VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
***
NGUYỄN VĂN THẮNG
NGHI LỄ GIA ĐÌNH
CỦA NGƯỜI MẢNG Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI, 2014
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
***
NGUYỄN VĂN THẮNG
NGHI LỄ GIA ĐÌNH
CỦA NGƯỜI MẢNG Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Nhân học văn hóa
Mã số: 62.31.65.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. BÙI VĂN ĐẠO
2. PGS. TS. NGUYỄN VĂN MINH
HÀ NỘI, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, bản luận án tiến sĩ: Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt
Nam là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả trong luận án là trung
thực. Các trích dẫn trong công trình đầy đủ và chính xác. Nếu có gì sai phạm tôi hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn Thắng
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận án Tiến sĩ với đề tài "Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt
Nam", ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ to lớn, quý báu của
MỞ ĐẦU 8
Chương 1 12
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 12
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 12
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
1.3. KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 27
Chương 2 41
NGHI LỄ CHU KỲ ĐỜI NGƯỜI TRONG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG 41
2.1. NGHI LỄ SINH ĐẺ VÀ NUÔI DẠY CON NHỎ 42
!"#$%&'%(%&)*+&,-$%
.%/*012&34&3& &56)73'#8&8
&8!"#$9:&98&1$7;9!<=>*?*@1A*B!<;
8&'C&:&1;
D#8&'EF9GG
HIEJKL& M !"#$12&3N9)AJK!"'OJ1P*
!"'K !"BQ!<QRCQR&S&<'I+&E
KTL8&'8&8UQ(23.4M*T:-)3*T(
!<*8&V'&1:W.E35EL&!"T!"@B!"'M
K1.9$L)E!"MX'9$L)E!"FM*,
B&A.!"C!-XQ''A6)W.EN2
)RL&1NR3$C&3$*RNR&1R
C&&1RM*+8&<3!<'31&43U*D.!+9:&.EC&5
J9EJKYJ9EQ*&.E35E&1@!"'*2R
CR0Z1LZU*FZ35M*BJ!"?-*
!"'%![?-\%C&:&]D&<;*%![ @R!-X
^%R&]_)TG`
HIFKUL&1a M![&b%!"9c'dL4.*&*9K
9bM!&<43$EJK*&+UFKUe&N4$!"%fP
1954; 1975, Những mốc lịch sử ấy có tác động trực tiếp tới đời sống xã hội tộc người
Mảng nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung, kéo theo sự biến đổi trong nghi lễ gia
đình của họ. Tuy nhiên, năm 1986 với việc mở cửa, phát triển kinh tế thị trường thì đời
sống xã hội của người Mảng mới bị tác động thực sự rõ nét, đây cũng là nguyên do mà
chúng tôi chọn thời điểm này để nhìn nhận và đánh giá việc thay đổi trong nghi lễ gia
đình của người Mảng 105
4.1. NỘI DUNG BIẾN ĐỔI 105
4.2. XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI 122
4.3. NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ BIẾN ĐỔI 124
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 133
5.1. KẾT QUẢ 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN
TỚI LUẬN ÁN 166
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người Mảng ở Việt Nam là dân tộc có dân số ít. Theo kết quả của cuộc Tổng điều
tra Dân số và Nhà ở năm 2009 là 3.700 người, có mặt tại 14 tỉnh, thành trên cả nước, như:
Điện Biên, Sơn La, Đắk Lắk, Đồng Lai trong đó tập trung đông nhất tại tỉnh Lai Châu
với 3.631 người, chiếm 98,13%. Người Mảng thường sinh sống tại những vùng khó khăn,
vùng sâu, vùng xa, có nhiều bản cư trú dọc biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Trong
những năm qua, đã có một số công trình, đề tài, dự án nghiên cứu về tộc người Mảng ở
Việt Nam được thực hiện và công bố, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào toàn diện
và có hệ thống về nghi lễ gia đình.
