Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ PHÚC DƢƠNG
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG CỦA VIỆC THU HỒI
ĐẤT XÂY DỰNG DỰ ÁN ĐƢỜNG CAO TỐC
NỘI BÀI - LÀO CAI ĐẾN ĐỜI SỐNG, VIỆC
LÀM CỦA NGƢỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN SÔNG LÔ, TỈNH VĨNH PHÚC KHOA HỌC
Thái Nguyên - 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kì công
trình nào khác.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ
nguồn gốc./.
Tác giả luận văn
Đỗ Phúc Dƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
ii
LỜI CẢM ƠN
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BAH
CCN
CHXHCN
CNH-HĐH
GCNQSDĐ
GPMB
HĐBT
HĐND
HSĐC
KCN
KHSDĐ
KT-XH
NĐ-CP
QĐ-UBND
QHSDĐ
TĐC
TT-BTC
TT-BTNMT
TTLT
TW
UBMTTQ
UBND
: Bị ảnh hƣởng
: Cụm công nghiệp
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu 3
2.1. Mục đích nghiên cứu 3
2.2. Yêu cầu nghiên cứu 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở lý luận của việc đánh giá thực trạng công tác giải phòng mặt bằng, bồi
thƣờng, hỗ trợ tái định cƣ khi thu hồi đất 4
1.2. Thực trạng chính sách bồi thƣờng giải phòng mặt bằng ở Việt Nam 11
1.3. Cơ sở thực tiễn công tác GPMB, bồi thƣờng, hỗ trợ TĐC khi Nhà nƣớc thu hồi đất
ở Việt Nam 23
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tƣợng, địa điểm và phạm vi nghiên cứu. 29
2.1.1 Đối tƣợng nghiên cứu 29
2.2.2 Phạm vi, địa điểm nghiên cứu. 29
2.2 Nội dung nghiên cứu 29
2.2.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội huyện Sông Lô 29
2.2.2. Đánh giá kết quả thực hiện bồi thƣờng, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi Nhà
nƣớc thu hồi đất để thực hiện dự án đƣờng cao tốc Nội Bài - Lào Cai đoạn qua huyện
Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. 29
2.2.3. Đánh giá tác động việc thu hồi đất của dự án đƣờng cao tốc Nội Bài - Lào Cai
đoạn qua huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc đến đời sống, việc làm của ngƣời dân. 29
2.2.4. Đề xuất một số giải pháp tháo gỡ các khó khăn vƣớng mắc nhằm nâng cao hiệu
quả của công tác thu hồi đất. 30
2.1. Đối với Nhà nƣớc 82
2.2. Đối với chính quyền địa phƣơng 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Vùng dự án đƣờng cao tốc đi qua 44
Bảng 3.2: Tình hình bồi thƣờng thiệt hại về đất của dự án 46
Bảng 3.3: Tình hình bồi thƣờng thiệt hại về tài sản dự án. 47
Bảng 3.4: Phƣơng án hỗ trợ thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất xây dựng dự án đƣờng
cao tốc Nội Bài - Lào Cai 48
Bảng 3.5: Bảng mô tả thu hồi đất của dự án đi qua huyện Sông Lô 51
Bảng 3.6: Kết quả điều tra về thu hồi đất và bồi thƣờng hỗ trợ của các hộ dân 52
Bảng 3.7: Phƣơng thức sử dụng tiền bồi thƣờng hỗ trợ của các hộ dân 53
Hình 3.2: Sự thay đổi về tài sản sở hữu của hộ 55
Bảng 3.8: Tài sản sở hữu của các hộ trƣớc và sau khi thu hồi đất 56
Bảng 3.9: Đánh giá về tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội 57
của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất 57
Bảng 3.10: Kết quả phỏng vấn về quan hệ trong nội bộ gia đình 59
các hộ dân sau khi bị thu hồi đất 59
Bảng 3.11: Thu nhập bình quân của ngƣời dân ở khu vực nghiên cứu 60
Bảng 3.12: Thu nhập của các hộ điều tra trƣớc và sau khi thu hồi đất 61
Bảng 3.13: Sự thay đổi về thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất 67
Bảng 3.14: Sự thay đổi về lao động và việc làm của các hộ dân trƣớc 68
và sau khi bị thu hồi đất 68
Bảng 3.15: Tự đánh giá của các hộ về tình hình việc làm 69
Bảng 3.16: Sự thay đổi ngành nghề của ngƣời lao động trƣớc và sau khi thu hồi đất 72
chức năng tạo nguồn vốn và thu hút cho đầu tƣ phát triển. Trong những năm qua Nhà
nƣớc thực hiện mạnh mẽ chủ trƣơng CNH-HĐH đất nƣớc và thực tế đã cho thấy nền
kinh tế đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc, đời sống nhân dân đã và đang từng bƣớc
đƣợc cải thiện, hạ tầng xã hội cũng nhƣ hạ tầng kỹ thuật đƣợc thay đổi tạo ra bộ mặt
mới cho đất nƣớc và thu hẹp dần khoảng cách đối với các nƣớc phát triển.
