đang trong giai đoạn điều trị bằng phương pháp hóa trị
liệu.
Độc tính đối với tế bào của nhiều loại thuốc chống ung thư là tác động
đến các chu kỳ đặc biệt của tế bào, nhằm vào các quá trình tổng hợp hoặc quá
trình phân bào nguyên phân. Các thuốc chống ung thư khác, chẳng hạn như
nhóm anky hóa, không phải là pha đặc hiệu, chỉ biểu hiện độc tính ở một vài
điểm trong chu kỳ tế bào. Các nghiên cứu thực nghiệm cho ta thấy nhiều loại
thuốc chống ung thư lại gây lên ung thư và gây đột biến.
Nhiều loại thuốc có tính độc gây kích thích cao độ và gây nên nhưng
hậu quả hủy hoại cục bộ sau khi tiếp xúc trực tiếp với da hoặc mắt, chúng có
thể gây chóng mặt, buồn nôn, đau đầu hoặc viêm da.
Cần phải đặc biệt cẩn thận trong việc sử dụng, vận chuyển chất thải gây
độc gen tế bào. Việc làm thoát thải những chất thải như vậy vào môi trường
có thể gây nên những hậu quả sinh thái không thể lường trước được, nhiều khi
tác hại tới môi trường và sinh thái rất nghiêm trọng.
2.4.4. Các nguy cơ từ chất độc phóng xạ
Những bệnh do chất phóng xạ gây ra được xác định bởi liều lượng và
kiểu phơi nhiễm. Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như đau đầu, ngủ
gà, nôn đồng thời ảnh hưởng tới chất liệu di truyền.
Trên thế giới các nguồn phóng xạ được sử dụng rộng rãi trong y học và
trong những ứng dụng khác. Có khi, dân chúng tiếp xúc với rác thải y tế có
la, nên Việt nam chưa có điều kiện xây dựng những nhà máy xử lý như vậy. Những
năm tới, nếu có được sự đầu tư từ bên ngoài thì Việt Nam mới có thể xây dựng
được những nhà máy xử lý CTNH cấp vùng. Ngoài ra việc lựa chọn địa điểm phù
hợp để xây dựng nhà máy cũng còn phải cân nhắc đến. 19
2.5.2. Công nghệ thiêu đốt
Đốt là một quá trình oxy hoá chất thải ở nhiệt độ cao. CTR và CTNH
hữu cơ có thể xử lý hoặc trong những lò đốt chuyên dụng hoặc được phân hủy
trong những quá trình công nghiệp nhiệt độ cao. Ví dụ, về quá trình này là
việc sử dụng lò xi măng quay. Nói chung, chất thải được xử lý bằng quá trình
đốt thông qua sự nhiệt phân đã từng được sử dụng đối với từng dạng chất thải
cụ thể như cao su, plastic, giấy, da, cặn dầu, dung môi hữu cơ, rác sinh hoạt,
bệnh phẩm… Nhưng nhiệt phân không thể được xem là một công nghệ quản
lý chất thải đa năng.
Sử dụng các lò đốt chuyên dụng để xử lý CTR y tế. Quá trình xử lý các
chất thải hữu cơ có thể cháy được trong các lò đốt để biến chúng thành dạng khí
hơi và tro.
Để đốt cháy hiệu quả chất thải trong lò đốt phải có 4 yêu cầu cơ bản như
sau:
Cung cấp đủ oxy cho quá trình nhiệt phân bằng cách đưa vào buồng
đốt một lượng không khí dư.
Khí hơi sinh ra trong quá trình cháy phải được duy trì lâu trong lò đốt
đủ để đốt cháy hoàn toàn (thông thường ít nhất là 04 giây).
Nhiệt độ đốt phải đủ cao, thông thường cao hơn 1000
0
C hay 1100
0
C .