Nghi lễ gia đình bao gồm hệ thống các lễ thức về sinh đẻ và nuôi dạy con cái,
cưới xin, tang ma, khám và chữa bệnh, nghề nghiệp, cầu an, Đây là những giá trị văn
hóa tộc người được hình thành từ lâu đời, là nhân tố quan trọng cấu thành nên văn hóa
tinh thần và phản ánh giá trị đạo đức, thẩm mỹ, nhân sinh quan, thế giới quan của tộc
người. Nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt Nam là yếu tố luôn luôn biến đổi để
thích nghi với điều kiện mới, môi trường mới trong đời sống xã hội tộc người. Chính vì
Cung cấp những tư liệu mới về người Mảng ở Việt Nam, là cơ sở khoa học cho
việc nghiên cứu đối sánh với các tộc người có dân số ít ở Việt Nam có cùng nhóm ngôn
ngữ.
Làm cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý Nhà nước tham khảo xây dựng
chính sách phát triển phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của tộc
người Mảng.
3. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của luận án là nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt
Nam và biến đổi của nó trong bối cảnh hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án là nghi lễ gia đình của người Mảng ở Việt
Nam. Tuy nhiên, do đây là phạm vi nghiên cứu rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác
nhau của đời sống tộc người, do đó trong luận án này chúng tôi chỉ chọn một số nghi lễ
tiêu biểu để trình bày là: nghi lễ trong chu kỳ đời người; nghi lễ nghề nghiệp; nghi lễ
cầu an, thờ cúng tổ tiên, thần linh, khám bệnh, chữa bệnh; Bên cạnh đó, cũng chú ý
đến sự biến đổi và vai trò của các nghi lễ trong bối cảnh mới. Nghi lễ gia đình truyền
thống của người Mảng được hiểu là từ 1986 trở về trước, bởi kể từ sau đổi mới, cơ chế
kinh tế thị trường mới bắt đầu tác động mạnh mẽ đến đời sống người Mảng ở Việt Nam,
trong đó có nghi lễ gia đình.
3.3. Địa bàn nghiên cứu tập trung ở tỉnh Lai Châu, trong đó chọn 5 xã thuộc 2
huyện là: xã Pa Vệ Sử, Bum Nưa, Vàng San của huyện Mường Tè; Chăn Nưa và Nậm
Ban của huyện Sìn Hồ. Đây là những nơi tập trung các bản của người Mảng ở Việt Nam
và còn lưu giữ đậm nét văn hóa tộc người, đồng thời đảm bảo tính đại diện giữa những
địa bàn chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường ở các mức độ khác nhau. Bên cạnh đó,
chúng tôi cũng nghiên cứu so sánh với người Mảng ở một số địa phương khác trong
nước để kết quả nghiên cứu mang tính toàn diện hơn.
4. Nguồn tư liệu của luận án
Ngoài việc kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu đã công bố và những tư
liệu thứ cấp liên quan, luận án được hoàn thành chủ yếu dựa vào nguồn tư liệu thực tế
của tác giả thu thập qua các cuộc điền dã từ năm 2005 tới nay.
5. Đóng góp của luận án
Công trình đầu tiên đề cập tới người Mảng ở Việt Nam là Các dân tộc nguồn gốc
Nam Á ở miền Bắc Việt Nam của Vương Hoàn Tuyên (1963). Đây là công trình nghiên
cứu phản ánh nguồn gốc lịch sử, quá trình di cư, tụ cư và đời sống kinh tế - xã hội của
các tộc người nơi đây. Tuy còn hạn chế và sơ lược, song đây là tài liệu quý về lịch sử
hình thành và phát triển của các tộc người ở phía Bắc, trong đó có người Mảng. Năm
1972, tác giả Đặng Nghiêm Vạn công bố tác phẩm Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở Tây
Bắc Việt Nam. Đây là một công trình hẹp hơn về diện so với nghiên cứu của Vương
Hoàng Tuyên, nhưng lại đi sâu phân tích và đánh giá đặc điểm lịch sử các tộc người ở
Tây Bắc thông qua những câu chuyện kể về quá trình thiên di và tụ cư của họ. Bởi vậy,
phần nào làm thỏa mãn được những băn khoăn về nguồn gốc lịch sử các tộc người ở
Tây Bắc Việt Nam hiện nay.
