khóa luận tốt nghiệp tang ma của người tày ở xã châu sơn, huyện đinh lập, tỉnh lạng sơn - Pdf 30

KhóaluậntốtnghiệpSinhviên:NôngThịLinh
0

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI
KHOA VĂN HOÁ DÂN TỘC THIỂU SỐ

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TANG MA CỦA NGƯỜI TAY Ở XÃ CHAU SƠN, HUYỆN ĐINH LẬP, TỈNH
LẠNG SƠN

Giảng viên hướng dẫn : TH.S NGUYỄN THANH VÂN
Sinh viờn thực hiện : NÔNG THỊ LINH
Lớp : VHDT

HÀ NỘI - 2015KhóaluậntốtnghiệpSinhviên:NôngThịLinh
1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp với đề tài : “Tang ma của người Tày ở xó
Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn’’, tôi xin tỏ lũng biết ơn: Thạc sỹ Nguyễn
Thanh Vân, người đó trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo, đóng góp ý kiến cho tụi trong

5
5. Phương pháp nghiên cứu
5
6. Đóng góp của đề tài
5
7. Bố cục của khúa luận
6
Chương 1
7
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN
7
1.2. Khái quát về người Tày ở Châu Sơn
10
1.2.1. Lịch sử tộc người
11
1.2.2. Đặc điểm văn hóa của người Tày ở xó Châu Sơn
12
Chương 2
19
TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN
19
2.1. Quan niệm của người Tày về cái chết
19
2.2.Tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn trong truyền thống
19
2.2.1. Công tác chuẩn bị cho một đám tang
20
2.2.2. Các nghi thức trong tang ma
21
2.3. Cỏc lễ cỳng sau mai tỏng

48
3.2.3. Quan hệ giữa con người với thế giới tâm linh (Các thần, các ma…)
50
3.3. Một số biến đổi trong tang ma của người Tày ở Châu Sơn hiện nay
51
3.4. Nguyên nhân biến đổi
54
3.4.1. Tác động từ cỏc chớnh sỏch phỏt triển kinh tế
54
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
1

3.4.2. Tác động từ nhận thức của người dân 56
3.4.3. Tác động từ sự giao thoa văn hóa
57
3.5. Giải phỏp bảo tồn các giá trị văn hóa trong tang ma ở xó Châu Sơn
58
KẾT LUẬN
62

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
2

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc bao gồm 54 dân tộc cùng cư trú
trên mọi miền đất nước. Mỗi dân tộc có những giá trị văn hóa riêng, phản ánh
truyền thống lịch sử lâu đời. Tất cả các dân tộc anh em trong đại gia đỡnh
Việt Nam đó gỡn giữ, bồi đắp và phát huy sắc thái văn hóa riêng của mỡnh.
Cỏc sắc thỏi đó

3

người Tày ở Châu Sơn không thể không nghiên cứu tường tận về tập quán
tang ma của người Tày ở đây.
Trong bối cảnh hôi nhập, giao lưu văn hóa mạnh mẽ như hiện nay, văn
hóa truyền thống của người Tày nói chung và người Tày ở Châu Sơn nói
riêng cũng đang biến đổi theo nhiều xu hướng, trong đó có phong tục tang ma
cũng không ngoại lệ. Phong tục tang ma của người Tày nơi đây vừa hộ
i nhập
thêm những giá trị văn hóa mới, nhưng đồng thời cũng làm mai một không ít
các giá trị văn hóa truyền thống quý bỏu của tộc người.
Với cỏc lý do trờn, tụi chọn “Tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn,
huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân,
ngành Văn hóa dân tộc thiểu số.
2. Lịch sử nghiờn cứ
u
Về văn hóa Tày – Nùng ở Việt Nam hiện nay đó cú nhiều cụng trỡnh
nghiờn cứu về cỏc lĩnh vực văn hóa vật thể, và văn hóa phi vật thể đó được
công bố, xuất bản, trong đó phải kể đến các công trỡnh sau:
- Ló Văn Lô, Hà Văn Thư: Văn hóa Tày Nùng, Nhà xuất bản văn hóa,
Hà Nôi, 1984.
- Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng, Hoàng Phách, Cung Văn Lược,
Vương Toàn: Văn hóa truyền thống Tày Nùng, Nhà xuấ
t bản Văn hóa dân
tôc, Hà Nội, 1993.
- Hoàng Quyết, Tuấn Dũng: Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt
Bắc, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1994.
- Hoàng Tuấn Nam: Việc tang lễ cổ truyền của người Tày, NXB Văn
hóa dân tộc, Hà Nội, 1999.
Qua tỡm hiểu chỳng tụi nhận thấy trong cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu

đó. Từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy các
giá trị văn hóa mang bản sắc tộc người trong tang ma của ng
ười Tày ở Châu
Sơn.
Để thực hiện mục đích trên, đề tài khóa luận phải thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Khái quát về người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lõp, tỉnh Lạng
Sơn.
- Nghiên cứu về tập quán trong tang ma của người Tày ở xó Chõu Sơn,
huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn trong truyền thống cũng như hiện nay.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
5

- Khái quát những giá trị văn hóa và các quan hệ xó hội được thể hiện
trong tang ma truyền thống của người Tày ở Châu Sơn, đề xuất giải pháp bảo
tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người trong tang ma của người Tày nơi
đây.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: dân tộc Tày, tang ma và các vấn đề liên quan đến tang ma
của người Tày, từ khi trong gia đỡnh có người già yếu, cho đến khi qua đời,
trỡnh tự nghi l
ễ trong một đám tang bỡnh thường hay những trường hợp tang
ma đặc biệt ở xó Chõu Sơn.
- Phạm vi nghiờn cứu
+ Phạm vi thời gian: Khóa luận đi tỡm hiểu và nghiờn cứu về cỏc quan
niệm và cỏch ứng xử với người chết do tuổi cao, có đầy đủ con cháu bố mẹ đó
qua đời và tang ma của những trường hợp khác, như chết trẻ, chết do tai n
ạn,
chết chưa lập gia đỡnh, chết trước bố mẹ trong truyền thống cũng như hiện
nay.

Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
7
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN
1.1. Điều kiện tự nhiên - xã hội ở xã Châu Sơn
Châu Sơn là một xó miền nỳi nằm ở phớa Đông Nam của huyện Đỡnh
Lập, tỉnh Lạng Sơn, cỏch trung tõm huyện 15km, chạy dọc theo Quốc lộ số
4B.
Phía Đông giáp xó Hà Lõu, huyện Tiờn Yờn, tỉnh Quảng Ninh

bảo vệ thực vật mua. Triển khai thành công mô hình cánh đồng mẫu lớn vụ
đông xuân tại x
ứ đồng Nà mù, diện tích 04ha, đạt năng suất 220ha/tạ.
Chăn nuôi : Thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh ; phòng
chống rét cho gia súc, gia cầm nên không có trâu, bò bị bệnh chết ; đàn trâu
theo số liệu thống kê thời điểm 01/4/2014 có 137 con trâu ; đàn bò 82 con ;
đàn lợn 430 con ; đàn gia cầm 5.437 con; tổ chức phun tiêu độc khử trùng
11/11 thôn ; tiêm vắc xin phòng bệnh dại ở chó được 86 con.
Lâm nghiệp: tuyên truyền, chỉ đạo nhân dân trồng rừng mới năm 2014,
trồng rừng được 146ha chủ yếu là cây Keo và cây Thông. Khai thác gỗ rừng
trồng 816 mét vuông (gỗ Keo). Công tác chăm sóc bảo vệ rừng, phũng chỏy
chữa chỏy rừng được tuyên truyền thực hiện tốt, ý thức bảo vệ rừng của các
tầng lớp nhân dân được nâng lên, đến nay trên địa bàn xó khụng cú chỏy rừng
xảy ra.
Kết quả tổ chức ra quân đầu xuân đạt được: Nạo vét mương được
4.007m dài.
Đào đắp được: 52 mét vuông đất, đá. Khơi thông rãnh được:
2.205 m dài, san lấp mặt đường được: 6,5 mét vuông, phát quang hai bên
đường 2.900 m dài đảm bảo nước tưới phục vụ cho sản xuất.
Lĩnh vực văn hóa xã hội
Công tác giáo dục: Thường xuyên lãnh đạo chỉ đạo các trường duy trì ổn
định nề nếp dạy và học, thực hiện tốt các quy định của ngành giáo dục đề ra,
nâng cao chất lượng đạy và học. Thực hi
ện tốt phong trào, hoạt động ủng hộ
giúp đỡ các học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh nghèo vượt khó. Chỉ
đạo các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phối hợp với nhà trường thường
xuyên động viên con em đến trường, đầy đủ, duy trì sĩ số học sinh; duy trì
được phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
9

