Biểu tượng trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông ở Hà Giang - Pdf 24


1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN DUY HƢNG

BIỂU TƢỢNG TRONG DÂN CA
NGHI LỄ TANG MA CỦA
NGƢỜI MÔNG Ở HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Thái Nguyên, năm 2013
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

trong bất cứ một công trình nào khác.

Tác giả luận văn
Trần Duy Hƣng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ii

LỜI CẢM ƠN



VHDG : Văn học dân gian
ĐHSP : Đạ i họ c sư phạm
GS : Giáo sư
GS-TSKH : Giáo sư -Tiế n sĩ khoa họ c
GS-TS : Giáo sư - Tiế n sĩ
H, : Hà Nội
NXB : Nhà xuất bản
STT : Số thứ tự
VHTT : Văn hó a thông tin
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

iv MỤC LỤC
Trang
Mở đầu. 1

2.2.1 Biểu tượng Gầu khèn đrâu trống …44
2.2.2 Biểu tượng hình nộm (Cẩu vá, cẩu lê) 47
2.2.3 Biểu tượng Hoa khèn, hoa mưa, hoa nắng, hoa trống 49
Chƣơng 3. Tinh thần thực tiễn và quá trình thế tục hóa trong dân ca nghi
lễ tang ma của ngƣời Mông 53
3.1 Tinh thần thực tiễn trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông 53
3.1.1 Tinh thần thực tiễn trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông
qua sự kết hợp giữa biểu tượng ngôn từ và nghệ thuật âm nhạc …….57
3.1.2 Tinh thần thực tiễn trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông
qua sự kết hợp giữa biểu tượng ngôn từ và nghệ thuật vũ đạo ….…66
3.2. Quá trình thế tục hóa trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông . 68
Kết luận 75
Tài liệu tham khảo
Danh mụ c công trình của tác giả
Phụ lục Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống tâm hồn của mỗi dân
tộc. Đối với dân tộc Mông ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta, kho tàng
văn học của họ vẫn còn lưu giữ rất nhiều tác phẩm văn học dân gian đích
thực phản ánh đời sống văn hóa của cộng đồng. Nhiều nhà nghiên cứu tâm
huyết đã dày công sưu tầm, khám phá thế giới tinh thần ẩn dấu sau mỗi câu
ca, điệu hát, bài thơ hay truyện kể của người Mông. Tuy nhiên, nhiều khía
cạnh trong thế giới tinh thần đó còn chưa thực sự được khám phá đầy đủ và
đang là những vấn đề mới mẻ cần được khoa học folklore đi sâu tìm hiểu

đầu thì những hạn chế trong việc nghiên cứu này đã dẫn đến sự nhầm lẫn và
những kiến giải phiến diện về vai trò, chức năng của những bài dân ca nghi lễ
gắn với nghệ thuật biểu diễn khèn Mông. Các phương tiện thông tin đại chúng
và một số bài nghiên cứu thường đưa biểu tượng chiếc khèn vào trong các lễ
hội của người Mông và gắn khèn Mông với chức năng tâm tình, gọi bạn, thể
hiện tình yêu đôi lứa. Điều đó dẫn đến cách hiểu sai lệch về bản chất và vai
trò của các bài dân ca nghi lễ gắn với nghệ thuật biểu diễn khèn trong đời
sống văn hóa của dân tộc Mông. Vì vậy, với nghiên cứu này chúng tôi thấy
cần phải xác định lại và trả lại đúng chức năng cho chiếc khèn Mông. Mỗi bài
khèn là một thành tố trong nghi lễ tang ma. Đó chính là những bài dân ca nghi
lễ đặc sắc truyền tải thông điệp của người sống với người đã khuất. Việc nhìn
nhận các bài khèn Mông có liên quan tới tình yêu đôi lứa theo người Mông
nhận định chỉ là do “gái tham tài, trai tham sắc”, những cô gái Mông đem
lòng yêu mến những chàng trai biết thổi khèn giỏi. Quan trọng hơn là phải
đứng trên góc độ văn hóa của người Mông để nói về chính họ, có như vậy
mới dựng lên được bức tranh chân thực nhất về đời sống tinh thần của người
Mông đặc biệt là đối với văn học dân gian Mông.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
1.3. Tại một số tỉnh miền núi phía Bắc trong đó có Hà Giang, số lượng
nghệ nhân am hiểu và còn lưu giữ được những bài dân ca nghi lễ không còn
nhiều. Mặt khác, cũng chưa có một công trình nào sưu tầm thật đầy đủ về
những bài dân ca nghi lễ gắn với nghệ thuật biểu diễn khèn Mông. Theo
thống kê của tác giả Hồng Thao trong “Âm nhạc dân tộc H’Mông” thì người
Mông có tới 360 bài khèn để đưa tiễn hồn ma với nhiều “tổ bài khèn” khác
nhau và mỗi “tổ bài khèn”như vậy có 13 bài khèn với 13 chủ đề khác nhau.
(Dẫn theo Hùng Hà, Về cuốn sách “Những bài khèn của người Mông ở Hà
Giang”) [14]. Bên cạnh đó, những trí thức người Mông am hiểu về bản sắc

