nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 3
TS. Trần Bình *
1. Một số vấn đề chung
Cho đến 1994, ở Việt Nam có 527.524
ngời Dao sinh sống. Họ thuộc hai ngành
(hai phơng ngữ). Ngành thứ nhất (Miền)
bao gồm các nhóm: Đại bản, tiểu bản, trong
đó Đại bản bao gồm các nhóm nhỏ: Dao Đỏ
c trú chủ yếu ở Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu,
Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc
Cạn, Thái Nguyên và Lạng Sơn; Dao Quần
Chẹt sống ở Hoà Bình, Hà Tây, Phú Thọ,
Vĩnh Phúc, Sơn La, Yên Bái; Dao Thanh
Phán c trú tập trung ở Tuyên Quang, Bắc
Cạn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn.
Nhóm Tiểu bản (Dao Tiền) sống ở Hòa Bình,
Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang, Hà Giang,
Cao Bằng, Bắc Cạn. Ngành thứ hai (Mùn)
cũng có hai nhóm: Dao quần trắng và Dao
Làn Tẻn. Nhóm Dao quần trắng (Dao Họ) c
trú ở Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà
Giang; Dao Làn Tẻn có hai nhóm nhỏ là Dao
Thanh Y c trú ở Tuyên Quang, Quảng
Ninh, Bắc Giang và Dao áo dài c trú ở Yên
Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc
* Viện dân tộc học
Trung tâm KHXH&NVQG nghiên cứu - trao đổi
4 - Tạp chí luật học
Từ sau năm 1975, nhất là từ 1996 đến
nay, số ngời Dao di c từ các tỉnh miền núi
phía Bắc vào Tây Nguyên, Đông Nam Bộ
ngày càng nhiều. Ví dụ, tại Đắc Lắc, nơi đến
chính của các luồng di c tự do hiện nay ở
Việt Nam, theo báo cáo của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Đắc Lắc, đến tháng 11/1998 có
12.561 ngời Dao đ di c tự do tới sinh
sống. Vì thế, xu hớng chuyển vùng c trú từ
miền núi phía Bắc vào Tây Nguyên đang
diễn ra mạnh ở ngời Dao cũng nh một số
dân tộc khác (Tày, Thái, H'Mông, Mờng ).
Từ những năm 1960 trở lại đây, ngời
Dao đ thực hiện tơng đối tốt cuộc vận
động định canh, định c của Chính phủ Việt
Nam. Đến nay, gần nh hầu hết các gia đình,
làng bản của ngời Dao đ định canh, định
c. Cùng với định canh, định c là phong
trào hạ sơn, chuyển xuống định c và sản
xuất tại các vành đai thấp ở miền núi. Đến
nay, số ngời Dao ở vùng cao không nhiều
so với vùng thấp và vùng giữa.
mạnh mẽ và phong phú. Đây là nguồn động
lực lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế - x hội
của cộng đồng ngời Dao ở Việt Nam.
2. Luật tục và việc quản lí làng, bản
của ngời Dao
Từ xa đến nay, làng của ngời Dao vẫn
tồn tại trong cơ chế tự quản. Theo truyền
thống, làng do bộ máy có ngời đứng đầu
(chẩu con, hay giăng chẩu) quản lí. Ngời
đứng đầu làng thờng là ngời có uy tín
nhất, của dòng họ lớn nhất trong làng và phải
do dân trong làng bầu ra. Tất nhiên, vị trởng
làng đó phải thông thạo luật tục, giỏi cúng
bái, có kinh nghiệm trong sản xuất, có khả
năng đoàn kết các dòng họ và công tâm.
Trởng làng có nhiệm vụ quản lí đất đai,
chia đất cho dân làng, quản lí nhân khẩu và nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 5
quyết định cho hay không cho phép những
ngời ở nơi khác đợc định c trong làng;
đoán định thời tiết, lựa chọn thời điểm gieo
trồng các loại cây trồng; quản lí mọi nguồn
tài nguyên thiên nhiên thuộc phạm vi của
làng; giải quyết mọi xung đột trong nội bộ
của làng theo luật tục; chủ trì họp cả làng
mỗi năm một lần (vào ngày 15 tháng giêng);
gỗ trên gài cỏ gianh và không ai đợc xâm
phạm. Theo tục lệ, đến cuối mùa phát nơng,
mảnh đất đ cắm nêu vẫn cha đợc khai
phá đợc coi nh vô chủ, ngời khác có
quyền chiếm hữu. Rất ít tranh chấp nhng
nếu có thì theo luật tục quy định: Cây nêu
của ai có cỏ gianh khô hơn thì ngời đó đợc
quyền chiếm hữu. Nơng đ canh tác, bỏ hoá
lu canh vẫn thuộc quyền chủ đ chiếm hữu,
ai tự ý chiếm đoạt đều buộc phải trả lại
không điều kiện.
