Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN BÁ LƢỢNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH TỰ NHIÊN
MỘT SỐ TRẠNG THÁI RỪNG THỨ SINH
TẠI BAN QUẢN LÝ RỪNG PHÒNG HỘ
THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAO
: 60 62 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
PGS.TS. LÊ SỸ TRUNG
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hƣớng dẫn khoa học PGS.TS. Lê Sỹ
Trung và các thầy giáo, cô giáo Khoa Lâm nghiệp Trƣờng đại học Nông lâm
Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong cả quá trình nghiên cứu và hoàn
thiện luận văn.
Tôi xin trân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ công nhân viên của
Ban quản lý rừng phòng hộ thành phố Lào Cai, UBND xã Hợp Thành, UBND
xã Tả Phời đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong việc điều tra, nghiên cứu,
thu thập số liệu tại hiện trƣờng và kế thừa các số liệu sẵn có để hoàn thành tốt
luận văn.
Vì điều kiện thời gian, nhân lực và những khó khăn khách quan nên bản
luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận
đƣợc những ý kiến đóng góp của các các thầy, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp để
luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Bá Lượng Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
1.2.3.1. Thuận lợi 23
1.2.3.2. Khó khăn 24
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tƣợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu: 25
2.2. Giới hạn nghiên cứu 25
2.3. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 25
2.3.1. Nội dung nghiên cứu 25
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.2.1. Phương pháp kế thừa các tài liệu cơ bản 26
2.3.2.2. Phương pháp điều tra thực địa 26
2.3.3. Xử lý số liệu 29
2.3.3.1. Phương pháp nghiên cứu tầng cây gỗ 29
2.3.3.2. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm tái sinh rừng 31
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1. Hiện trạng thảm thực vật tại thành phố Lào Cai. 33
3.1.2. Thảm thực vật tự nhiên 33
3.2. Nghiên cứu đặc điểm của tầng cây cao và lớp cây tái sinh. 37
3.2.1. Đặc điểm tầng cây cao ở trạng thái rừng tự nhiên (IIa) 37
3.2.2. Đặc điểm tầng cây cao ở trạng thái rừng tự nhiên (IIB) 39
3.2.3. Đặc điểm tái sinh dưới tán rừng IIa. 41
3.2.3.1. Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh. 41
3.2.3.2. Mật độ, chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 42
3.2.4. Đặc điểm tái sinh dưới tán rừng IIb 42
3.2.4.1. Đặc điểm cấu trúc tổ thành cây tái sinh 42
3.2.4.2. Mật độ, chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 43
3.2.5. Quy luật phân bố của lớp cây tái sinh 44
3.2.5.1. Phân bố số cây theo cấp chiều cao tại trạng thái rừng IIa. 44
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
v
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Ký hiệu độ nhiều của thực bì theo Drude
(Theo Thái Văn Trừng, 1970) 29
Bảng 2.2: Đặc điểm tầng cây cao trạng thái rừng IIa
rừng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu 37
Bảng 2.3: Đặc điểm tầng cây cao trạng thái rừng IIb
rừng phòng hộ tại khu vực nghiên cứu 39
Bảng 3.1: Tổ thành lớp cây tái sinh dƣới tán rừng IIa
tại khu vực nghiên cứu 41
Bảng 3.2: Chất lƣợng và nguồn gốc cây tái sinh dƣới tán rừng IIa
tại rừng phòng hộ xã Tả Phời và Hợp Thành 42
Bảng 3.3: Tổ thành lớp cây tái sinh dƣới tán rừng IIb
tại khu vực nghiên cứu 43
Bảng 3.4: Mật độ, chất lƣợng và nguồn gốc cây tái sinh
dƣới tán rừng IIb tại khu vực nghiên cứu 44
Bảng 3.5: Phân bố cây theo cấp chiều cao tại vị trí chân đồi 44
Bảng 3.6: Phân bố cây theo cấp chiều cao tại vị trí sƣờn đồi 45
Bảng 3.7: Phân bố cây theo cấp chiều cao tại vị trí đỉnh đồi 45
Bảng 3.8: Phân bố số cây theo cấp chiều cao dƣới tán rừng tự nhiên (IIa) 46
Bảng 3.9: Phân bố cây theo cấp chiều cao tại vị trí chân đồi 48
Bảng 3.10: Phân bố cây theo cấp chiều cao tại vị trí sƣờn đồi 48
Bảng 3.11: Phân bố cây theo cấp chiều cao tại vị trí đỉnh đồi 48
Bảng 3.12: Phân bố số cây theo cấp chiều cao dƣới tán rừng tự nhiên (IIb) 49
Bảng 3.12: Phân bố cây tái sinh trên mặt đất trong các trạng thái thảm
thực vật tại khu vực nghiên cứu 51
dòng chảy, hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn đất, điều hoà khí hậu và cung cấp
lâm đặc sản …
Theo số liệu công bố của các tổ chức IUCN, UNDP và WWF (1993)
[13] trung bình mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 20 triệu ha rừng.