Năm 1972, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Trúc Bình, Nguyễn Văn Huy và Thanh
Thiên có công trình Những nhóm dân tộc thuộc ngữ hệ Nam Á ở Tây Bắc Việt Nam. Đây
là công trình chủ yếu nêu những đặc điểm cơ bản của các tộc người thuộc ngữ hệ Nam
Á ở Tây Bắc, trong đó có tộc người Mảng, như: kinh tế, lịch sử, tên gọi, nhưng chưa đề
cập sâu tới những vấn đề khác, đặc biệt là nghi lễ của tộc người này. Tuy nhiên, các
công trình này đã bước đầu nhận diện về người Mảng ở Việt Nam, nhất là về nguồn gốc
lịch sử. Tác giả Thanh Thiên trong bài Giới thiệu sơ lược về người Mảng ở Lai Châu
(1972) đã khái quát hầu hết các mặt đời sống tộc người Mảng, như: kinh tế, xã hội, văn
hóa, tri thức địa phương, tín ngưỡng, tôn giáo, Tuy nhiên, tác giả chỉ giới thiệu rất sơ
lược các vấn đề trên trong một báo cáo tư liệu 12 trang nên chưa phản ánh sâu sắc, đầy
đủ các mặt đời sống của người Mảng.
Ngô Đức Thịnh khi bàn Về quan hệ công xã trong tổ chức "Muy" của người
Mảng thời kỳ trước giải phóng (1972) đã dành phần lớn dung lượng nghiên cứu đề cập
tới kết cấu dân cư trong bản, tổ chức tự quản của bản và quan hệ cộng đồng bản. Nghiên
cứu chỉ ra những lớp kết cấu cư dân trong tổ chức làng bản người Mảng, xem xét cơ chế
vận hành tự quản của bản với vai trò trưởng bản, thầy cúng và các dòng họ, đặc biệt là
mối quan hệ cộng đồng. Theo tác giả, các mối quan hệ của người Mảng mang nhiều tính
công xã thị tộc thể hiện qua việc trao đổi, tính bình quân, phân công lao động, Mối
liên hệ ấy không chỉ bó hẹp trong quan hệ nội tại của bản mà còn giữa các bản với nhau,
Nam. Công trình này tập trung giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển các tộc
người ở biên giới phía Bắc Việt Nam, như: nguồn gốc và sự phát triển, quá trình di cư
và tụ cư, đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, Nhóm tác giả cũng đưa ra những bằng
chứng lịch sử minh chứng cho việc tụ cư của các tộc người nơi đây, trong đó người
Mảng được quan tâm như là một trong những cư dân xuất hiện sớm nhất và được coi là
tộc người tại chỗ nơi đây. Tuy nhiên, công trình chỉ dừng lại ở những đặc điểm nhận
diện các tộc người mà chưa nghiên cứu sâu về đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa của họ.
Hai tác giả Trần Minh Thư và Lò Ngọc Biên quan tâm về Người Mảng ở Nậm
Ban (2001) một cách khá toàn diện về điều kiện tự nhiên, dân tộc, dân số, kinh tế, tổ
chức xã hội làng bản, văn hóa, Phương pháp mô tả dân tộc học được tác giả sử dụng
để khảo tả hầu hết các hiện tượng văn hóa của người Mảng ở Nậm Ban, huyện Sìn Hồ,
tỉnh Lai Châu và đây là công trình đầu tiên chúng tôi ghi nhận nghi lễ được coi là đối
tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, các tác giả chưa đi sâu giải thích bản chất và giá trị của
nghi lễ. Kết quả của nghiên cứu này là cứ liệu rất tốt để bắt đầu nghiên cứu về nghi lễ
của người Mảng ở Việt Nam.
Mùa Thị Mỷ với bài viết Người con gái dân tộc Mảng ở Mường Lay (2001) đã
nêu ra những nhận định của tác giả về một số đặc điểm của người phụ nữ Mảng ở huyện
Mường Lay của tỉnh Lai Châu trong sinh hoạt hàng ngày, như: làm nương, công việc
nhà, chăm sóc con cái mà tác giả đã quan sát được. Tuy nhiên, trong khuôn khổ 01 trang
tạp chí, bài viết chỉ dừng lại ở những cảm nhận của tác giả và chưa nêu được những giá
trị văn hóa ẩn sau những sinh hoạt của con gái tộc người Mảng.