của dân tộc Tày; tác giả Bùi Văn Thành với luận văn Thạc sĩ về “Thế giới
biểu tượng thần thoại trong mo Mường”. (Dẫn theo Đặng Thị Oanh, Biểu
tượng nước từ văn hoá đến văn học dân gian của người Thái ở Tây Bắc Việt
Nam) [28, Tr 5] Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về biểu
tượng trong văn học dân gian của người Việt như “Tìm hiểu nguồn gốc của
biểu tượng trong ca dao Việt Nam” của Nguyễn Thị Ngọc Điệp, “Biểu tượng
cây đa trong ca dao của người Việt” của Phạm Hoàng Oanh. (Dẫn theo Đặng
Thị Oanh, Biểu tượng nước từ văn hoá đến văn học dân gian của người Thái
ở Tây Bắc Việt Nam) [28, Tr 6] Hoàng Thị Phương Loan với “Giải mã biểu
tượng mái tóc trong văn hóa - văn học dân gian Việt Nam”.[22] Nhìn chung
các tác giả đã chú ý tới sự xuất hiện trở đi, trở lại của các biểu tượng trong
văn học dân gian và khái quát thành hệ thống. Các nhà nghiên cứu đã khẳng
định được sự tồn tại của một hệ thống biểu tượng trong văn học dân gian và
bước đầu giải mã thành công.
Về lịch sử nghiên cứu văn hóa cũng như văn học Mông, ngay từ thời
thực dân Pháp xâm lược vùng thượng du Bắc kỳ đã chú ý tìm hiểu văn hóa
các dân tộc ít người nhằm dễ bề cai trị. Những công trình nghiên cứu về
người Mông đầu tiên là của linh mục F. Savina, “Những đặc điểm của thuật
sa man người Mèo trắng ở Đông Dương” của G. Morechan. (Dẫn theo Trần

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Hữu Sơn, 40 năm nghiên cứu sưu tầm văn hóa dân gian ở vùng miền núi phía
Bắc) [37] Hiện nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khá đầy đủ về đặc
điểm của tộc người và văn hóa Mông như “Văn hóa H’Mông” của Trần Hữu
Sơn, “Văn hóa dân tộc H’Mông ở Hà Giang” của Trường Lưu - Hùng Đình
Quý hay gần đây là một số bài viết như “Phân tích tâm lý H’Mông tộc từ dân
ca” của Nguyễn Mạnh Tiến, một số luận văn về văn học dân tộc Mông như
“Thơ ca dân tộc Mông” của Hùng Thị Hà, “Tiếng hát tình yêu lứa đôi trong

