Nghiên cứu sự tham gia quản lý rừng của cộng đồng tại vùng đệm vườn quốc gia xuân sơn tỉnh phú thọ - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------

 ---------

TRẦN QUANG HƯNG

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA QUẢN LÝ RỪNG CỦA
CỘNG ĐỒNG TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA
XUÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN, NĂM 2010
1


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------- ---------

TRẦN QUANG HƯNG

NGHIÊN CỨU SỰ THAM GIA QUẢN LÝ RỪNG CỦA
CỘNG ĐỒNG TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA
XUÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ:


và bạn bè.
Nhân dịp này cho tôi được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan, tổ chức
và cá nhân:
Khoa Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu và toàn thể các thầy cô
giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn
thành khoá đào tạo.
PGS.TS Vũ Nhâm, giáo viên hướng dẫn khoa học của luận văn đã
định hướng và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ, Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Sơn,
các ban ngành huyện Tân Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi
thực hiện luận văn.
Uỷ ban nhân dân xã Xuân Đài và người dân của các khu hành chính
đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện PRA xây
dựng quản lý rừng cộng đồng.
Do còn nhiều hạn chế về thời gian, nhân lực và các điều kiện nghiên cứu
nên chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót. Tôi mong muốn nhận được những
đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và đồng nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 8 năm 2010
TÁC GIẢ

Trần Quang Hưng
4


Mục lục
Nội dung

Trang


09

1.3.2. Những nghiên cứu chính về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam

13

1.4. Bài học kinh nghiệm về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam

16

Chương II: Quan điểm, mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương
pháp nghiên cứu

17

2.1. Quan điểm nghiên cứu

17

2.2. Mục tiêu nghiên cứu

17

2.2.1. Mục tiêu tổng quát

17

2.2.2. Mục tiêu cụ thể

17

19
5


2.5.2. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu, thông tin

22

2.5.3. Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu

26

Chương III: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

27

3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

27

3.1.1. Vị trí địa lý, hành chính

27

3.1.2. Địa hình, địa mạo

27

3.1.3. Khí hậu, thuỷ văn


3.3.2. Khó khăn

40

Chương IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

42

4.1. Nghiên cứu thực trạng quản lý tài nguyên rừng, ĐDSH ở địa
phương và những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rừng

42

4.1.1. Các hình thức quản lý rừng khu vực nghiên cứu

42

4.1.2. Thực trạng hoạt động bảo vệ, sử dụng rừng tại địa phương

43

4.1.3. Hoạt động khai thác, sử dụng rừng và đất rừng ở địa phương,
những nguy cơ và thách thức

47

4.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rừng ở khu vực
nghiên cứu

59

82

4.3.3. Những giải pháp về xã hội

86

4.3.4. Những giải pháp về khoa học công nghệ

90

Kết luận, tồn tại và khuyến nghị

94

5.1. Kết luận

94

5.2. Tồn tại

96

5.3. Khuyến nghị

97

Tài liệu tham khảo

98



83

DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3-1: Cơ cấu dân tộc các xã

33

Biểu đồ 3-2: Cơ cấu dân tộc xã Xuân Đài

35

Biểu đồ 3-3: Cơ cấu sử dụng đất xã Xuân Đài

38

7


DANH MỤC HÌNH ẢNH
Ảnh 4-1: Khai thác Măng tại thôn Dụ

50

Ảnh 4-2: Khai thác gỗ Sâng tại vùng đệm

51

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4-1: Mô hình tổ chức quản lý bảo vệ rừng của xã Xuân Đài