Trên con đƣờng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc để đƣa đất đai thực sự
trở thành nguồn vốn, nguồn thu hút cho các đầu tƣ phát triển thì việc thu hồi đất,
chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các khu, cụm công nghiệp, khu đô thị tập
trung, xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, xây dựng cơ cấu
đất đai hợp lý là con đƣờng hết sức cần thiết và duy nhất, đóng góp rất lớn vào sự phát
triển chung của đất nƣớc.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt đƣợc của việc đổi mới kinh tế đất nƣớc trong
đó có hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai hiện vẫn còn những bất cập chƣa
đƣợc giải quyết kịp thời. Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng diễn ra
mạnh mẽ đã làm ảnh hƣởng sâu sắc đến đời sống kinh tế và văn hóa của ngƣời dân,
làm biến đổi cả về chiều sâu của xã hội nông thôn truyền thống. Theo số liệu của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bình quân mỗi năm có 73 nghìn ha đất nông
nghiệp đƣợc thu hồi và tác động tới đời sống khoảng 2,5 triệu ngƣời với gần 630 nghìn
hộ nông dân (Lê Du Phong, 2007).
Sự thay đổi đời sống của ngƣời nông dân có đất bị thu hồi là một vấn đề mang
tính thời sự cấp bách trở thành vấn đề mang tính xã hội trên cả nƣớc. Vấn đề thiếu việc
làm và tỷ lệ thất nghiệp cao cùng với sự di chuyển tự do của lao động nông thôn lên
thành phố tìm kiếm việc làm và cơ hội phát triển, hậu quả là việc phát sinh các vấn đề
xã hội: quản lý hộ tịch, hộ khẩu, an ninh trật tự, bố trí chỗ ở, vệ sinh môi trƣờng,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
2
đang đặt ra cho các nhà quản lý cũng nhƣ các nhà hoạch định những vấn đề lớn cần
giải quyết.
3
tiêu của đề tài nghiên cứu“ Đánh giá ảnh hưởng của việc thu hồi đất xây dựng dự
án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai đến đời sống, việc làm của người dân đoạn qua
huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ GPMB khi Nhà nƣớc
thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng đƣờng cao tốc Nội Bài - Lào Cai.
- Đánh giá tác động của việc thu hồi đất đến ngƣời dân bị thu hồi đất xây dựng
dự án đƣờng cao tốc Nội Bài - Lào Cai.
- Đề xuất các giải pháp và chính sách hỗ trợ mới và hợp lý cho địa bàn nghiên
cứu.
2.2. Yêu cầu nghiên cứu
- Phản ánh đƣợc chính xác các tác động của việc thu hồi đất để xây dựng dự án
đƣờng cao tốc Nội Bài - Lào Cai đến đời sống, việc làm của ngƣời dân ở địa bàn
nghiên cứu.