Trong số đó diện tích rừng bị mất do đốt phá để làm nƣơng rẫy chiếm 50%,
cháy rừng 23%, do khai thác từ 5 -7%, còn lại do các nguyên nhân khác.
Ở Việt Nam, độ che phủ rừng của cả nƣớc năm 1943 là 43%, năm
1993 còn 28% và năm 1999 là 33,2%. Nguyên nhân làm giảm độ che phủ
rừng chủ yếu là do chiến tranh, canh tác nƣơng rẫy và khai thác lạm dụng.
Mất rừng dẫn đến hạn hán, lũ lụt. Hậu quả của nó là nghèo đói và bệnh
tật. Vì vậy, phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trọng nhất hiện
nay đối với ngành Lâm nghiệp Việt Nam cũng nhƣ của các nƣớc nhiệt đới
khác khi mà độ che phủ của rừng đã bị suy giảm xuống dƣới mức an toàn sinh
thái mà không đảm bảo đƣợc sự phát triển bền vững của đất nƣớc.
Theo nghĩa thông thƣờng, phục hồi rừng là quá trình tái lập lại rừng
trên những diện tích đã bị mất rừng. Đó là quá trình sinh địa phức tạp bao
gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm cây gỗ bắt đầu
khép tán. Tuỳ theo mức độ tác động của con ngƣời trong quá trình lập lại
rừng mà phân chia thành các giải pháp phục hồi rừng: tái sinh tự nhiên, xúc
tiến tái sinh, tái sinh nhân tạo (trồng rừng). Nhƣ vậy, trừ trồng rừng, còn lại
các giải pháp khác đều liên quan đến tái sinh tự nhiên.
Thực tiễn đã chứng minh rằng để thực hiện tốt mục tiêu là tiết kiệm
đƣợc thời gian, tiền của trong công tác phục hồi rừng thì cần có sự hiểu biết
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
2
đầy đủ về bản chất và qui luật phát triển của hệ sinh thái rừng, trƣớc hết là
quá trình tái sinh tự nhiên. Đồng thời cũng phải căn cứ vào điều kiện kinh
tế xã hội ở mỗi nƣớc, mỗi vùng.
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt
sinh, xúc tiến tái sinh trên các trạng thái rừng thứ sinh tại Ban quản lý rừng
phòng hộ thành phố Lào Cai.
3. Ý nghĩa của đề tài
- Về lý luận: Góp phần nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên thảm
thực vật rừng nhiệt đới bị suy thoái do các hoạt động của con ngƣời.