BV&PTR

Bảo vệ và phát triển rừng

ĐDSH

Đa dạng sinh học

LĐTBXH

Lao động thương binh xã hội

LNCĐ

Lâm nghiệp cộng đồng

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PGS. TS

Phó giáo sư. Tiến sỹ

PRA

Đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân

QĐ-TTg

Quyết định- Thủ tướng


diện tích tự nhiên toàn quốc với 133 khu rừng đặc dụng trong đó có 32 VQG, 58
khu dự trữ thiên nhiên, 28 khu bảo tồn loài, nơi cư trú và 21 khu bảo tồn cảnh
quan. [3]
Do rừng bị thu hẹp, ĐDSH bị đẩy lùi tới những vùng núi nên hầu hết các
khu rừng đặc dụng phân bố ở vùng sâu xa, nơi đồng bào các dân tộc thiểu số
sinh sống. Mỗi một khu rừng đặc dụng có những đặc điểm đặc trưng riêng biệt
nhưng thường có đặc điểm chung là địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, kinh tế
xã hội chưa phát triển, dân cư thưa thớt. Đặc điểm này đã gây ra không ít khó
khăn và trở ngại cho công tác quản lý các khu rừng đặc dụng trong những năm
qua. Lực lượng quản lý về lâm nghiệp mỏng, nhiều nơi không đủ điều kiện
thành lập ban quản lý rừng đặc dụng. Trình độ hiểu biết về ĐDSH cũng như tổ
chức quản lý rừng đặc dụng còn hạn chế. Tuy đã được Chính phủ và Chính
quyền các cấp quan tâm nhưng kinh phí giành cho các hoạt động BTTN vẫn rất
hạn hẹp. Nhiều khu rừng đặc dụng chỉ tồn tại trên danh nghĩa, không đầu tư,
không chủ quản lý. Cũng có nhiều khu tuy đã có ban quản lý nhưng lực lượng
mỏng, hoạt động kém hiệu quả. Những đặc điểm này là nguyên nhân dẫn đến
rừng và ĐDSH của các khu rừng đặc dụng vẫn tiếp tục bị tác động và suy giảm.

10


Từ trước tới nay, việc xây dựng các khu rừng đặc dụng cũng như xây
dựng kế hoạch quản lý và hoạt động vẫn thường được tiếp cận từ trên xuống,
chưa quan tâm đến người dân sống trong và gần các khu rừng đặc dụng. Điều
này đã đặt người dân với vai trò là người ngoài cuộc trong công tác bảo vệ rừng
và BTTN. Tiềm năng to lớn của người dân về lực lượng, về những hiểu biết và
kinh nghiệm lâu đời trong quản lý, sử dụng tài nguyên chưa được khai thác ứng
dụng. Trong khi đó, BTTN thường mâu thuẫn với những lợi ích của người dân
vốn sinh sống phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng. Nhiều nơi, thay vì tham
gia quản lý bảo vệ tài nguyên, người dân đã đối đầu với lực lượng quản lý bảo

VQG Xuân Sơn cũng như các VQG và khu BTTN khác trong cả nước
đang đứng trước thách thức rất lớn về áp lực tác động trực tiếp của người dân
vùng đệm lên tài nguyên rừng của VQG, mặt khác chưa có nghiên cứu cụ thể
nào về sự tham gia quản lý rừng của cộng đồng tại vùng đệm của VQG Xuân
Sơn, chưa tìm được những nguyên nhân cản trở người dân tham gia bảo vệ tài
nguyên rừng.
Với mong muốn tìm hiểu thực trạng việc quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
vùng đệm VQG Xuân Sơn từ đó đề xuất các giải pháp thu hút cộng đồng địa
phương tham gia bảo vệ tài nguyên rừng góp phần giảm áp lực của cộng đồng
dân cư sống trong vùng đệm tới VQG, luận văn tiến hành nghiên cứu với tựa đề:
“Nghiên cứu sự tham gia quản lý rừng của cộng đồng tại vùng đệm
Vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ”

12


Chương I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Nhận thức chung về vấn đề nghiên cứu:
1.1.1. Cộng đồng địa phương và quản lý rừng cộng đồng:
Theo Darcy Davis Case (1990), cộng đồng địa phương là nhóm người
cùng sống trên một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung,
các luật lệ xã hội chung hoặc có quan hệ gia đình với nhau. [16]
Phạm Xuân Phương (2001) [12], trong báo cáo hội thảo quốc gia “Khuôn
khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” được tổ chức tại Hà
Nội tháng 11/2001 cho rằng: “Cộng đồng bao gồm toàn thể những người sống
thành một xã hội có những điểm tương đồng về mặt văn hoá truyền thống, có
mối quan hệ sản xuất, đời sống gắn bó với nhau và thường có danh giới không
gian trong một làng bản”.
Theo điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2004