Viết về người Mảng ở Lai Châu nói riêng và ở Việt Nam nói chung, có lẽ tác giả
Ngọc Hải là một trong những người đã dành nhiều quan tâm hơn cả, với các công trình:
Bản sắc văn hoá dân tộc Mảng (2003), Truyện cổ tích dân gian Mảng (2004) và Một số
phong tục tập quán của dân tộc Mảng (2006) được thực hiện nghiêm cẩn và trình bày
khá chi tiết nhiều mặt đời sống xã hội của tộc người Mảng, như: địa bàn cư trú, nguồn
gốc, lịch sử, kinh tế truyền thống, gia đình, dòng họ, tín ngưỡng, phong tục, văn học
nghệ thuật dân gian, Với phương pháp nghiên cứu dân tộc học, văn hóa học, các công
trình đã khái quát khá rõ những khía cạnh văn hóa của tộc người Mảng ở Lai Châu. Tuy
vậy, các vấn đề được trình bày trong nội dung còn chưa giải mã được những hiện tượng
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Mảng ở xã Chăn Nưa, huyện Sìn Hồ,
tỉnh Lai Châu. Do công trình tập trung nghiên cứu ở một xã nên bị hạn chế khá nhiều về
diện, công trình đã không làm sáng tỏ được sự khác biệt trong phong tục tập quán của
người Mảng ở các địa bàn khác nhau và ít có sự so sánh, giải mã những biểu tượng văn
hóa thông qua các nghi lễ của họ. Nội dung của công trình trải đều trên tất cả các mặt
đời sống của người Mảng, nên những nhận định và đánh giá của công trình này chưa
thật sâu sắc, đặc biệt là về phần nghi lễ.
Nguyễn Văn Thắng đã dành nhiều quan tâm tới người Mảng ở Việt Nam, thông
qua các nghiên cứu: luận văn thạc sỹ văn hóa học về Phong tục và tín ngưỡng của
người Mảng ở xã Nậm Ban, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (2007); sách viết chung Văn
hóa các dân tộc vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La (2012), và một số bài
viết đăng trên các tạp chí, như: Tục đặt tên của người Mảng ở Nậm Ban (2007), Sinh kế
của người Mảng ở Việt Nam với phát triển bền vững tộc người (2012), Lễ cưới của người
Mảng ở Việt Nam (2012), Tang ma của người Mảng ở Lai Châu (2012), Tri thức địa
phương của người Mảng ở Việt Nam trong khám bệnh và chữa bệnh (2012), Nghi lễ
sinh đẻ và nuôi day con nhỏ của người Mảng ở Việt Nam (2013), Tri thức địa phương
của người Mảng ở Việt Nam (2013), Nghi lễ nông nghiệp của người Mảng ở Việt Nam
(2013), Tuy nhiên, các công trình này hầu hết chỉ dừng lại ở việc miêu thuật những
nghi lễ truyền thống và nêu ra các nhận định của tác giả về những đặc điểm văn hóa
thông qua các nghi lễ; bước đầu có giải mã một số biểu tượng văn hóa trong cưới xin,
tang ma, phân tích, so sánh nét tương đồng và khác biệt các thành tố văn hóa mảng với
tộc người khác cùng địa bàn cư trú, đưa ra một số kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa của người Mảng,
Cũng quan tâm tới phong tục của người Mảng, Đoàn Thị Kiều Vân đã công bố
bài viết Tục "gọi hồn lúa" của người Mảng ở Lai Châu (2007). Nội dung đã khảo tả
những bước tiến hành nghi lễ, chỉ ra một số kiêng kỵ, nhưng chỉ dừng ở sự cảm nhận
trực quan về tục gọi hồn lúa mà chưa đi vào phân tích, tìm hiểu các vấn đề bản chất của
nghi lễ này. Với phạm vi là một bài viết ngắn nên nội dung nghi lễ chưa được đề cập
đầy đủ, đặc biệt là việc giải mã các hiện tượng xuất hiện trong nghi lễ, cũng như các
bước thực hiện, lễ vật, lời cúng của tập tục này.
và nghi lễ của người Mảng.