- Về thực tiễn: Đề xuất dƣợc các giải pháp kỹ thuật lâm sinh có tính
khả thi, hiệu quả, xuất phát từ kết quả nghiên cứu, là thông tin quan trọng
giúp Ban quản lý rừng phòng hộ thành phố Lào Cai tham khảo trong quản
lý bản vệ rừng.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
DÂN SINH KINH TẾ - XÃ HỘI
1.1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1.1. Khái niệm và định nghĩa về tái sinh rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ dùng để chỉ khả năng tự tái
tạo, hay tự hồi sinh từ mức độ tế bào đến mức độ mô, cơ quan, cá thể và
thậm chí cả một quần lạc sinh vật trong tự nhiên. Cùng với thuật ngữ này,
còn có nhiều thuật ngữ khác đang đƣợc sử dụng rộng rãi hiện nay. Jordan,
Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ “ Restoration” để diễn tả sự hoàn
trả, sự lặp lại của toàn bộ quần xã sinh vật giống nhƣ nó đã xuất hiện trong
tự nhiên. Schereckenbeg, Hadley và Dyer (1990) sử dụng thuật ngữ:
“Rehabitilation” để chỉ sự phục hồi lại bằng biện pháp quản lý, điều chế
rừng đã bị suy thoái
Tái sinh rừng (forestry regeneration) là một thuật ngữ đƣợc nhiều nhà
khoa học sử dụng để mô tả sự tái tạo (phục hồi) của lớp cây con dƣới tán rừng.
Căn cứ vào nguồn giống, ngƣời ta phân chia 3 mức độ tái sinh
trình sinh học mang tính đặc thù của các hệ sinh thái rừng.
1.1.2. Khái niệm về trạng thái rừng thứ sinh
Rừng thứ sinh đƣợc hình thành do các quá trình diễn thế thứ sinh
dƣới ảnh hƣởng đa dạng của tự nhiên và hoạt động sống của con ngƣời nhƣ
khai thác gỗ, làm nƣơng rẫy…Nói chung, sự xuất hiện rừng thứ sinh là do
việc xử lý rừng không theo những phƣơng thức lâm sinh chân chính nào.
Đặc điểm của rừng thứ sinh: Thành phần hệ thực vật đơn giản, bao
gồm chủ yếu cây rừng thứ sinh ƣa sáng, đời sống ngắn, kích thƣớc nhỏ, gỗ
trắng mềm, quả phát tán đồng loạt nhờ gió…
Kết cấu tầng thứ bị phá vỡ, độ che phủ của tán lá không đồng đều.
Nhiều thực vật thân bụi và thân leo.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
6
Trữ lƣợng gỗ thấp, nhất là gỗ của những loài có giá trị cao.
Tái sinh rừng kém do còn ít cây giống, hoặc do ảnh hƣởng của khai
thác rừng và môi trƣờng biến đổi sau khai thác.
Trên những lập địa thuận lợi có thể gặp rừng có cấu trúc đơn giản,
thuần nhất về thành phần loài và kích thƣớc.
Hoàn cảnh rừng bị đảo lộn và không ổn định, trong đó đất bị thoái hóa
nhanh chóng.
1.1.3. Các nghiên cứu về tái sinh rừng
1.1.3.1.Trên thế giới
Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng thế kỷ,
nhƣng với rừng nhiệt đới vấn đề này mới đƣợc tiến hành chủ yếu từ những
năm 30 của thế kỷ XX trở lại đây.
Từ những năm giữa thế kỷ XIX, do sự phát triển của ngành công
nghiệp hoá giấy, cho phép sử dụng một cách tổng hợp các sản phẩm gỗ tự
nhiên nên nhiều diện tích rừng đã bị khai thác trắng để làm nguyên liệu. Để
phục hồi lại thảm thực vật và đáp ứng nhu cầu về gỗ đang ngày càng gia
của tầng đất mặt đã ảnh hƣởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.
Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dƣỡng khoáng, do đó thảm
cỏ và thảm cây bụi sinh trƣởng kém nên ảnh hƣởng của nó đến các cây gỗ
tái sinh không đáng kể. Ngƣợc lại, những lâm phần thƣa, rừng đã qua khai
thác thì thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này
chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Nguyễn Văn Thêm,
1992) [39].