gia đình, nhóm hộ, thôn, bản) thực hiện trên diện tích đất lâm nghiệp được giao
và khoán trên cơ sở hợp tác giữa các thành viên trong cộng đồng với các tổ chức
ngoài cộng đồng.[1]
1.1.2. Vùng đệm và quy chế quản lý vùng đệm ở Việt Nam:
Gần đây nhất, khái niệm vùng đệm được thể chế hoá trong Quyết định
186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Chính phủ. Một lần nữa vùng đệm được
xác định nằm ngoài VQG, Quyết định này đã đề cập một cách tương đối toàn
diện về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các hoạt động và sự phối kết hợp giữa các
bên liên quan trong việc phát triển kinh tế, xã hội vùng đệm.
Theo Quyết định này [19]. Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng
đất có mặt nước nằm liền kề với VQG và khu BTTN bao gồm toàn bộ hoặc một
phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với VQG và khu BTTN. Vùng
đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới VQG
và Khu BTTN. VQG và khu BTTN phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng. Ban
quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia
14


các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài nguyên tự
nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập gắn sinh kế
của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng. Cơ quan chính quyền
Nhà nước trên địa bàn vùng đệm lập dự án đầu tư phát triển sản xuất và cơ sở hạ
tầng nông thôn để ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân cư, đồng thời thiết lập
quy chế trách nhiệm của cộng đồng dân cư với từng hộ gia đình trong việc bảo
vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng. Diện tích vùng đệm không tính vào diện tích
của khu rừng đặc dụng.
Như vậy tất cả các VQG, khu BTTN đều phải có vùng đệm, đây là chiếc
nôi, là vành đai bao quanh có tác dụng bảo vệ vùng lõi VQG, khu BTTN. Vì
vậy, đầu tư xây dựng và quản lý vùng đệm là một nhiệm vụ hết sức quan trọng.
Đầu tư phát triển vùng đệm nhằm giảm nhẹ nguy cơ, thách thức và những

việc quản lý vùng đệm gặp nhiều khó khăn và thách thức, đòi hỏi phải có nhiều
biện pháp tổng hợp về pháp lý, kinh tế, kỹ thuật, xã hội, tuyên truyền và phải
huy động nỗ lực của nhiều ngành, nhiều cấp khác nhau lâu dài, liên tục. Các bên
liên quan trong quản lý vùng đệm và VQG phát huy vai trò, trách nhiệm của
mình đối với bảo tồn và phát triển.
1.2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới:
Trong giai đoạn hiện nay quản lý rừng cộng đồng đang được xem như là
một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, hỗ trợ giải
quyết tình trạng suy thoái tài nguyên, đã có không ít những mô hình quản lý tài
nguyên cộng đồng được hình thành ở Trung Quốc, Thái Lan, Philippine,... Đây
là những bài học quý giá cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền
vững tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam.
Ở Canada, trong bài viết của Sherry, E,1999 [26] về quản lý rừng cộng
đồng ở VQG Vutut vừa là một khu BTTN vừa là khu di sản văn hoá của người
thổ dân ở vùng Bắc Cực. Ban quản lý VQG đã phối hợp với chính quyền và thổ
dân huy động lực lượng đã làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã

16


và tăng các giá trị của VQG. Sự tham gia quản lý rừng cộng đồng đã kết hợp
được các mối quan tâm và kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn. Ban quản lý
VQG giúp về kỹ thuật xây dựng các mô hình bảo tồn thiên nhiên và phát triển
kinh tế xã hội, còn dân bản địa có thể thực hiện các mô hình đó. Quản lý rừng
cộng đồng đã giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa chính sách của chính quyền và
bản sắc truyền thống của người dân, đảm bảo cho sự thành công của công tác
bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hoá. Quản lý rừng cộng đồng tại
VQG Vutut được đánh giá là rất thành công, theo tác giả thì nó được thiết kế để
“kết hợp giữa sự tốt đẹp nhất của hai thế giới” Nhà nước văn minh và cộng đồng
thổ dân.