- Đánh giá một cách khách quan và đƣa ra đƣợc các biện pháp hợp lý trên cơ sở
khoa học và thực tiễn.
TĐC đƣợc hiểu là một quá trình từ bồi thƣờng thiệt hại về đất, tài sản; di
chuyển đến nơi ở mới và các hoạt động hỗ trợ để xây dựng lại cuộc sống, thu nhập, cơ
sở vật chất tinh thần tại đó.
Nhƣ vậy, TĐC là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về KT-XH đối
với một bộ phận dân cƣ đã gánh chịu vì sự phát triển chung.
Hiện nay ở nƣớc ta, khi Nhà nƣớc thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
5
ngƣời sử dụng đất đƣợc bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thƣờng bằng nhà ở;
- Bồi thƣờng bằng giao đất ở mới;
- Bồi thƣờng bằng tiền để ngƣời dân tự lo chỗ ở [33].
TĐC là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính
sách GPMB. Các dự án TĐC cũng đƣợc coi là các dự án phát triển và phải đƣợc thực
hiện nhƣ các dự án phát triển khác.
1.1.2. Đặc điểm của quá trình giải phòng mặt bằng
GPMB là quá trình đa dạng và phức tạp. Nó thể hiện khác nhau đối với mỗi một
dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
- Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án đƣợc tiến hành trên một vùng đất khác nhau
với điều kiện tự nhiên KT-XH và trình độ dân trí nhất định. Đối với khu vực nội thành,
khu vực ven đô, khu vực ngoại thành, mật độ dân cƣ khác nhau, ngành nghề đa dạng
và đều hoạt động sản xuất theo một đặc trƣng riêng của vùng đó. Do đó, GPMB và giá
đất tính bồi thƣờng, hỗ trợ cũng đƣợc tiến hành với những đặc điểm riêng biệt
- Tính phức tạp thể hiện: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng
trong đời sống kinh tế - xã hội đối với mọi ngƣời dân. Ở khu vực nông thôn, dân cƣ chủ
yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tƣ liệu sản xuất quan
trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi nghề nghiệp
khó khăn do đó tâm lý dân cƣ vùng này là giữ đƣợc đất để sản xuất, thậm chí họ cho
ngừng hoàn thiện, sửa đổi nhằm giải quyết các vƣớng mắc trong công tác bồi thƣờng
GPMB, phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai. Với những đổi mới về pháp luật đất
đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt những kết quả đáng khích lệ, đã cơ bản đáp
ứng đƣợc nhu cầu về mặt bằng cho việc phát triển các dự án đầu tƣ. Tuy nhiên bên
cạnh đó, do tính chƣa ổn định, chƣa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ
mà công tác bồi thƣờng GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở. Thực tiễn triển
khai cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất
đai có ảnh hƣởng rất lớn đến công tác bồi thƣờng GPMB. Hệ thống văn bản pháp luật
đất đai còn có những nhƣợc điểm nhƣ là số lƣợng nhiều, mức độ phức tạp cao, không
thuận lợi trong sử dụng, nội bộ hệ thống chƣa đồng bộ, chặt chẽ gây lúng túng trong
xử lý và tạo kẽ hở trong thực thi pháp luật.
Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc
tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng. Kết quả kiểm tra thi
hành Luật Đất đai năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng cho thấy UBND các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
7
cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhƣng nhận thức về các
quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất yếu. Từ đó dẫn tới tình
trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải quyết giao đất, cho thuê đất, cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi
đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, TĐC, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. Trong khi đó
việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chƣa thật sát sao. Tại
nhiều địa phƣơng, đang tồn tại tình trạng nể nang, trọng tình hơn chấp hành quy định
pháp luật trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai. Cán bộ địa chính, Chủ tịch
UBND xã nói chung chƣa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những
hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn. Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu
lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng nhƣ các nhà đầu tƣ và đã
ảnh hƣởng trực tiếp đến tiến độ GPMB [7].