chính sách, gia đình đặc biệt khó khăn và các hộ gia đình nghèo trong dịp tết
được kịp thời đúng đối tượng. Tổng các xuất quà đã trao là 233 xuất; Trong
đó: Qùa của Trung ương hỗ trợ các gia đình nghèo 205 xuất. Qùa của Huyện,
Tỉnh Lạng Sơn 28 xuất. Xét trợ cấp thiếu đ
ói trong dịp tết cho 19 hộ với 73
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
10

nhân khẩu, tổng số gạo 1.095. Hỗ trợ cứu đói giáp hạt II cho 56 hộ 234 nhân
khẩu, tổng số gạo 3.510 kg.
Công tác xóa đói giảm nghèo: Được quan tâm chỉ đạo thực hiện ngay
từ đầu năm, theo kết quả rà soát năm 2013: Số hộ nghèo 43 hộ = 12%; công
tác cấp thẻ BHYT cho các đối tượng đã được quan tâm triển khai thực hiện và
kịp thời, tổng số thẻ BHYT 1,289 thẻ; Trong đó đối tượ
ng nghèo 677 thẻ,
DTTS 612 thẻ. Hỗ trợ cho hộ nghèo về tiền điện 04 quý số tiền 82.584.000
đồng. Triển khai hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo theo Quyết định 102/2009/QĐ
- TTg số tiền 78.100.000 đồng; Quyết định 28/2013/QĐ - UBND ngày
24/3/2013 của UBND tỉnh cho 82 hộ số tiền 82.000.000 đồng. Vốn hỗ trợ 174
triệu, hỗ trợ phân lân tổng hợp được 11.100kg.
1.2. Khái quát về người Tày ở Châu Sơn
Trong cộng
đồng 54 dân tộc Việt Nam, người Tày có số dân đứng thứ
hai sau người Việt (Kinh), là dõn số cú số dân đông nhất trong các tộc người
thiểu số 1.626.392 người theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009. Địa
bàn cư trú chính của người Tày chủ yếu ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà
Giang,Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Yên Bái…Ngoài ra còn có một
bộ phận sống ở Quảng Ninh, Bắc Giang, Lào Cai. Gần đây một bộ ph
ận đã
chuyển vùng vào các tỉnh Tây Nguyên: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai, Kon

Vương đóng đô ở Cổ Loa, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội. Mặ
c dù
quốc gia Âu Lạc tồn tại không bao lâu, nhưng có vai trũ quan trọng trong lịch
sử hỡnh thành cộng đồng người Tày - sự liên minh ngày càng vững chắc của
các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam để cùng nhau xây dựng và
bảo vệ tổ quốc.
Từ xưa đến nay, cỏc cư dõn thuộc ngụn ngữ Tày - Thái đó giữ được vai
trũ rất quan trọng trong lịch sử miền Nam Trung Quốc và cỏc n
ước ở Đông
Nam Á. Những người Tày- Thỏi cổ đó góp phần sáng tạo nên nền văn húa
bản địa ở vựng này. Trong lỳc nhà Mạc gặp lúc khó khăn, đó chạy lờn Cao
Bằng một thời gian dài nờn một số cứ liệu cho rằng người Tày mang họ Ma,
sinh sống ở Cao Bằng, Lạng Sơn, chính là con cháu nhà Mạc ngày xưa. Mặt
khác, do người Tày cùng cư trú lâu đời với người Nùng và một s
ố lưu quan
người Kinh nờn việc giao lưu kinh tế, văn hóa, quan hệ hôn nhân giữa ba dân
tộc này diễn ra mạnh mẽ. Hệ quả là một số người Kinh bị đồng hóa thành
người Tày và ngược lại, tựy theo từng vựng.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
12

Khảo cứu nhiều dũng họ người Tày ở Châu Sơn cho thấy, nhiều dũng
họ người Tày tại đây có nguồn gốc khác nhau, có thể là người Tày cổ trước
đây, cũn gọi là người Thổ (cư dân bản địa đó sinh sống từ lõu đời), có thể là
Tày lưu quan (từ nơi khác lên làm quan và ở lại), cũng có thể là người Kinh từ
miền xuôi lên, người Hoa từ Trung Quốc sang, …Điề
u đó chứng tỏ rằng,
người Tày ở Châu Sơn ngày nay cú nhiều nguồn gốc và sinh sống hũa hợp.
Những người dân ở xó Chõu Sơn cho biết họ đó đến đây sinh sống được
khoảng 6 đời (tức là khoảng 300 năm cỏch ngày nay).

cấp bốn, nhà mái bằng, nhà cao tầng…
* Trang phục: Trong ngày thường cũng như lễ tết, trang phục truyền
thống của người Tày có màu xanh chàm, màu trắng chỉ dùng trong tang lễ. Họ
tự dệt vải, tự trồng cây chàm để chế thành thuốc nhuộm vải và tự cắt may
trang phụ
c của mình. Trang phục phụ nữ Tày kín đáo với quần (hoặc váy), áo
ngắn, áo dài, khăn đội đầu, thắt lưng và cùng các đồ trang sức bằng bạc, làm
nổi bật đường nét cơ thể, tạo dáng thanh gọn và đặc biệt làm tôn nước da
trắng của người phụ nữ, chiếc vòng bạc óng ánh đeo ở cổ, và vòng tay, xà tích
trên nền của màu chàm tạo nên nét độc đáo tinh tế duyên dáng của bộ y phục.
Trong cuố
n Văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu văn hóa
Ngô Đức Thịnh nhận xét rằng: “ Bộ nữ phục Tày mang vẻ đẹp thâm trầm,
mới đầu không gây cảm giác choáng ngợp, nhưng vẻ đẹp và nét độc đáo của
nó cứ dần dà thu hút sự chú ý, âm thầm chinh phục thờm mỹ của người chiêm
ngưỡng nó ”. Hiện nay ở nhiều vùng, người Tày không còn nhuộm chàm nữa
mà họ mua vải công nghiệp màu xanh để may trang phụ
c cho mình, phụ nữ
chỉ mặc trang phục truyền thống vào những dịp lễ tết trọng đại, ngày thường
họ thường dùng trang phục may bán sẵn như người Kinh. Đàn ông hầu như đã
không còn mặc trang phục truyền thống của người Tày là quần áo chàm mà
mặc theo người Kinh, chỉ còn rất ít những người tuổi cao là còn giữ bộ trang
phục truyền thống.
*Ẩm thực: người Tày chủ y
ếu ăn cơm tẻ. Hàng ngày, người Tày ăn
bốn bữa ăn: sớm, trưa, chiều, tối, trong đó bữa trưa và chiều là bữa ăn chính,
hai bữa còn lại gọi là ăn nhẹ, cũng có thể thêm bữa khuya. Lúa nếp cũng được
đồng bào chú ý cấy trồng để chế biến thành nhiều loại xôi, bánh khác nhau
dùng trong các dịp lễ tết. Các món ăn chế biến từ thịt lợn, gà, vịt, ngỗng,
ngan) và cá khá phong phú. Người Tày có nhiều kinh nghiệm trong việc chế

p là nguồn lương thực chính của đồng
bào, được thể hiện qua món cơm lam- cách nấu ăn cổ xưa nhất, nên ngày nay
nếp không thể thiếu được trong các nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng tâm linh,
lễ nghi nông nghiệp.
* Văn hóa xã hội
Hiện nay xó Chõu Sơn có 11 thôn, trong đó 3 thôn vùng cao với tổng
diện tích toàn xó là 97,277km
2
, tổng số 375 hộ dân với 1,675 nhân khẩu.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
15

Người Tày canh tác không gắn với những cánh đồng nên không cư trú tập
trung thành bản lớn mà thường chỉ vài ba chục nóc nhà. Thôn bản thường ở
sườn đồi, chân núi hoặc những bói bằng ở ven suối, và dọc theo đường Quốc
lộ 4b. Quanh nhà ở của người Tày thường trồng dăm ba loại cây như: lê, mận,
đào, cam, quýt…và những đám rau gia vị.
Trong thôn thường có nhiều họ khác nhau cùng sinh sống như họ Nông,
họ Lý, họ Hoàng, họ
Ló… Dự cựng họ hay khỏc họ, người dân bao giờ cũng
đoàn kết giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, đặc biệt là trong ma chay,
cưới xin. Mỗi thôn thường có một miếu thờ thổ công riêng được dựng ở đầu
thôn, dưới gốc cõy to. Trong thụn ở xó Chõu Sơn không có hội hiếu và hàng
phe như ở các huyện hoặc xó khỏc của Lạng Sơn. Tuy nhiên trong làng có
tang ma, hay cưới hỏi thỡ trong làng, thỡ mỗi gia đỡnh ph
ải cú một người đến
tham gia giúp đỡ dưới sự phân công của trưởng thụn. Đây chính là sợi dây
giúp từng nóc nhà sống trong thôn luôn đoàn kết, gắn bó hũa thuận với nhau.
Về quan hệ dũng họ của người Tày khỏ rừ ràng, đó là con cái luôn lấy
theo hộ bố tức là bên họ nội. Trong họ nội và họ ngoại cũn phõn biệt họ gần

* Văn hóa tinh thần
Ngôn ngữ: Người Tày thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái đã có quá trình
phát triển lâu dài. Do đó có vốn từ vựng phong phú và tương đối thống nhất
nên cho dù ở các địa phương khác nhau người Tày vẫn có thể nghe và hiểu
nhau dễ dàng.
Chữ viết của người Tày là chữ Nôm Tày. Theo các nhà nghiên cứu thì
chữ Nôm Tày được hình thành và phát triển gắn với quá trình truyền bá văn
hóa Hán từ ngườ
i Kinh vào khu vực người Tày, hưng thịnh nhất là vào
khoảng thế kỷ 17-18 với sự có mặt của quan quân nhà Mạc ở Cao Bằng …Vì
vậy có thể nói chữ Nôm Tày là một trong những sản phẩm thể hiện khá rõ đặc
điểm giao lưu văn hóa Kinh- Tày khu vực người Tày Việt Bắc’’. Chữ Nôm
Tày hiện nay được phổ biến trong các lĩnh vực tín ngưỡng tôn giáo.
Văn học- nghệ thuật : Văn học dân gian củ
a người Tày phong phú bao
gồm nhiều thể loại khác nhau như truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ, dân ca,
ca nghi lễ, ca dao, tục ngữ, thành ngữ…Kho tàng cổ tích Tày kể về các sự tích
trong cuộc sống, khuyên bảo con người nên ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, ít
đấu tranh. Kho tàng về truyện thơ và thơ ca nghi lễ của người Tày khá đặc
sắc, được sáng tạo từ ngàn xưa và lưu truyền từ đời này sang đời khác như
mộ
t báu vật tinh thần biểu hiện đời sống tâm hồn phong phú. Đối với người
Tày, “lượn, sli, hát pụt, hát then, văn than, văn tế, phong slư, quan lang, đồng
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
17

dao, hát ru…Nhiều như sao trên trời, ý tứ nhiều hơn nước chảy, đó là những
lời từ gió mà vọng ra thành tiếng, vọng vào núi, rền vào đá để dội vào lòng
người mọi buồn vui sướng khổ ở cõi người’’.
Lễ tết, hội hè : Trong năm người Tày có rất nhiều lễ tết, hội hè theo tiết

cho dù ở địa phương khác nhau. Những đặc điểm chung trên đây sẽ là tiền đề
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
18

để tỡm hiểu cỏc khớa cạnh trong văn hóa tinh thần của người Tày nói chung,
người Tày ở xó Chõu Sơn, huyện Đỡnh Lập, tỉnh Lạng Sơn nói riêng mà
trong đó tang ma là một biểu hiện cụ thể.
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
19