được biết đến qua bài giới thiệu của Hùng Hà: “Về cuốn sách Những bài khèn
của người Mông ở Hà Giang của tác giả Hùng Đình Quý” [14].
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên mới chủ yếu khai thác ở góc
độ văn hóa dân tộc Mông nói chung và khảo sát biểu tượng của văn hóa dân
gian Mông trên phương diện tổng thể. Do đó, việc giải mã các biểu tượng
trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông có ý nghĩa thiết thực trong thực
tiễn nghiên cứu văn học dân gian Mông hiện nay. Với tư cách là một tác
phẩm văn học dân gian hoàn chỉnh, những bài dân ca nghi lễ tang ma gắn với
nghệ thuật biểu diễn khèn của người Mông thực sự là vấn đề khoa học lý thú
và cần được đi sâu nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát, thống kê, phân loại và bước đầu giải mã các biểu tượng trong
dân ca nghi lễ tang ma của người Mông nhằm góp phần khẳng định những giá
trị phi vật thể của dân ca nghi lễ gắn với nghệ thuật biểu diễn khèn trong đời
sống tâm linh, tín ngưỡng dân tộc Mông.
Qua việc giải mã các biểu tượng và khẳng định giá trị trường tồn của hệ
thống biểu tượng này, luận văn còn chỉ ra nét đẹp trong văn học dân gian
Mông và giúp cho chính cộng đồng dân tộc Mông hiểu và gìn giữ tinh hoa
văn hóa, văn học của mình.
Góp thêm một tiếng nói trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền
thống của dân tộc Mông nói riêng và các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
thông qua việc tìm hiểu giá trị văn hóa – văn học của một loại dân ca nghi lễ
đặc sắc.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu mà luận văn hướng tới là những biểu tượng trong

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Xác định rõ những vấn đề lý luận có
liên quan, qua đó vận dụng lý thuyết vào giải quyết các vấn đề khoa học. Tác
giả luận văn sử dụng một số lý thuyết về văn hóa của phương tây để giải
quyết những vấn đề liên quan đến tính sống còn của hệ thống dân ca nghi lễ
trong thời đại công nghệ.
Phương pháp nghiên cứu phân tích , tổng hợp, so sá nh: Quá trình phân
tích, tổng hợp và so sánh được tiến hành song song với nhau giúp có những
nhận định đúng đắn về vấn đề khoa học đã nêu ra. Đặc biệt, việc giải mã các
biểu tượng trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông là một việc làm
tương đối khó khăn do vậy cần một quá trình phân tích, tổng hợp và so sánh
kỹ lưỡng mới cho ra những kết luận xác thực.
Phương pháp điền dã văn học: Thông qua quá trình điền dã, trực tiếp
tham dự, phỏng vấn với nghệ nhân dân gian và tác giả cuốn sách “Những bài
khèn của người Mông ở Hà Giang” sẽ giúp trau dồi thêm vốn tri thức văn hóa
Mông góp phần tích cực vào việc giải mã các biểu tượng theo đúng sự kiến
giải của những “người trong cuộc”.
Phương pháp so sánh loại hình: Bằng việc so sánh loại hình văn học sẽ
làm rõ đặc trưng thi pháp thể loại, tìm ra những yếu tố nghệ thuật nổi bật
trong những bài dân ca nghi lễ tang ma của người Mông.
7. Đóng góp của luận văn
Bằng việc khảo sát, giải mã các biểu tượng dựa trên chính truyền thống
văn hoá và phong tục tập quán của người Mông, chúng tôi muốn góp một
tiếng nói tích cực vào công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy vốn văn học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
dân gian các dân tộc thiểu số, làm rõ chức năng “thực hành tín ngưỡng” của
những bài dân ca nghi lễ gắn với nghệ thuật biểu diễn khèn của người Mông.
Khẳng định vẻ đẹp của truyền thống văn hóa, tài năng của những người


NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHẢO SÁT
THỰC TẾ CÓ LIÊN QUAN