Các con trai có quyền nhận ruộng bậc
thang do bố mẹ khai phá đợc chia cho. Gia
đình nào chịu trách nhiệm thờ phụng tổ tiên
và giữ bàn thờ của dòng họ sẽ có quyền đợc
canh tác ruộng họ. Đó là nguồn chi dùng cho
mọi hoạt động của dòng họ. Mọi thành viên
có trách nhiệm gìn giữ quản lí đất công của
làng (rừng cấm, đờng xá, nghĩa địa ). Vào
tháng 2 hàng năm các làng đều tổ chức sửa
đờng xá. Bình thờng, những khi khác, ai
làm h hỏng đờng phải tự sửa lại và phải
chịu phạt rợu (xa kia) hoặc tiền (ngày
nay).
Những ngời nơi khác đến c trú trong
làng phải có lễ xin phép và chỉ đợc canh tác
ở nhng nơi làng cho phép, nghiêm cấm tự ý
khai phá. Hàng năm gia đình đó phải nộp
một khoản nhất định vào quỹ của làng. Tất
cả các thành viên trong làng, không phân
còn tại một số làng ngời Dao đỏ ở Hoàng
Su Phì, Hà Gian. Nhiều nơi xa kia còn quy
định phải đăng kí số gỗ định lấy làm nhà với
trởng làng, ai chặt quá số gỗ đ đăng kí sẽ
bị phạt.
Từ những năm 1960 đến nay, rừng do
kiểm lâm quản lí, bên cạnh việc thực hiện
Pháp lệnh bảo vệ rừng của Chính phủ Việt
Nam, ngời Dao vẫn duy trì những quy ớc
bảo vệ rừng của dân tộc mình. Từ năm 1986
đến nay, nhất là khi đ giao đất giao rừng
cho các hộ gia đình, các quy ớc truyền
thống cũng phát huy tác dụng. Nhiều làng
Dao đ xây dựng quy ớc thành văn bản để
mọi ngời cùng nắm và thực hiện. Ví dụ, ở
Hồ Thầu (Hà Giang), chính quyền x quy
định: Ai chặt một cây gỗ nhỏ, có đờng kính
tiết diện dới 10 cm phải nộp phạt 2000
đồng, đào một củ măng phải nộp phạt 2000
đồng, bẻ một măng giang phải nộp phạt 1000
đồng và bị tịch thu toàn bộ sản vật đ khai
thác trái phép.
Đến nay, làng Dao nào cũng có khu rừng
cấm, đó là nơi thần làng trú ngụ. Ai tự ý khai
thác sản vật trong rừng đó sẽ bị phạt một con
lợn để làng cúng tạ tội thần làng ngay trong
rừng đó. Hàng năm, vào ngày mồng một Tết
Nguyên Đán, chủ các gia đình phải tham gia
lễ sửa sang nơi cúng các thần làng trong rừng
cấm và nghe trởng làng nhắc nhở lại về các
sẽ phải nộp phạt cho cả làng, bồi thờng thiệt
hại cho gia đình có hoa màu bị tàn phá. Ai vi
phạm tới 2 - 3 lần sẽ bị phạt nặng gấp 2 - 3
lần .
2.4. Nhằm giữ gìn an ninh, chống trộm
cắp làng ngời Dao cũng có những quy
định nghiêm ngặt. Kẻ nào ăn cắp sẽ phải bồi
thờng lại gấy 2 lần số tài sản đ lấy cắp
đợc, ngoài ra phải nộp cho làng một con lợn
và bị bêu mặt trớc cả làng. Gia đình nào có
khách lạ ngủ qua đêm phải trình báo với
trởng làng, nếu không sẽ phải bồi thờng
nếu xảy ra trộm cắp. Ai đi trong đêm phải có
đèn đuốc. Nếu có hỏa hoạn, trộm cớp, có
báo động mọi ngời phải tập trung tham gia
chữa cháy, bắt trộm
Xa kia, ngoài những quy định trên,
trong các làng của ngời Dao còn có những
tục lệ trong việc cới xin, ma chay Những
tục lệ này tuy không có văn bản, chỉ truyền
miệng và ghi nhớ bằng cách "thuộc" nhng
đều đợc mọi ngời thực hiện rất nghiêm
túc. Chính đây là cơ sở quan trọng cho việc
điều hành tự quản của các bộ máy hành
chính dân gian của các làng.
3. Một vài nhận xét
Trong x hội truyền thống, khi con ngời
sống tuân theo trật tự đạo đức truyền thống,
mọi mối quan hệ giữa các thành viên với
nhau, giữa các thành viên với cộng đồng, với
luật pháp Nhà nớc. Theo chúng tôi, có thể
vai trò của luật tục Dao còn phát huy tác
dụng trong thời gian rất dài nữa, nếu không
muốn nói là mi mi./.