hoạch là điều kiện bắt buộc, nhƣng nhiều địa phƣơng chƣa thực hiện tốt nguyên tắc
này; hạn mức đất đƣợc giao và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình
trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác đền bù. Theo báo
cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng tính từ ngày 01/7/2004 đến ngày 28/2/2007 thì
tổng diện tích đã giao, đã cho thuê là 1.081.011 ha, trong đó diện tích đất đã giao là
925.631 ha (giao đất có thu tiền sử dụng đất là 581.620 ha, giao đất không thu tiền là
344.011 ha); diện tích đất đã cho thuê là 155.380 ha (trong đó diện tích đất cho các nhà
đầu tƣ nƣớc ngoài thuê là 1.386 ha) [7].
d. Yếu tố lập và quản lý hồ sơ địa chính
Lập và quản lý chặt chẽ hệ thống hồ sơ địa chính có vai trò quan trọng hàng đầu
để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trƣờng bất động sản”, là cơ sở xác định tính pháp
lý của đất đai. Trƣớc tháng 12 năm 2004, rất nhiều địa phƣơng chƣa lập đầy đủ hồ sơ
địa chính theo quy định; đặc biệt có nhiều xã, phƣờng, thị trấn chƣa lập sổ địa chính
(khoảng trên 30% số xã đã cấp GCNQSDĐ) để phục vụ yêu cầu quản lý việc sử dụng
đất đai, một số địa phƣơng chƣa lập đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCNQSDĐ nhƣ
Thành phố Hà Nội, các tỉnh Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phúc, Kiên Giang, Trà Vinh, [7].
Từ năm 2004 đến nay, việc lập HSĐC phải đƣợc thực hiện theo quy định tại
Thông tƣ số 29/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, nhƣng còn nhiều
địa phƣơng chƣa triển khai thực hiện, nếu có thực hiện cũng là chƣa đầy đủ, chƣa đồng
bộ ở cả 3 cấp. Vì các tài liệu đo đạc bản đồ này có độ chính xác thấp nên đang làm nảy
sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý đất đai nhƣ không đủ cơ sở giải quyết tranh
chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất. Vì vậy,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
9
việc đo vẽ lại bản đồ địa chính chính quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại
HSĐC là rất cần thiết.
e. Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Đăng ký đất đai là một thành phần cơ bản quan trọng nhất của hệ thống quản lý
đai khác nhau [14].
- Trƣớc khi có Luật đất đai năm 2003:
Những vấn đề liên quan đến việc xác định giá đất, bồi thƣờng, GPMB, TĐC
đều đƣợc quy định tại các văn bản dƣới luật nhƣ Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994
của Chính phủ quy định khung giá các loại đất; Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994
của Chính phủ quy định về việc bồi thƣờng thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất để sử
dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và Nghị
định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ ban hành quy định về đền bù
thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng Giá đất để tính bồi thƣờng thiệt hại khi Nhà nƣớc thu
hồi đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quyết định trên cơ sở khung giá đất
do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP. Khung giá đất để tính bồi
thƣờng thiệt hại khi Nhà nƣớc thu hồi đất quy định tại Nghị định số 87/CP đã đƣợc áp
dụng trong một thời gian khá dài (trên mƣời năm), mặc dù trong quá trình áp dụng có
quy định việc điều chỉnh khung giá đất để tính bồi thƣờng bằng hệ số K nhƣng mức
tăng cao nhất cũng chỉ là 1, 2 lần đối với đất nông nghiệp hạng i. Do vậy giá đất để
tính bồi thƣờng vẫn thấp hơn nhiều so với giá thực tế, dẫn đến phát sinh hàng loạt các
khiếu kiện về bồi thƣờng, GPMB tại các địa phƣơng [6].