1.1. Biểu tƣợng và biểu tƣợng trong văn học dân gian
1.1.1. Biểu tượng
Tổ chức UNESCO trong toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa
(International Thesaurus on Cultural Development) đã nhận định về văn hóa
như sau: “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định thể
ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với
nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”. (Dẫn theo Nguyễn Văn
Hậu, Đi tìm bản sắc văn hóa dân tộc qua thế giới biểu tượng) [16, Tr1] Như
vậy, biểu tượng (Symbol) là một trong những thành tố không thể thiếu được
khi đi nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa. Trong lịch sử triết học, rất nhiều nhà
khoa học lớn đã đề cập đến biểu tượng như ở Đức có nhà triết học duy tâm
khách quan Heghen, Freud – Bác sĩ về phân tâm học người Áo, nhà dịch học
Chu Hy ở Trung Quốc. [16, Tr 2] Từ thời công xã nguyên thủy, khi con người

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
biết lao động và hình thành nên ngôn ngữ để giao tiếp thì cùng lúc đó con

trong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chứa đựng những mối liên hệ về mặt ý
nghĩa, bổ sung vào cái ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của chúng”.
(Dẫn theo Nguyễn Văn Hậu, Đi tìm bản sắc văn hóa dân tộc qua thế giới biểu
tượng) [16, Tr1]
Freud thì xác định “Biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió
và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn hay các xung đột. Biểu tượng là mối
liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói
với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng”. (Dẫn theo Đặng Thị Oanh , Biểu tượng nước
từ văn hóa đến văn học dân gian của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam) [28,
Tr10]
Trên góc độ nhận thức của văn học - một ngành nghệ thuật cũng đòi
hỏi tư duy và tính biểu tượng cao để cảm thụ và sáng tạo nó – Biểu tượng đã
được hiểu là “một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình
nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất
của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay
một triết lý sâu xa về con người, về cuộc đời” (Từ điển thuật ngữ văn học)
[15, Tr45]
Như vậy, dù các nhà khoa học có rất nhiều cách hiểu khác nhau về biểu
tượng nhưng có một điểm chung dễ dàng nhận thấy rằng biểu tượng chính là
hình ảnh của những sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan được hình
thành bằng tri giác, cảm giác của con người. Biểu tượng không nhất thiết phải
là sự vật, hiện tượng thực tế mà có khi chỉ là những hình dung chủ quan của
con người thông qua nhiều thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, khái quát
hóa, trừu tượng hóa.
1.1.2. Biểu tượng trong Văn học dân gian
Con người luôn có xu hướng muốn giải mã các biểu tượng xuất hiện
trong tự nhiên và đời sống xã hội bởi biểu tượng luôn gợi mở cho chúng ta

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


15
Người Mông tên tự gọi là H’Mông, Na Miẻo hay tên gọi khác là
H’Mông, Miêu, Miếu Hạ (ở Trung Quốc), Mèo, Mán Trắng (ở Việt Nam),
Mẹo (ở Lào), là một dân tộc có số lượng người khá đông trong 56 dân tộc của
Trung Hoa và cũng là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam. Theo điều tra dân số
năm 2000 có khoảng 9,6 triệu người Miêu ở Trung Quốc sống chủ yếu ở các
tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc. Ở Việt
Nam, theo số liệu điều tra năm 2003 thì người Mông ước tính có khoảng
896.239 người sống tập trung tại các vùng núi cao thuộc các tỉnh Hà Giang,
Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng,
Nghệ An Ngoài ra người Mông còn có mặt tại nhiều khu vực khác trên thế
giới như Thái Lan, Lào, Miến Điện, Hoa Kỳ. Người Mông ở nước ta có ngôn
ngữ thuộc ngữ hệ Mông Dao và được phân chia thành nhiều nhóm bao gồm:
Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Lềnh (Mông Hoa), Mông Sí (Mông Đỏ),
Mông Đú (Mông đen), Mông Súa (Mông Mán), H’Mông Xanh. [9]
Theo các nhà sử học thì dân tộc Mông có nòi giống xuất phát từ châu
Âu, di dân dần đến vùng đồng khô Siberia, rồi mới đến định cư ở lưu vực
sông Hoàng Hà. Điều này được minh chứng là trong truyền thuyết Mông vẫn
lưu truyền lại là tổ tiên của họ sống ở vùng có tuyết phủ quanh năm và ngày
đêm kéo dài tới nửa năm. Số phận người Mông gắn với lịch sử Trung Hoa
mấy ngàn năm, theo sử sách ghi chép lại đến giữa thế kỷ thứ VI người Mông
đã thiết lập được một vương quốc tạm khá rộng ở phía Tây Trung Quốc kéo
dài từ Hà Nam qua Hồ Bắc, Hồ Nam xuống đến Quảng Tây gọi là “Tam
Miêu”. Những người cai trị được gọi bằng cái tên Chiyou (Xi Vưu nghĩa là
“ông cha”– theo tiếng Hoa) hay Txiv Yawg (Theo tiếng Mông) Đến thời Ngũ
đại và Thập quốc, nhà Hậu Chu cố chiếm lấy vương quốc H’Mông và chấm
dứt một thời kỳ vàng son của bộ tộc Miêu. Người Mông phải chạy trốn vào
Quế Châu, Tứ Xuyên, số khác lại bôn tẩu xuống Quảng Đông, Quảng Tây trở