Phân chia các giai đoạn trong tái sinh tự nhiên đã đƣợc đa số các nhà
nghiên cứu thống nhất cho rằng, cần phải nghiên cứu quá trình tái sinh rừng
và các nhân tố ảnh hƣởng từ khi hình thành cơ quan sinh sản, sự hình thành
hoa , quả , các nhân tố phát tán hạt, sự phù hợp của mùa vụ hạt giống với
điều kiện khí hậu và sự phá hoại của động vật côn trùng cho đến khi cây
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
8
con phát triển ổn định. Đa số các nhà Lâm học của Liên Xô cũ đề nghị
trong lâm học chỉ nghiên cứu quá trình tái sinh rừng bắt đầu từ khi cây có
hoa, quả, thậm chí từ giai đoạn cây mạ trở đi (Đinh Quang Diệp, 1993) [7].
Đối với rừng nhiệt đới, quá trình tái sinh tự nhiên có nhiều điểm khác
biệt. Căn cứ vào đặc điểm tái sinh Van Steenis (1956) [60] đã phân biệt hai
kiểu tái sinh tự nhiên phổ biến: đó là tái sinh phân tán liên tục dƣới tán của
các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh theo vệt trên các lỗ trống của các
loài cây ƣa sáng. Ông gọi những loài cây tiên phong là các loài cây tạm cƣ,
còn những loài cây mọc sau là những loài cây định cƣ hay định vị.
Các công trình nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên trong rừng
nhiệt đới, đáng chú ý là công trình nghiên cứu của P. W. Richards [31], tác
giả cuốn “Rừng mƣa nhiệt đới”. Nhận định về khả năng phục hồi rừng tự
nhiên ông cho rằng tất cả các quần xã thực vật do rừng mƣa nhiệt đới sinh
ra, từ thảm cỏ, thảm cây bụi, đến rừng thứ sinh nếu đƣợc bảo vệ, không
chặt phá, đốt lửa và chăn thả, theo thời gian, qua một số giai đoạn trung
trúc tuổi, đặc điểm phân bố và thời kỳ tái sinh rừng.
Sự tƣơng đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây
gỗ lớn đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards,
1933; 1939; Aubréville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert,1954; Joné,
1955 - 1956; Schultz, 1960; Baur, 1946; Rollet, 1969).
Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài
cây có giá trị nên trong thực tiễn lâm sinh ngƣời ta chỉ tập trung khảo sát
những loài cây mục đích có giá trị kinh tế nhất định.
Để xác định mật độ cây tái sinh ngƣời ta dùng các phƣơng pháp khác
nhau. Lowdermilk (1927) đề xuất phƣơng pháp điều tra theo ô dạng bản
(có diện tích từ 1 - 4m
2
, hoặc ô có kích thƣớc lớn từ 10 - 100m
2
), điều tra
theo dải ô hẹp với ô có kích thƣớc từ 10 - 100m
2
. Povarnixbun (1934),
Yurkevich (1938) đề nghị điều tra trong các ô hệ thống có diện tích từ 0,25 - 1,0ha.
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
10
Để giảm sai số trong khi thống kê, Barnard Rollet (1950) đã đề nghị
phƣơng pháp “điều tra chuẩn đoán” mà kích thƣớc ô đo đếm có thể thay
đổi tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác
nhau. V. Gnexterov(1954, 1960) đề nghị dùng 15 - 26 ô kích thƣớc từ 1 - 2
m
2
cho cây con tuổi nhỏ hơn 5 năm, 10 - 15 ô kích thƣớc từ 4 -5m
2
(thƣờng là 100m) để thu thập số liệu. Có 3 kích thƣớc OTC đƣợc sử dụng
nhƣ sau:
- Ô 4m
2
(2x2m) để đánh giá lớp cây tái sinh nhỏ (cây có chiều cao nhỏ
hơn 1,5m).
- Ô 25m
2
(5x5m) để nghiên cứu quần thể cây non từ 3-5 năm sau
khai thác.
- Ô 100m
2
(10x10m) áp dụng cho rừng sau 10 năm khai thác.
Tóm lại, để nghiên cứu tái sinh rừng công việc quan trọng là xác định
phƣơng pháp điều tra thu thập số liệu ở thực địa. Phƣơng pháp sẽ ảnh
hƣởng đến độ chính xác của kết quả và các kết luận đƣợc rút ra từ kết quả
nghiên cứu. Trên thế giới có nhiều phƣơng pháp nghiên cứu tái sinh khác
nhau, nhƣng nhìn chung các phƣơng pháp đều thu thập số liệu tái sinh trên
ô dạng bản. Tuy nhiên, tuỳ theo đối tƣợng và mục đích nghiên cứu cụ thể
mà lựa chọn phƣơng pháp, kích thƣớc ô dạng bản cho phù hợp.