- Từ khi có Luật đất đai 2003: Quy định giá đất đƣợc hình thành trong các
trƣờng hợp sau đây (Điều 55):
- Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW quy định giá theo quy định tại
khoản 3 và khoản 4 Điều 56 của Luật này;
- Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất;
- Do ngƣời sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những ngƣời có liên quan khi
thực hiện các quyền chuyển nhƣợng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp
vốn bằng quyền sử dụng đất.
Những vấn đề quan trọng, có tính nguyên tắc liên quan đến xác định giá đất, bồi
thƣờng, GPMB, TĐC đã đƣợc quy định khá cụ thể tại Luật đất đai năm 2003. Đặc biệt,
việc xác định giá đất đƣợc thực hiện theo nguyên tắc “sát với giá chuyển nhƣợng
quyền sử dụng đất trên thị trƣờng trong điều kiện bình thƣờng” (khoản 1 Điều 56).
giá đất tính bồi thƣờng.
1.2. Thực trạng chính sách bồi thƣờng giải phòng mặt bằng ở Việt Nam
1.2.1. Thời kỳ trước năm 1980
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 thắng lợi, khai sinh ra nƣớc Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hoà, ngay sau đó bản Hiến pháp 1946 đầu tiên ra đời và đã khẳng định: “
Nƣớc Việt Nam là một nƣớc dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nƣớc là của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
12
toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp,
tôn giáo.” [24].
Năm 1953, Nhà nƣớc ta thực hiện cải cách ruộng đất nhằm phân phối lại ruộng
đất với khẩu hiệu “ngƣời cày có ruộng” và Luật cải cách ruộng đất đƣợc ban hành.
Thời kỳ này Nhà nƣớc thừa nhận sự tồn tại của 3 hình thức sở hữu đất đai: sở hữu
Nhà nƣớc, sở hữu tập thể, sở hữu tƣ nhân. Bên cạnh đó Luật cải cách ruộng đất có các
quy định về tịch thu, trƣng thu, trƣng mua ruộng đất tuỳ từng trƣờng hợp cụ thể [25].
Nhƣng thực tế việc trƣng thu là chủ yếu còn việc trƣng mua ít xảy ra.
Năm 1959 bản Hiến pháp thứ 2 đƣợc ban hành và nhiều văn bản khác quy định
miền Bắc nƣớc ta từ vĩ tuyến 17 trở ra có 3 hình thức sở hữu về đất đai: sở hữu Nhà
nƣớc, sở hữu tập thể, sở hữu tƣ nhân. Điều 20 của Hiến pháp nói rõ: “Khi nào cần thiết
vì lợi ích chung, Nhà nƣớc mới trƣng mua, hoặc trƣng dụng, trƣng thu có bồi thƣờng
thích đáng các tƣ liệu sản xuất ở thành thị và nông thôn, trong phạm vi và điều kiện do
pháp luật quy định.” [26].
Về việc trƣng dụng đất, ngày 14/04/1959, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành nghị
định số 151-TTg. Một trong những nguyên tắc của việc trƣng dụng ruộng đất: “Đảm
bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho công trình xây dựng, đồng thời chiếu cố đúng
mức quyền lợi và đời sống của ngƣời có ruộng. Những ngƣời có ruộng đất bị trƣng
dụng đƣợc bồi thƣờng và trong trƣờng hợp cần thiết đƣợc giúp giải quyết công việc
làm ăn” [33]. Bên cạnh đó Nghị định cũng quy định về việc bồi thƣờng cho ngƣời có
đảm bảo ruộng đất sử dụng hợp lý, tiết kiệm và phát triển theo hƣớng đi lên sản xuất
lớn xã hội chủ nghĩa” [15].
Trên tinh thần của Hiến pháp năm 1980 Luật Đất đai năm 1988 đƣợc ban hành,
tiếp tục khẳng định lại đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc thống nhất quản lý.