Có thể nhận định rằng, tất cả những công trình đã công bố từ trước đến nay đều ít
nhiều đề cập tới người Mảng ở Lai Châu, mà chưa chú ý tới người Mảng ở các tỉnh
thành khác trên cả nước. Bên cạnh đó, nghi lễ của tộc người Mảng chưa được xem là
đối tượng chính của các nghiên cứu, nên còn thiếu vắng những công trình mang tính hệ
thống và toàn diện về lĩnh vực này. Vì vậy, cần thiết có những nghiên cứu chuyên sâu
và toàn diện về nghi lễ dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học để góp phần xây dựng bức
tranh tổng thể về văn hóa người Mảng ở Việt Nam, nhằm góp phần bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa tộc người này trong bối cảnh hiện nay.
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1. Một số khái niệm cơ bản
- Nghi lễ, theo Thomas Barfield trong Từ điển Nhân học: "nghi lễ là các hành
động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo - ví dụ một đại lễ Thiên chúa
giáo hay một buổi lễ hiến tế tổ tiên. Thông thường các nhà nhân học sử dụng nghi lễ để
nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều lễ thức và với mục đích phi bình quân chủ
nghĩa. Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc
biệt nào cả với khía cạnh thể hiện toàn bộ hoạt động của con người. Trong chừng mực
nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của cá nhân, bất kỳ một hành động
con người nào có khía cạnh nghi lễ" [100, tr. 682]. Còn theo Từ điển Tiếng Việt: "nghi
lễ là nghi thức và trình tự tiến hành của một cuộc lễ" [101, tr. 866].
Levi - Strauss cho rằng: "nghi lễ không phải là phản ứng lại cuộc đời, đó là phản
ứng với cái mà tư duy làm nên cuộc đời. Đó không phải là sự đáp ứng trực tiếp đối với
thế giới hoặc thậm chí là với kinh nghiệm của thế giới, mà đó là phản ứng đối với con
người nghĩ về thế giới" [61, tr. 363-364]. Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda nhận
định, nghi lễ bao gồm bốn yếu tố: 1) Là một hoạt động xã hội lặp đi lặp lại gồm một loạt
các động tác có tính chất biểu tượng dưới dạng múa, ca hát, lời nói, điệu bộ, thao tác
trên một số các đồ vật gì đó, 2) Nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày trong
xã hội, 3) Nghi lễ theo đúng một mô hình nhất định do văn hóa đặt ra, 4) Hoạt động
nghi lễ thường liên quan chặt chẽ tới một số tư tưởng thường xuất hiện trong huyền
thoại [29, tr. 13]. Đồng thời, nghi lễ tạo hành động, tức là buộc phải áp dụng một loạt
nghi lễ còn được xem là một tập hợp các hành vi của con người đã được mã hóa, luôn
có sự hỗ trợ của thể chất, một giá trị biểu tượng lớn với những người thực hiện và những
người chứng kiến và nó được tạo dựng dựa trên sự nhất quán tư tưởng [20, tr. 20].
Từ những tập hợp quan niệm về nghi lễ nêu trên, chúng tôi cho rằng, nghi lễ là
các lễ thức được tập hợp và trình diễn một cách có hệ thống trong không gian thiêng do
con người tạo nên, phù hợp với truyền thống văn hóa tộc người được mọi người mặc
nhiên chấp thuận, tuân thủ và làm theo. Như vậy, dù nhìn từ góc độ nào, một cuộc lễ
cũng phải hội đủ các yếu tố như: tính thiêng, đối tượng khẩn cầu, lời cúng, hành động
ma thuật, không gian diễn xướng, lễ vật, Đảm bảo sau cuộc lễ, người cần xin nhận
thấy sự phù trợ thiêng liêng từ một đấng vô hình nào đó giúp họ vượt qua khó khăn, tự
tin, nhân lên niềm vui và xua đi mọi sầu muộn. Nghi lễ thể hiện mọi mặt đời sống văn
hóa của con người, nó biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người, với thế giới
thiêng và với tự nhiên.