đồng quản lý rừng ở Thái Lan” đã có nghiên cứu điểm tại VQG Dong Yai nằm ở
Đông Bắc và khu rừng phòng hộ Nam Sa ở phía Bắc Thái Lan. Đó là những
vùng quan trọng đối với công tác bảo tồn ĐDSH, đồng thời cũng là những vùng
có nhiều điểm độc đáo về kinh tế xã hội, về thể chế truyền thống của cộng đồng
người dân địa phương trong quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Tại
Dong Yai, người dân đã chứng minh được khả năng của họ trong việc tự tổ chức
các hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xây
dựng quản lý hệ thống quản lý rừng đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái
cũng như phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực. Tại Nam Sa, cộng đồng
dân cư cũng rất thành công trong công tác quản lý rừng phòng hộ. Họ khẳng
định rằng nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực
thì họ chắc chắn sẽ thành công trong việc kiểm soát các hoạt động khai thác quá
mức nguồn tài nguyên rừng, các hoạt động phá rừng và tác động tới môi trường.
Quản lý rừng cộng đồng ở Thái Lan có thể trở thành bài học kinh nghiệm quý
báu cho Việt Nam, bởi Thái Lan cũng là một nước vùng Đông Nam Á, có một
số đặc điểm tương đồng với Việt Nam về điều kiện tự nhiên và văn hoá xã hội.
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam:
1.3.1. Quá trình phát triển lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam:
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo nên
cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát triển tài
18


nguyên rừng. Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý
nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có
thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả và bền vững hơn, phù hợp
với xu hướng phát triển của thế giới. [13]
Ngày nay ở Việt Nam, quản lý rừng cộng đồng đã được nhận thức như
một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao.
Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá

thừa nhận 5 thành phần kinh tế. Năm 1988 và năm 1991 lần đầu tiên ra đời Luật
đất đai và Luật BV&PTR cho phép giao đất, giao rừng cho tổ chức, cá nhân và
hộ gia đình. Lâm nghiệp hộ gia đình được thừa nhận.
Ngày 17/1/1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính
phủ) ra Nghị định số 17/HĐBT về việc thi hành Luật BV&PTR xác nhận làng,
bản có rừng trước ngày ban hành Luật BV&PTR là chủ rừng hợp pháp.
Giai đoạn 1993 - 2002:
Tăng cường quá trình phi tập trung hoá trong quản lý rừng, quan tâm đến
xã hội hóa nghề rừng nhưng chính sách đối với LNCĐ chưa rõ ràng.
Ở các địa phương thực hiện nhiều mô hình quản lý rừng cộng đồng nhưng
ở mức độ tự phát hoặc mang tính chất thí điểm. Bộ NN&PTNT thành lập Tổ
công tác Quốc gia về LNCĐ để triển khai một số nghiên cứu và tổ chức nhiều
hội thảo quốc gia về LNCĐ. Nhiều chương trình, dự án quốc tế quan tâm đến
phát triển LNCĐ. Nhưng về cơ bản LNCĐ chưa được thể chế hóa rõ ràng.
Luật đất đai (sửa đổi) năm 1993, Nghị định 02/CP năm 1994 và Nghị định
163/CP năm 1999 về giao đất lâm nghiệp đều không quy định rõ ràng cho đối
tượng cộng đồng. Luật Dân sự năm 1995 không quy định cộng đồng dân cư là
một chủ thể kinh tế có tư cách pháp nhân.
Trong giai đoạn này nhiều địa phương đã vận dụng một số văn bản của
Nhà nước và của ngành cho phát triển LNCĐ như Nghị định 01/CP năm 1995
về giao khoán đất lâm nghiệp, Nghị định số 29/CP năm 1998 về Quy chế thực
20


hiện dân chủ ở xã, Quyết định 245/1998/QĐ-TTg về việc thực hiện trách nhiệm
của Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp, Thông tư 56/TT năm 1999
của Bộ NN&PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ phát triển rừng
trong cộng đồng, Quyết định 08/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quy chế quản lý 3
loại rừng, Quyết định 178/2001/QĐ-TTg năm 2001 về quyền hưởng lợi và nghĩa
vụ khi tham gia quản lý rừng.