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Ở nƣớc ta, vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới đã đƣợc tiến hành nghiên
cứu từ những năm 60 của thế kỉ XX. Với chuyên đề “ Tái sinh tự nhiên” do
Viện Điều tra Qui hoạch rừng thực hiện tại một số khu rừng trọng điểm
thuộc các tỉnh: Quảng Ninh, Yên Bái, Nghệ An (lƣu vực sông Hiếu ), Hà
Tĩnh (Hƣơng Sơn, Hƣơng Khê) và Quảng Bình (lƣu vực sông Long Đại).
Trên cơ sở các nguồn tài liệu và số liệu của các đoàn, đội điều tra tài
nguyên thu thập, ghi nhận trong các báo cáo tài nguyên rừng hoặc báo cáo
lâm học các khu rừng điều tra thuộc miền Bắc Việt Nam đã đƣợc Nguyễn
Vạn Thƣờng, 1991 [40] tổng kết và bƣớc đầu đƣa ra kết luận hiện tƣợng tái
Vũ Tiến Hinh (1991) [12] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh của rừng
tự nhiên ở Lâm trƣờng Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng
Ninh) đã nhận xét hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và
tầng cây cao có liên hệ chặt chẽ. Đa số các loài có hệ số tổ thành tầng cây
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
13
cao càng lớn thì tổ thành tầng cây tái sinh càng lớn. Qua tính toán cho thấy
giữa hai hệ số tổ thành có quan hệ bậc nhất và tuân theo đƣờng thẳng:
n = a + bN, Trong đó:
n và N lần lƣợt là hệ số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh
và tầng cây cao.
Đinh Quang Diệp (1993) [7] nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp
vùng Easup - Đắc Lắc kết luận độ tàn che của rừng, thảm mục, độ dày đặc
của thảm tƣơi, điều kiện lập địa, lửa rừng là những nhân tố có ảnh hƣởng
sâu sắc đến số lƣợng và chất lƣợng cây con tái sinh dƣới tán rừng, trong đó
lửa rừng là nguyên nhân gây nên tái sinh cây đời chồi. Về qui luật phân bố
cây trên mặt đất, tác giả nhận định khi tăng diện tích lên thì lớp cây tái sinh
có phân bố theo cụm.
Nguyễn Ngọc Lung và cộng sự (1993) [18] cho rằng nghiên cứu quá
trình tái sinh tự nhiên cho phép nắm vững các điều kiện cần và đủ để hƣớng
sự can thiệp của con ngƣời đi đúng hƣớng. Quá trình đó tuỳ thuộc vào mức
độ tác động của con ngƣời mà ta thƣờng gọi là xúc tiến tái sinh, với mức
cao nhất là tái sinh nhân tạo. Theo tác giả thì quá trình tái sinh tự nhiên tuỳ
thuộc vào 3 yếu tố chính sau:
- Nguồn hạt giống, khả năng phát tán hạt trên một đơn vị diện tích.
- Điều kiện để hạt có thể nảy mầm, bén rễ (nhiệt độ, độ ẩm, thảm tƣơi).
- Điều kiện để cây mạ, cây con sinh trƣởng và phát triển: đất, nƣớc, ánh sáng.
Nguyễn Duy Chuyên (1995) [4] cho thấy nhiều loài cây tái sinh tự
nhiên dƣới tán rừng có thể đƣợc biểu diễn bằng hàm toán học. Qua nghiên
từ 4 loài ở giai đoạn I (dƣới 5 năm), tăng lên 5 loài ở giai đoạn (trên 25
năm). Rừng phục hồi có 1 tầng cây gỗ giao tán ở giai đoạn 10 tuổi và đạt độ
tàn che 0,4.