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
cố kết cộng đồng rất bền chặt. Bản sắc văn hóa Mông trong thời hiện đại ít
nhiều có mai một nhưng về cơ bản vẫn được bảo tồn.
1.2.2. Văn hóa nhận thức của người Mông
Người Mông từ khi hình thành và phát triển đã trải qua nhiều thăng
trầm và nhiều cuộc di cư đến khắp nơi trên thế giới đặc biệt là khi đến Việt
Nam, người Mông đã tạo cho mình một bản sắc riêng và khó lẫn được với các
dân tộc khác. Trong xu thế hội nhập và làn sóng văn hoá mới đang tràn vào
nước ta, các dân tộc đang rất cố gắng để giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc
mình thì người Mông có thể được xem là một dân tộc đang giữ gìn truyền
thống văn hoá một cách tốt nhất. [12] Điều đó là do tính cố kết cộng đồng rất
cao và tinh thần tự tôn dân tộc của người Mông. Trong nhận thức của người
Mông từ ngàn xưa tới nay, Trời - Đất - con người luôn hoà quyện với nhau
một cách hài hoà. Cách cảm, cách nghĩ của họ về sự sống và cái chết so với
quan niệm của nhiều dân tộc khác cũng có nhiều điểm đặc biệt.
Về thế giới quan và nhân sinh quan, người Mông quan niệm trời đất là
do ông Trày, bà Trày tạo ra. Ban đầu trời thì tròn và nhỏ, mặt đất thì rộng lớn
mênh mông nên bà Trày đành phải co mặt đất lại để vừa với trời. Do vậy mà
mới có đồi núi, sông biển và mặt đất lồi lõm như ngày nay. Đặc biệt, nét độc
đáo trong quan niệm về trời đất của người Mông là sự xuất hiện của con
người giúp cải tạo tự nhiên. Ngay từ buổi đầu sơ khai, con người cụ thể là
những “Gầu Á, Gầu Âu” người Mông đã góp sức giúp những bậc tạo hoá ấy
tạo nên thế giới. Như vậy, trời đất này sinh ra cũng phải qua lao động và cải
tạo chứ không do những lời phán truyền của đấng tối cao mà thành. Giống
thần thoại Trung Hoa về Hậu Nghệ bắn hạ mặt trời, người Mông cũng quan
niệm vũ trụ ban đầu có tới 9 mặt trời, 9 mặt trăng do vậy mà trời đất khô cằn
không làm ăn được, người Mông phải dùng gỗ lim, gỗ táu làm cung tên bắn
hạ 8 mặt trăng và 8 mặt trời, chỉ để lại một đôi mặt trăng, mặt trời. Rồi lại cho

bàn cư trú và vùng sản xuất rõ ràng. Trong cách tổ chức của người Mông có

Trích đoạn Những nghi lễ liên quan đến việc sử dụng khèn Các biểu tượng tái hiện sự hủy diệt và hồi sinh của muôn loài do Biểu tượng sóng đôi trong các bài dân ca đưa tiễn người chết của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status