trong Luật BV&PTR, thể hiện ở một số điểm rõ ràng là: Ngoài các quyền và
nghĩa vụ chung được quy định: Không được phân chia rừng cho các thành viên
trong thôn; không được chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế
chấp, góp vốn kinh doanh bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng,
giá trị quyền sử dụng rừng được giao.
Như vậy, đến nay Việt Nam đã có khung pháp lý và chính sách cơ bản
cho quản lý rừng cộng đồng, được thể hiện trong 2 bộ luật lớn, đó là Luật Đất
đai năm 2003, Luật BV&PTR năm 2004 và các văn bản chính sách khác. Tuy
nhiên các văn bản chính sách này không quy định các quyền hưởng lợi cho cộng
đồng quản lý rừng.
1.3.2. Sự tham gia quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam:
Kể từ khi VQG Cúc Phương được thành lập năm 1962 cho tới nay nước ta
đã có 32 VQG và 126 khu BTTN trải đều trên khắp lãnh thổ.
Vùng đệm của các khu BTTN và VQG chính thức được đề cập khi có
Quyết định số 194-CT ngày 9/8/1986 quy định danh mục 73 khu rừng cấm và
quyết định số 1171-CT ngày 30/11/1986 của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ NN&
PTNT) ban hành các loại quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng
quy định về vùng đệm các VQG và khu BTTN, tuy nhiên cho đến nay việc thực
hiện quản lý vùng đệm còn rất hạn chế.
Quản lý rừng cộng đồng được xây dựng dựa trên phong tục tập quán của
người dân địa phương. Có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu của
quản lý bền vững tài nguyên rừng. Nhưng cũng có những phong tục tập quán
ngược lại với yêu cầu của quản lý bền vững tài nguyên rừng. Vì vậy, quản lý
22


rừng cộng đồng phải hướng người dân vào phát huy được những phong tục tập
quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở hoạt động quản lý
bền vững tài nguyên rừng. Tuy nhiên, phong tục tập quán, nhận thức, kiến thức
của người dân không phải là bất biến. Chúng thay đổi không ngừng cùng sự tiến

Đây là một mô hình, hình thức quản lý dựa trên các luật tục của cộng đồng cho
hiệu quả tốt trong phát triển kinh tế và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng.
Hiện nay ở một số địa phương như Sơn La và Lai Châu, thuộc vùng hoạt
động của dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Chương trình hợp tác kỹ thuật Việt
Nam - Cộng hoà Liên bang Đức) [6], đã xây dựng nên các mô hình quản lý rừng
cộng đồng. Dự án đã phối hợp với các ban ngành của tỉnh (Chi cục Kiểm lâm,
chi cục Lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã) trong việc tiến
hành giao quyền sử dụng rừng và đất rừng cho hộ gia đình, cá nhân, các đoàn
thể và cộng đồng, hỗ trợ quy hoạch sử dụng đất, xây dựng các quy ước quản lý
bảo vệ rừng thôn bản. Tiếp sau đó, một bước đột phá trong hoạt động quản lý
rừng cộng đồng là dự án đã tiến hành xây dựng và áp dụng “Phương pháp đánh
giá tài nguyên rừng có sự tham gia và lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng” cho
các thôn bản trong vùng dự án. Đây là phương pháp được các nhà khoa học đầu
ngành đánh giá là rất tốt cho việc quản lý sử dụng rừng trên các diện tích đã giao
quyền sử dụng cho các hộ, các tổ chức và cộng đồng.
Vũ Hoài Minh và Hans Warfvinge (2002) [27], đã tiến hành đánh giá về
thực trạng quản lý rừng tự nhiên bởi các hộ gia đình và cộng đồng địa phương ở
3 tỉnh Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế. Các tác giả đã tiến hành tìm hiểu
về sự hình thành, các lợi ích đạt được và những vấn đề hưởng lợi, quyền sở hữu
và các chính sách liên quan đến hình thức quản lý này. Trong 5 mô hình quản lý
rừng cộng đồng có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phương (hình thức
quản lý của các đồng bào dân tộc thiểu số như Mường, Thái) và được chính
quyền địa phương chấp thuận. Họ tự đề ra các quy định, quản lý, sử dụng lâm
sản cũng như các hoạt động xây dựng và phát triển rừng. Hình thức quản lý ở
Thuỷ Yên Thượng (cộng đồng là người kinh) được xây dựng dựa trên sự hợp tác
giữa chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) với sự hỗ trợ của dự án quốc tế.

24





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status