- Gia đình, theo Ph.Ăngghen là một yếu tố năng động, nó không bao giờ đứng
yên tại chỗ mà chuyển từ một hình thức thấp lên một hình thức cao khi xã hội phát triển
từ một giai đoạn thấp lên một giai đoạn cao [25, tr. 59]. Khi bàn về gia đình,
M.O.Kôxven cho rằng, gia đình là một nhóm xã hội được đặc trưng bởi nhà ở chung,
hợp tác kinh tế và tái sản sinh hoặc gia đình bao gồm một nhóm người gắn bó với nhau
bằng mối liên hệ hôn nhân, huyết thống hay là việc nhận con nuôi, có sự tác động qua
lại giữa chồng và vợ, giữa bố và mẹ, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh chị em với họ
hàng [103, tr. 131-132]. Peter Murdock lại cho rằng, gia đình là một nhóm xã hội thể
hiện đặc trưng bởi cư trú chung, hợp tác về kinh tế và tái sản xuất giống nòi [100, tr.
309]. Emily A.Schultz và Robert H.Lavenda chia gia đình thành các kiểu khác nhau
như: gia đình nhỏ và gia đình lớn; M.S.Kaxuba chia gia đình hạt nhân và gia đình cá
thể; còn Grant Evansgia là gia đình mở rộng, gia đình phức hợp;
- Nghi lễ gia đình, là những nghi lễ được thực hành trong phạm vi không gian
gia đình, do gia đình tổ chức, chủ lễ có thể là người đại diện gia đình hoặc mời thầy
cúng bói. Mục đích của các nghi lễ chủ yếu nhằm cầu xin sự phát triển, bình an, no đủ
hoặc hạn chế, ngăn cản những điều xấu xảy ra với gia đình. Nghi lễ gia đình bao gồm hệ
thống các nghi lễ liên quan đến một cá nhân hoặc một tập thể cùng sinh sống dưới một
soát đối với việc phân chia và đe dọa các sự kiện; một câu thần chú có thể xua đuổi bất kỳ
một vị thần nào, song nó có thể bất lực với bệnh tật. Thêm vào đó, các nghi lễ tạo ra cách
thể hiện tình cảm. Chẳng hạn, các nghi lễ đám ma thường tạo ra các cơ hội để bày tỏ nỗi
đau khổ đối với người thân [Goldschmidt, 1973]. Trong một số trường hợp, các nghi lễ
cho phép con người thể hiện tình cảm của mình mà trong các dịp bình thường thể hiện
như thế lại bị coi là trái ngược với chuẩn mực xã hội [61, tr. 366-367].
Như vậy, khi nào con người không cảm nhận được sự an toàn thì họ sẽ thực hiện
nghi lễ để trấn an hoặc cầu mong để có thêm lòng tin. Malinowski đưa ra giả thuyết, khi
môi trường càng bất trắc, kết quả càng bấp bênh thì con người lại càng cần đến lễ nghi
phù phép. Ông chứng minh quan điểm này bằng việc đưa ra ví dụ cụ thể khi nghiên cứu
trường hợp người Trobriand đánh cá ở Thái Bình Dương, khi họ đánh cá trong đầm,
không có gì nguy hiểm thì họ không làm nghi lễ phù phép, họ chỉ dựa vào kiến thức và
tay nghề của chính họ. Tuy nhiên, khi ra biển đánh cá, mức nguy hiểm tăng nhiều và kết
quả cũng bấp bênh hơn thì các ngư phủ làm lễ và phù phép để trấn an chính họ về mặt
tâm lý, mong được an toàn và được mẻ cá to [19, tr. 174]. Trong đời sống các tộc người
thiểu số ở nước ta, việc thực hiện các nghi lễ hầu hết đều nhằm giải tỏa tâm lý sợ hãi,
cầu mong sự phù trợ và tăng cường niềm tin điều này tương đồng với các quan điểm
mà Malinowski đã nêu.