Về việc thu hồi đất và bồi thƣờng thiệt hại thì Luật Đất đai 1988 không nêu cụ thể việc
bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu hồi đất, mà chỉ nêu phần nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất:
“Đền bù thiệt hại cho ngƣời sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động
và kết quả đầu tƣ đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của Pháp luật” [28].
Năm 1992, bản Hiến pháp 1992 đƣợc ban hành thay thế chấp cho các bản Hiến
pháp trƣớc đây. Điều 17 Hiến pháp quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nƣớc,
tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển thềm lục địa và vùng trời… đều thuộc
sở hữu toàn dân”. Điều 23: “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu
hoá. Trong trƣờng hợp thật cần thiết vì lý do AN, QP, lợi ích quốc gia mà Nhà nƣớc
trƣng mua hay trƣng dụng, có bồi thƣờng tài sản của cá nhân hay tổ chức theo giá trị
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
14
thị trƣờng” [29].
1.2.3. Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003
- Năm 1993, Luật Đất đai 1993 đƣợc ban hành, thay thế cho Luật Đất đai 1988,
dựa trên tinh thần mới của bản Hiến pháp 1992 đã có những đổi mới quan trọng, đặc
biệt đối với việc thu hồi đất phục vụ cho công cộng và bồi thƣờng khi Nhà nƣớc thu
hồi đất. Điều 12: “Nhà nƣớc xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử
dụng đất, thu tiền khi Nhà nƣớc giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao,
bồi thƣờng thiệt hại về đất khi thu hồi đất. Chính phủ quy định khung giá các loại đất
đối với từng vùng và theo từng thời gian”. Điều 27: “Trong trƣờng hợp thật cần thiết,
Nhà nƣớc thu hồi đất đang sử dụng của ngƣời sử dụng đất để sử dụng vào mục đích
Quốc phòng, An ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì ngƣời bị thu hồi đất đƣợc
đền bù thiệt hại” [30].
cụ thể hơn về bồi thƣờng, GPMB khi Nhà nƣớc thu hồi đất đai đang sử dụng của
ngƣời sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Việc bồi thƣờng, hỗ trợ đƣợc thực hiện theo quy định của Chính phủ. Nhà nƣớc có
chính sách để ổn định đời sống cho ngƣời có đất bị thu hồi.
1.2.4. Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay
-
2003 và ngày 10/12/2003 lệnh của Chủ tịch nƣớc đã công bố Luật Đất đai quy định
việc quản lý và sử dụng đất. Sự ra đời của Luật Đất đai 2003 đã thay thế cho tất cả các
Luật Đất đai và Luật sửa đổi, bổ sung trƣớc đó nhằm phù hợp với tình hình xã hội, đáp
ứng tốt hơn những yêu cầu, những đòi hỏi mới trong quá trình phát triển kinh tế, ổn
định chính trị - xã hội của đất nƣớc, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Điều 39 Luật
Đất đai 2003 quy định về thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng: “Nhà nƣớc thực hiện việc thu hồi đất, bồi thƣờng,
GPMB sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đƣợc công bố hoặc sau khi dự án đầu
tƣ có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đƣợc cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền xét duyệt…” [31].
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thƣờng, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nƣớc thu hồi đất vì mục đích an ninh, quốc phòng, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Sự đổi mới của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP so với Nghị định số
22/1998/NĐ-CP:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
16
+ Nguyên tắc bồi thƣờng đất và tài sản gắn liền với đất:
Điều 5 - Nghị định 22/1998/NĐ-CP quy định khi Nhà nƣớc thu hồi đất, tuỳ
từng trƣờng hợp cụ thể, ngƣời có đất bị thu hồi đƣợc Nhà nƣớc đền bù bằng tiền, bằng
đất hoặc nhà ở, Nghị định 197/2004/NĐ-CP quy định việc bồi thƣờng cho ngƣời có
đất bị thu hồi trƣớc hết phải bằng đất ở, ngƣời bị thu hồi đất phải đƣợc giải quyết bằng