Lê Đồng Tấn (2000) [35] nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên
sau nƣơng rẫy tại Sơn La, tác giả kết luận: số lƣợng cây/ô tiêu chuẩn, mật
độ cây giảm dần từ chân đồi lên sƣờn và đỉnh đồi. Mật độ cây giảm khi độ
dốc tăng. Tổ hợp loài cây ƣu thế trên cả 3 vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là
giống nhau, sự khác nhau chính là hệ số tổ thành của các loài trong tổ hợp
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
15
đó, tính chất này càng thể hiện rõ trên cùng một địa điểm (một khu đồi). Độ
cao có ảnh hƣởng lên sự phân bố của các loài cây và sự hình thành thảm
thực vật. Thoái hoá đất có ảnh hƣởng đến: mật độ cây, số lƣợng loài cây và
tổ thành loài cây .
Phạm Ngọc Thƣờng (2002) [41] nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên
và đề xuất giải pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng sau nƣơng rẫy ở Thái
Nguyên và Bắc Kạn. Tác giả đã rút ra một số kết luận: Quá trình phục hồi
rừng sau nƣơng rẫy chịu tác động tổng hợp của các nhân tố sinh thái:
nguồn giống, địa hình, thoái hoá đất và con ngƣời. Khoảng cách rừng tự
nhiên gieo giống đến đám nƣơng càng gần thì khả năng gieo giống càng
thuận lợi. Ở chân đồi số loài, mật độ cây gỗ tái sinh là lớn nhất và ít nhất là
ở đỉnh, độ dốc càng lớn thì quá trình phục hồi rừng càng khó khăn. Mật độ
cây gỗ giảm dần theo thời gian phục hồi rừng.
Lê Ngọc Công (2002) [6] trong nghiên cứu quá trình phục hồi rừng
bằng khoanh nuôi trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên cho rằng ở giai
đoạn đầu của quá trình diễn thế phục hồi rừng (giai đoạn 1-6 năm) mật độ
cây tăng lên, sau đó giảm. Quá trình này bị chi phối bởi qui luật tái sinh tự
nhiên, quá trình nhập cƣ và quá trình đào thải của các loài cây. Nhận xét
đƣợc rút ra từ kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu
2
(20x25m) áp dụng cho cho cả 5 giai đoạn trong quá trình tái sinh tự
nhiên phục hồi rừng sau nƣơng rẫy tại 2 tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Đối
với thảm vầu, nứa phục hồi tự nhiên tác giả đã áp dụng diện tích OTC là
100m
2
(10x10m).
Nhƣ vậy, mỗi tác giả khi tiến hành điều tra thu thập số liệu ngoài thực
địa đều đƣa ra một tiêu chuẩn và kích thƣớc OTC khác nhau. Tuy có khác
nhau, nhƣng các tác giả đều thống nhất số lƣợng và kích thuớc OTC phải
đủ lớn thì số liệu thu thập đƣợc mới đủ độ tin cậy. Việc áp dụng phƣơng
pháp điều tra theo OTC đang đƣợc áp dụng rộng rãi trên thế giới cũng nhƣ
trong nƣớc. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng tôi chƣa thấy một công bố nào
quy định một cách cụ thể, thống nhất về diện tích tối thiểu của OTC.
Một số công trình nghiên cứu về sinh trƣởng của các loài cây tái sinh
tự nhiên của các tác giả: Nguyễn Văn Thêm (1992) [39], Đinh Quang Diệp
(1993) [7], Trần Xuân Thiệp (1996) [43], Lê Đồng Tấn (2000) [35], Phạm
Ngọc Thƣờng (2002) [41], Lê Ngọc Công (2002) [6]. Đánh giá khả năng
sinh trƣởng của các loài cây rừng nhiệt đới, các tác giả thƣờng phân chia
thành 2 nhóm: nhóm cây mọc nhanh và nhóm cây mọc chậm. Nhóm cây
mọc nhanh là những loài cây tiên phong ƣa sáng có đời sống ngắn, còn
nhóm cây mọc chậm là những loài cây ƣa bóng (chịu bóng) có đời sống dài