+ Chức năng tái sản sinh trật tự xã hội: Durkheim (1915) nhìn thấy trong nghi lễ
một nguồn lực xã hội, được hình thành qua việc người nguyên thủy kinh qua vai trò
thành viên của mình trong xã hội và cảm thấy "sự sôi nổi tập thể" duy trì tính cố kết
cộng đồng. Ông cũng công nhận nghi lễ tạo ra một tuyên bố kịch tính về huyền thoại
của xã hội. Trong nghi lễ con người thường hành động giống như huyền thoại của họ về
nguồn gốc xã hội và tuyên thệ tính hợp pháp của trật tự được thiết lập đối với đồ vật. Ở
đây, dường như nghi lễ là nơi để con người bằng các hành động và đạo cụ trở lại với các
truyền thuyết về tộc người của mình. Thậm chí ở nơi các nghi lễ không gợi ra các huyền
thoại một cách rõ ràng cấu trúc của chúng có xu hướng phản ánh và tăng cường khác
biệt xã hội. Hơn thế nữa, vì các nghi lễ cho thấy trật tự xã hội, chúng trở thành diễn đàn
quan trọng chỉ những ai muốn thay đổi trật tự xã hội đó. Trong nghi lễ, các nhóm nghèo
khổ và bị áp bức có thể diễn đạt một cách biểu tượng sự bất bình của mình đối với hệ
cấu xã hội (bao gồm những vai trò, các trách nhiệm pháp lý và các chuẩn mực đạo đức)
là phạm vi cơ bản cho sự phân tích so sánh. Nhà xã hội học Hoa Kỳ Talcott Parsons với
quan điểm liên ngành kết hợp nhân học, xã hội học và tâm lý học thành một mô hình
phân tích gần như là mang tính điều khiển học hay lý luận - hệ thống. Các hệ thống tâm
lý, xã hội và văn hoá, ông đề xuất có thể phân biệt được về mặt phân tích như là những
cấp độ tổ chức nổi lên khác nhau, mỗi một cấp độ trong đó có lôgíc liên kết riêng của nó
nhưng lại có mối quan hệ với nhau. Clifford Geertz đề xuất các hệ thống xã hội được
liên hợp lại với nhau theo nguyên tắc nhân quả trong khi đó các hệ thống văn hoá được
liên kết mang tính lôgíc về mặt ý nghĩa và các hệ thống tâm lý học được liên kết mang
tính động thái tâm linh. Tuy nhiên cũng có một số ý kiến khác về lý thuyết này. Aberle
và một số người khác (1950) đã chỉ ra thuyết chức năng đã không nêu rõ làm thế nào để
xác định được các nhu cầu của con người và các thiết chế có chức năng tương đương
khác nhau có thể đáp ứng được những yêu cầu này. Còn Ernest Geller cho rằng, thuyết
chức năng đối với nhân học về cơ bản là một yêu cầu về phương pháp luận xem xét các
mối liên hệ tương hỗ giữa các thiết chế xã hội và các bộ phận cấu thành của nó chứ
không phải là một lý thuyết về xã hội [62, tr. 8-9].
Áp dụng lý thuyết chức năng vào nghiên cứu luận án này, sẽ góp phần làm rõ
chức năng và vai trò của gia đình nói chung, trong đó có chức năng về tín ngưỡng và
văn hóa tâm linh mà nghi lễ gia đình của tộc người Mảng trước đây và hiện nay là một
trong những yếu tố cấu thành và biểu hiện rõ nét chức năng đó của gia đình.
- Lý thuyết biến đổi văn hóa (changement cultural) được hiểu như hệ thống các
quan điểm tiếp cận và giải quyết các vấn đề trong biến đổi văn hóa, như: tiếp biến văn
hóa (acculturation), truyền bá văn hóa (spreading culture), tiến hóa luận (darwinism),
chức năng luận (functionalist), văn hóa sinh thái (cultural ecology), Trong luận án
này, chúng tôi chủ yếu tiếp cận theo thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa (acculturation).
Thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa (acculturation) là khái niệm do các nhà nhân
học Anglo-Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX tại Mỹ để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu
dài giữa hai nền văn hóa khác nhau, và hệ quả là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số
loại hình văn hóa hoặc cả hai nền văn hóa đó diễn ra. Các nhà nhân học Mỹ cho rằng,
giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng