MỤC LỤC
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ CÁC CÔNG VIỆC NGHI LỄ
CHUẨN BỊ TRƯỚC TANG LỄ..............................................................................
1
I. QUAN NIỆM CHUNG VỀ TANG MA..............................................................
1
1. Quan niệm chung.................................................................................................
1
2. Quan niệm về tang ma của người Mường ở Hòa Bình.......................................
2
3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu........................................................................
3
4. Vài nét về dân tộc Mường....................................................................................
5
II. Khái quát về phong tục tang lễ của người Mường..............................................
12
1. Về tên gọi công việc tang lễ...............................................................................
12
2. Người gốc và mục đích, điều kiện để làm tang lễ của người Mường.................
13
2.1. Nguồn gốc và mục đích tiến hành các nghi lễ..................................................
13
2.2 Mục địch cơ bản của tang lễ người Mường.......................................................
18
2.3 Các yếu tố cơ bản để tiến hành một đám ma bình thường...............................
19
3. Chuẩn bị trước tang lễ.........................................................................................
20
3.1 Đối tượng không được củ hành tang lễ.............................................................
21
3.2 Chuẩn bị trước tang lễ trong trường hợp bình thường......................................
31
4. Phát tang .............................................................................................................
32
5. Đưa tang..............................................................................................................
34
6. Hạ huyệt...............................................................................................................
36
2
7. Đặc điểm mâm cơm dành cho các đối tượng khác nhau có liên quan đến
người chết................................................................................................................
37
7.1 Mâm cơm dành cho người chết.........................................................................
37
7.2. Mâm cơm dành cho con cái, dâu rể, khách và họ thông gia............................
38
7.3. Mâm cơm dành cho thầy Mo và phường bát âm..............................................
39
PHẦN 3: MỘT SỐ NÉT THAY ĐỔI TRONG TỤC TANG MA HIỆN NAY
CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH................
39
Một số nét thay đổi trong tục tang ma hiện nay của người Mường ở huyện
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình......................................................................................
39
Kết luận...................................................................................................................
41
3
cố. Đám tang là một nghi lễ lớn, nghi lễ cuối cùng trong đời một con người.
Nghi lễ đám tang Việt được thiết kế theo nghi thức tang lễ có gốc từ sách “Văn
công gia lễ” của Chu Hy đời nhà Tống bên Tàu, giản lược theo “Thọ mai gia lễ”
của Hồ Sĩ Dương đời Lê. Nghi lễ đám tang ấy thể hiện rất rõ quan điểm con
4
người là do khí âm, khí dương hòa hợp lại, con người có hồn có vía nên dù đã
nhắm mắt xuôi tay vẫn có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đối với những người sống.
Đám tang là một nghi lễ với những thủ tục quy định nghiêm ngặt, nào “Thiên
chính tẩm” (dời ra giữa nhà), nào lắng nghe “Di ngôn” (lời trăng trối), nào “Gia
tân y” (thay quần áo), nào “Hạ tịch” (đặt xuống chiếu trải dưới đất), nào “Trị
quan” (chuẩn bị quan tài), nào “Nhập quan” (đặt vào quan tài)….
Tóm lại, đám tang hay đám ma, lễ tang, tang lễ, tang ma là một trong
những phong tục của Việt Nam. Bao gồm nhiều quy trình của những người đang
sống thực hiện đối với người vừa chết.
2. Quan niệm về tang ma của người Mường ở Hòa Bình
Đối với người Mường ở Hòa Bình, “tang ma là một trong những nghi lễ
tôn giáo “đậm đặc” là hình thái khá tập trung của nhiều tập tục cổ truyền. Như
mọi nghi lễ lớn của bất cứ dân tộc nào, tang lễ Mường thể hiện trên lễ tiết,
những quan niệm về vũ trụ và về nhân sinh quan của dân tộc. Các quan niệm ấy
đã bắt rễ từ lâu đời, ăn sâu vào tâm khảm người dân, là chất liệu góp phần xây
dựng nên cái mà nhiều nhà dân tộc học gọi là “mối cộng cảm” của một dân tộc.
Bên cạnh những quan niệm lỗi thời những tập tục lạc hậu, tang lễ Mường còn
bao gồm nhiều giá trị của di sản văn hóa dân tộc” .
Theo quan niệm thông thường, chết là kết thúc một đời người, là sự vĩnh
viễn ra đi không bao giờ gặp lại, là đem lại sự mất thăng bằng tới một nhóm gia
đình do sự mất đi của một thành viên. Khi còn sống với nhau, đạo lý người
Mường đã chỉ ra rằng nên đối xử tốt đẹp với nhau thì khi có người chết đi đạo lý
ấy cũng khuyên người sống phải chăm lo tận tình “nghĩa tử là nghĩa tận”. Đó là
mẹ lúc về già là bổn phận lớn lao nhất của một đời người. Dưới góc độ tín
ngưỡng tổ tiên, các nghi lễ tang ma chính là sự định vị cho linh hồn người chết
một vị trí mới trong các thứ bậc của tổ tiên có mặt trên bàn thờ gia đình.
5. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Huyện Lương Sơn có tổng diện tích tự nhiên là 375 km 2 (chiếm 8% diện
tích toàn tỉnh), dân số trung bình là 80.300 người (chiếm 10,1% dân số toàn
tỉnh), mật độ dân số trung bình là 214 người/km 2 (gấp 1,3 lần so với mật độ
dân số toàn tỉnh Hoà Bình).
6
Huyện Lương Sơn là vùng có tính chuyển tiếp giữa đồng bằng châu thổ sông
Hồng với miền núi Hoà Bình và khu vực Tây Bắc, phía đông giáp các huyện
Quốc Oai và Chương Mỹ (tỉnh Hà Tây), phía tây giáp huyện Kỳ Sơn, phía nam
giáp huyện Kim Bôi, phía bắc và tây bắc giáp các huyện Ba Vì và Thạch Thất
(tỉnh Hà Tây).
Lương Sơn là một huyện vùng thấp của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổ
biến là núi thấp và đồng bằng. Độ cao trung bình của toàn huyện so với mực
nước biển là 251m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ tây bắc xuống đông
nam. Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi thấp chạy dài
xen kẽ các khối núi đá vôi với những hang động.
Căn cứ vào địa hình, có thể chia huyện Lương Sơn thành ba vùng:
- Vùng trung tâm gồm 8 xã: Lâm Sơn, Hoà Sơn, Tân Vinh, Nhuận Trạch,
Hợp Hoà, Cư Yên, Cao Răm, Trường Sơn và thị trấn Lương Sơn. Vùng này có
dạng địa hình núi thấp xen kẽ các dải đồng bằng thấp với những cánh đồng
rộng, bằng phẳng ở phía đông của huyện Lương Sơn, có đường quốc lộ 6A
chạy qua và hệ thống đường giao thông phát triển theo kiểu xương cá, thuận lợi
cho việc thông thương buôn bán.
- Vùng phía nam gồm 4 xã: Liên Sơn, Thành Lập, Trung Sơn và Tiến
Sơn. Địa hình ở đây chủ yếu là núi cao trung bình và núi đá vôi xen kẽ các
đứa lên núi, còn 50 đứa để tôi đem xuống Nam Hải”. Sau Lạc Long Quân cho
người con đầu làm vua. Ở nước Văn Lang, người ấy là Thủy Tổ của nòi giống
Việt Nam ta.
Chuyện ấy tuy là hoang đường, song tất vẫn có ý nghĩa. Theo Đào Duy
Anh Trong cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, ông cho rằng: “…Có lẽ nó chỉ có
sự phân biệt của nước Xích Quỷ thành những nước gọi là Bách Việt, nhưng đó
chỉ là một điều phỏng đoán. Nay ta hãy căn cứ vào sự nghiên cứu của các nhà sử
học, nhất là các vị giáo sư ở trường Viễn Đông bác cổ, mà xem gốc tích của dân
tộc ta thế nào. Có người cho rằng tổ tiên ta phát tích từ Tây Tạng, sau theo lưu
vực của sông Nhị mà di cư xuống miền trung châu Bắc Việt. Nhưng theo ông
Aurousseau dẫn chứng cổ điển rất kỹ càng thì tổ tiên ta lại là người nước Việt ở
8
miền họ lưu sông Dương Tử, sau bị nước Sở (thời xuân thu) đánh đuổi phải chạy
xuống miền nam ở miền Quảng Đông, Quảng Tây, rồi lần lượt đến Bắc Việt và
phía bắc Trung Việt. Theo nhiều nhà nhân chủng học hiện thời thì ở đời thượng
cổ, giống người Anhđônêgiêng bị giống Ariăng đuổi ở Ấn Độ mà tràn sang bán
đảo Ấn Độ China, làm tiêu diệt giống người thổ trước đầu tiên ở đấy là giống
Mê - La nêdiêng, rồi một phần trong đám người di dân ấy đi thẳng mãi sang
Nam Dương quần đảo, còn một phần ở lại Ấn Độ China, ở phía nam thành
người Chiêm Thành vào Cao man. Sau đồng hóa theo văn hóa Ấn độ, ở phía bắc
thì hỗn hợp với giống Mông Cổ ở Trung Hoa xuống mà thành người Việt Nam.
Giống người Việt Nam buổi đầu ở địa vực xứ Bắc Việt ngày nay, sau vì
địa thế và hoàn cảnh sinh hoạt khác nhau mà chia ra hai nhánh: nhánh ở miền
trung châu trù phú, dễ hấp thụ ảnh hưởng của người loài, thì dần dần hóa theo
văn hóa Trung Quốc mà tiến thẳng vào phương nam, tức là người Việt Nam
ngày nay; còn nhánh ở miền đồi núi thì còn duy trì được tính chất văn hóa xưa
và vẫn còn tổ chức theo chế độ phong kiến, tuy có chịu ảnh hưởng ít nhiều của
người Thái là giống lân bang, đó là người Mường hiện ở miền thượng du Nghệ
Trang phục nam: nam mặc áo xẻ ngực, cổ tròn, cúc sừng vai, hai túi
dưới hoặc thêm túi trên ngực trái. Đây là loại áo cánh ngắn phủ kín mông. Quần
lá tọa 13 ống dùng khăn thắt giữa bụng còn gọi là Khăn quần. Xưa có tục để tóc
dài búi tóc, trên đầu bịt khăn, khăn dài gấp 3 vòng đầu quấn dưới búi tóc. Cũng
có khi họ dùng khăn ngắn hơn, quấn vòng từ sau gáy sang phía trước giao nhau
ở trán, hai đầu khăn dựng nghiêng giống như hình đôi sừng trông khá ngộ
nghĩnh. Trong dịp lễ hội dùng áo lụa tím hoặc tơ vàng, khăn màu tím than, ngoài
khoác đôi áo chùng đen dài tới gối, cài cúc nách và sườn phải.
Trang phục nữ: bộ y phục nữ đa dạng hơn nam giới và còn giữ được nét
độc đáo. Khăn đội đầu (mụ) là một mảnh vải trắng hình chữ nhật không thêu
10
thùa. Váy (Wẳl) dài đến mắt cá chân gồm hai phần chính là thân váy và cạp váy,
cạp váy nổi tiếng với các loại hoa văn được dệt kì công. Trang sức thường ngày
gồm vòng tay, chuỗi hạt và bộ xà tích 2 hoặc 4 dây bạc có treo hộp quả đào và
móng vuốt hổ, gấu bịt bạc.
Áo mặc thường ngày có tên là Áo pắn (áo ngắn). Đây là loại áo cánh
ngắn, xẻ ngực, thân ngắn hơn so với áo cánh người kinh, ống tay dài, áo màu
nâu hoặc trắng (về sau có thêm các màu không phải loại vải cổ truyền). Bên
trong là loại Áo báng (yếm), cùng với đầu váy nổi lên giữa hai vạt áo ngắn. Đầu
thường đội khăn trắng, xanh với các phong cách không cầu kỳ như một số tộc
người khác. Váy là loại váy kín màu đen, toàn bộ phận được trang trí là đầu váy
và cạp váy, khi mặc mảng hoa văn nổi lên giữa trung tâm cơ thể. Đây là một
cách trang trí và thể hiện ít gặp ở các tộc khác trong nhóm ngôn ngữ và khu vực
láng giềng. Trong các dịp lễ, tết họ mang chiếc áo dài xẻ ngực thường không cài
khoác ngoài bộ trang phục thường nhật vừ mang tính trang trọng vừa phô được
hoa văn cạp váy kín đáo bên trong. Nhóm mặc áo cánh ngắn xẻ ngực thường
mang theo chiếc yếm bên trong, về cơ bản giống yếm của phụ nữ dân tộc Kinh
nhưng ngắn hơn.
lợn thui…”
Rượu cần người Mường nổi tiếng bởi cách chế biến và hương vị đậm đà
của men được đem ra mời khách quý và uống trong các cuộc vui tập thể. Phụ nữ
cũng như nam giới thích hút thuốc lào bằng loại ống điếu to. Đặc biệt phụ nữ
còn có phong tục nhiều người cùng chuyền nhau hút chung một điếu thuốc.
- Cưới xin: trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia
đình chuẩn bị lễ cưới. Để dẫn đến đám cưới phải qua các bước: ướm hỏi (kháo
12
thiểng), lễ bỏ trầu (ti nòm péng), lễ xin cưới (nòm khảu), lễ cưới lần thứ nhất (ti
cháu), lễ đón dâu (ti du). Trong ngày cưới, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai
khoảng ba, bốn chục người gồm đủ nội, ngoại, bạn bè mang lễ vật sang nhà gái
tổ chức cưới. Chú rể mặc quần áo đẹp chít khăn trắng, gùi một chón (gùi) cơm
đồ chín (bằng khoảng 10 đấu gạo), trên miệng chón để 2 con gà sống thiến luộc
chín. Trong lễ đón dâu, cô dâu đội nón, mặc váy áo đẹp ngoài cùng là chiếc áo
dài màu đen thắt hai vạt ở phía trước. Cô dâu mang về nhà chồng thường là 2
chăn, 2 cái đệm, 2 quả gối tựa để biếu bố mẹ chồng và hàng chục gối con để nhà
trai biếu cô dì, chú bác.
- Quan hệ xã hội: quan hệ làng xóm với nhau chủ yếu là quan hệ láng
giềng. Gia đình hai, ba thế hệ chiếm phổ biến. Con cái sinh ra lấy họ cha. Quyền
con trai trưởng được coi trọng và con trai trong gia đình được thừa kế tài sản.
- Lịch: lịch cổ truyền người Mường gọi là sách Đoi làm bằng 12 thẻ tre
tương ứng với 12 tháng. Trên mỗi thẻ có khắc kí hiệu khác nhau để biết tính
toán, xem ngày, giờ tốt xấu cho khởi sự công việc.
- Lễ hội: Người Mường có nhiều ngày hội quanh năm: sắc bùa, hội xuống
đồng (Khung mùa), hội cầu mưa (tháng 4), lễ cơm mới…
- Văn nghệ dân gian: Kho tàng văn nghệ dân gian người Mường khá
phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ.
Người Mường còn có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đối, hát trẻ con chơi.
Cũng như nhiều dân tộc anh em khác, người Mường coi tổ tiên là ma
lành, thường xuyên che chở, phù hộ cho gia đình nếu được thờ phụng, cúng lễ
chu đáo. Ngược lại sẽ gây ra những điều xui xẻo, ốm đau, bệnh tật… nếu không
tôn kính, thờ cúng. Tổ tiên là người bảo hộ gia đình, chống lại những ma ác, tổ
tiên còn tham dự vào tất cả các sự kiện trọng đại trong gia đình và trong nhiều
lĩnh vực của đời sống.
Có thể nói tục thờ cúng tổ tiên có vai trò quan trọng trong đời sống tín
ngưỡng của người Mường. Nó phản ánh ý thức sâu sắc về cội nguồn, về tình
cảm ruột già máu mủ và trở thành đạo lí “uống nước nhớ nguồn”.
14
Tục thờ thần bản mệnh, thổ công: cũng như một số cư dân phương Đông
khác, người Mường cũng suy tôn những cá nhân, những người lập những chiến
công và có đức độ thành thần để thờ. Họ thờ nhân vật khổng lồ trong truyền
thuyết dân gian là ông Tùng (hay ông Đùng) - người anh hùng thời tiền sử có
công diệt chim ác cứu dân Mường, bên cạnh đó người Mường còn thờ đức thánh
Tản Viên tôn kính gọi là vua ở núi Ba Vì (Bua Thơ, Bua Pavì), Quốc mẫu vua bà
gọi là mẹ của núi rừng. Ngoài ra ở mỗi vùng mường còn thờ các vị thần có công
với làng mường. Ở mỗi gia đình Mường còn có tục lệ thờ thổ công.
Tục thờ động vật cây cỏ: ngoài các con vật ở rừng và vật nuôi thường
được người Mường chọn làm vật cúng tế như trâu, gà, lợn… còn một số động
vật đặc biệt được trọng vọng trong tâm thức của người Mường: con cóc còn gọi
là chàng Hạc đã được thờ từ rất xa xưa. Con cóc là tín hiệu báo mưa, là biểu
tượng tín ngưỡng phồn thực. Ngoài cóc là cá và hươu, cá là biểu tượng cho các
con vật ở dưới nước, hươu là con vật biểu tượng cho các con vật ở trên cạn.
Ngoài những con vật được thờ cúng, người Mường ở Tân Lạc còn có tục
thờ cây: cây mía, cây lúa nương, cây pi, thờ hòn đá. Tụvạn vật hữu linh. Đó là
những loài động, thực vật quen thộc gắn liền với cuộc sống thường ngày của
người Mường.
2. Người gốc và mục đích, điều kiện để làm tang lễ của người Mường
2.1. Nguồn gốc và mục đích tiến hành các nghi lễ
Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa, cách gọi, cách nói về cái chết, dù nói gì
đi nữa chết là sự cố kinh khủng, đáng sợ vào loại bậc nhất của con người.
Tại sao khi có người chết phải làm ma, phải tổ chức tang lễ, đã có biết bao
trang sách nói này, nói nọ, nói đến cả những điều cao siêu, huyền hoặc. Vói
người Mường việc này được nói rất rõ ràng trong Mo – Cúng dâng cơm:
Nơi bổ nhà người
Clăm khổ, đô fần
Clăm năm thuối hết
……………….
16
Con đứa, con cái nhà người
Ó cho nơi bổ nà người
Ó cho chết luổng, thuổng ró
Còn zắc là chay
Còn bày là ma…..
(Woái Bưa – Bùi Huy Vọng sưu tậm)
Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông:
Nơi bố nhà người
Trắm số, đủ phần
Trăm năm tuổi hết
…………
Con trai, con gái nhà người
Khôn để cho người
Không cho người chết suông, đi không
Làm mùa, làm màng
Làm trang, làm trại…
Hay:
Làm mùa, làm màng
Có cái để ăn uống, sinh sống….
(Lời khấn nhập hồn người chết vào Mường Ma.
Bùi Huy Vọng sưu tầm và dịch)
Sinh sống như khi còn sống. Không chỉ có vậy bên đó hồn nguwoif chết còn
phải có trách nhiệm làm nên ăn, giàu có để bênh vực, phù hộ cho con cháu bên
dương thế:
Giầu bên ma
18
Mệ khà bên mọin….
Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông:
Giàu có bên ma
Mời khá bên đàng con người ….
(Lời cúng – Mo Nhập Quan, Mo Bữa tận..)
Việc mổ lợn, gà, trâu, bò…dâng cũng người chết, không chỉ là đơn thuần
cúng cho hồn người chết ăn, nó được nói rất rõ trong lời Mo khấn như sau:
Là bàn cla biểu
Biểu bổ, biểu mệ wời của cu nhà rừng bên ma
Bằng lạch cúi nại
Bằng cải củi cá
Hôm nay
Cảy cốc con cúi thì ăn
Còn woải còn củi
Wờil cứa cu, nhà rừng bên ma
Khao khổng, cốc nọil
Chết mỗi người mỗi nghiệp.
Trong cuộc sống mỗi người một tính nết, cái chết cũng vậy, nó cũng muôn
nẻo, đa dạng, mỗi người chết theo một con đường khác nhau, có người bất đắc
kỳ tử, có người chết vì đau ốm, vì sét đánh, chết đuối, và nhiều người còn tự tìm
đến cái chết, …vv.. Thật không kể sao cho hết mọi nguyên nhân dẫn đến cái
chết, những tựu chung mang lại dân gian Mường phân loại chết thành 2 loại cơ
bản, đó là chết bình thường và chết không bình thường.
20
Chết bình thường là những người cao tuổi, dù con đường dẫn đến cái chết
như: đau ốm, bệnh tật,…vv.. nhưng tắt thở nagy tại nhà mình, được coi là cái
chết bình thường, đúng quy luật:
Cây khà lá bay.
(thiềng đời hơ đớ lại)
Dịch nghĩa sang tiếng phổ thông:
Cây già lá bay.
(Tục ngữ dân tộc Mường)
Những người chết đuối, chết vì sét đánh, chết vì đâm chết,…vv..tắt thở
ngoài đường, ngoài chợ, hốc cây…nhìn chung là tắt thở ở ben ngoài nhà sàn
được cho là chết không bình thường. Những người chết trẻ cũng được cơi là
chết không bình thường dù họ có tắt thở ngay trong ngôi nhà của mình.
Ngay cái chết bình thường cũng đã là biến cố lớn lao gây nên sự bất an, lo
lắng xáo trộn trong đời sống con cháu, những cái chết không bình thường càng
làm cho người đang sống hoang mang, lo lắng hơn. Lòng bất an ảnh hưởng rất
lớn đến cuộc sống hàng ngày của con cháu. Chính vì thế người mường tổ chức
tang lễ như liệu pháp về tinh thần để giải tỏa lo lắng, trấn an người sống, động
viên họ chấp nhận tai ương, vững lòng tin vào ngày mai để an tâm lao động, sản
xuất, tiếp tục sống. làm ăn bình thường.
Chết là sự cố kinh khủng, đáng sợ vào loại bậc nhất của con người. Từ
tinh hình xã hội khách quan đương thời.
Một đám ma bình thường người Mường cần có những yếu tố cơ bản sau:
- Có người chết trong độ tuổi được làm đám ma theo phong tục cổ truyền
- Gia đình tang chủ phải đảm bảo có đủ vật chất tổi thiểu (Gạo, trâu, bò,
lợn…, rượu.vv) đủ nuôi toàn bộ những người tham dự tang lễ trong thời gian ấn
định tiến hành tang lễ theo quy phạm trách nhiệm trong lệ tục quy định.
- Có họ hàng đến phục vụ và điều hành tang lễ
- Có thầy Mo đến chủ tế các nghi lễ.
22
- Được chính quyền hay người cai trị đương thời chấp nhận. Trong xã hội
cũ nhiều đám ma không tiến hành được do gia chủ không thỏa mãn đươc các
yêu cầu của kẻ cai trị là nhà Lang. Sang chế độ mới, nhiều nghi lễ tốt đẹp như
Mo sử thi, Mo Cúng dâng cơm bị đánh đồng với mê tín dị đoan, các ông Mo
được coi là đối tượng gie rắc mê tín dị đoan nên bị cấm hành nghề.
Nếu thiếu một trong những điều kiện trên thì không tổ chức được một
đám ma bình thường.
3. Chuẩn bị trước tang lễ
Chuẩn bị trước tang lễ hay nói đúng hơn là chuẩn bị hậu sự cam giác ban đầu
ai nghe cũng có vẻ như là sự bất đắc dĩ. Không hoàn toàn như vậy việc chuẩn bị
vật chất và “hành trang” trước tang lễ cho người đang sống, người ốm nặng,
người già là việc làm có thực được người Mường quan tâm chu đáo.
Người Mường chuẩn bị hậu sự trước hêt cho những người cao tuổi trong gia
đình, cho những người còn trẻ không may mắc bệnh hiểm nghèo ốm đau liên
miên, người tàn tạ kiệt sức đến mức khó bề qua khỏi.
Việc chia thời điểm từ khi chuẩn bị tang lễ cho đến khi vào tang lễ tiến hành
các nghi lễ cho tới khi đủ đem – đoạn tang chỉ là ước lệ để phân bố cục trình tự
trong cuốn sách này hoàn toàn mang tính tương đối, bởi ngay khi người ta đã
chết, nếu chưa được giờ lành để nhập hi hài vào quan tài thì lễ tang cũng chưa
này khi mời thầy Clượng đến làm vía Maích nhà – mát nhà, sẽ Khaích – Gạt,
chia. Khi đi chôn người ta luộc một quả trứng gà hay trứng vịt, một gói cơm
nếp, trứng đặt trên đỉnh nắm cơm, sau đó lấy lá dong hay lá chuối gói kín lại,
nhiều nơi không gói lá mà cho vào bát, đặt quả trứng lên đỉnh bát cơm, người
Mường gọi đó là là cơm đi đàng, đi khả - Gói cơm đi dường cho hồn đứa bé đi
sang Mường Ma.
Cha mẹ của đứa bé tiễn đưa con chỉ được xuống đến chân cầu thang, đứng
bên trong giọt gianh mái nhà, họ không bước ra ngoài vì đây là tục lệ quy định
vậy.
Biểu số 1: Các đồ vật dùng trong việc chôn cất ma Chenh
24
TT
Tên đồ vật, công Địa điểm đặt
Mục đích sử dụng
việc
1
2
Ghi
chú
Đóng hòm gỗ, đan
quả trứng đặt trên - Đặt lên mộ cho hồn đứa bé sang thế
đỉnh
giới mường ma
đứa bé
4
Làm vía Kháich
Kháich để cắt - Kháich để cắt đứt mới
đứt mới liên hệ liên hệ giữa đứa trẻ xấu
giữa
đứa
trẻ số và gia đình, anh em
xấu số và gia của nó
đình, anh em - Xua đuổi, trấn trị ma
của nó
quỷ, tẩy tẩy uế, điềm
gở..
- Trấn an, an ủi người
sống
Những đứa trẻ này không được chôn cất trong mồ mả của gia đình, họ
tộc, cha mẹ hay anh em ruột không đi chôn cất, chủ yếu la người họ tộc hay
hàng xóm đến làm phúc, khênh mang thi hài đi chôn cất, họ tìm đến những khu
25