Chương 2
TANG MA CỦA NGƯỜI TÀY Ở XÃ CHÂU SƠN
2.1. Quan niệm của người Tày về cái chết
Con người sinh ra ai cũng phải theo quy luật sinh, lão, bệnh, tử, như
vậy mới hợp với lẽ trời. Con cái rất muốn cha mẹ sống trường thọ với cháu
con Nhưng đã là quy luật có ngày cha mẹ phải từ giã cõi trần để về miền cực
lạc Cũng bởi xuất phát từ quan niệm này nên khi
đã làm tròn bổn phận của
mình với cuộc đời, họ yên tâm thanh thản và chuẩn bị những điều cần thiết
cho mình ở cuộc sống bên kia thế giới. Đối với người Tày, khi cha mẹ bước
vào tuổi già (từ 50 trở lên) con cái thường chuẩn bị áo quan cho cha mẹ. Quan
tài phải được đóng cẩn thận. Khi định làm quan tài chủ nhà nhờ thầy chọn
ngày lành tháng tốt đối chiếu với ngày tháng năm sinh c
ủa bố mẹ của nhà chủ.
Khi đóng xong thường kê ở nhà kho, quy định rõ cái nào của bố cái nào của
mẹ, và tránh không được bán hay cho mượn. Người Tày quan niệm việc con
cháu lo hậu sự cho ông bà, cha mẹ là thể hiện sự hiếu thuận, hành động này
khiến ông bà cha mẹ yên tâm. Ngoài ra, ngay từ khi còn khỏe người Tày cũng
đã chọn cho mình một khu đất cao ráo như gò đồi, trước mắt có dòng suối,
cánh đồng, xa xa tầm mắt là ngọn núi, đồi có đỉnh nh

Người già trong nhà tuy vẫn khỏe mạnh nhưng con cái luôn chuẩn bị
một số thứ phũng khi cha mẹ qua đời, như chủ động trong công việc khâm
liệm ban đầu: 20m vải trắng dùng làm phượn (chăn, quần, áo, hài, mũ, khăn,
chiếu, cho người chết (nam bảy bộ, nữ chín bộ), giấy màu đỏ để dán quan tài,
giấy ngũ sắc làm nhà táng, để lót mâm cúng, giấy bả
n gấp làm tiền vàng rắc
đường đưa người chết đến mộ. Ngoài ra cũn chuẩn bị gà, lợn, rau xanh, gạo
nếp, gạo tẻ, để làm các lễ vật dâng cúng và dùng làm thủ tục trong đám tang.
Do điều kiện sống ở vựng hẻo lỏnh nếu gia đỡnh khụng chuẩn bị kịp thụn bản
cú thể giỳp nhau qua hỡnh thức cho vay khụng lấy lói, giả sử khi gia đỡnh cú
tang m
ượn hàng xúm, họ hàng con lợn năng 100kg nhưng 10 năm sau gia
đỡnh cho mượn cú việc cần dựng thỡ người mượn cũng chỉ phải trả như trước
không được tính lói mà cả hai bờn đều vui vẻ. Đây là một trong những nét
đẹp đáng trân trọng của cộng đồng người Tày ở xó Chõu Sơn.
Tỡnh làng nghĩa xúm ấm ỏp nhất thể hiện qua sự đoàn kết của hàng xóm
trong thôn. Khi gia đỡnh cú ng
ười chết, gia chủ báo cho trưởng thôn. Trưởng
thôn sẽ phân công cho người đến làm việc trực suốt ngày đêm, cắt cử bộ
phận phục vụ: sửa nhà chống đỡ nhà, lo củi nước, làm cơm cho gia đỡnh,
phục vụ thầy cỳng, làm nhà tỏng, đào huyệt, khiờng quan tài, đắp mộ…
Khóa luận tốt nghiệp Sinh viên: Nông Thị Linh
21

Người nào được phân công nhiệm vụ gỡ thỡ theo đó mà nghiờm tỳc thực
hiện, khụng ai trốn trỏnh khụng chấp nhận vắng mặt với bất kỳ lý do nào.
Đón thầy cỳng: Đối với người Tày ở xó Chõu Sơn, khi gia đỡnh cú
người tắt thở, trong nhà cử người đi mời thầy Tào về chủ trỡ thực hiện cỏc
nghi lễ trong đám tang. Gia đỡnh ph
ải có nén hương đến nhà thầy, đứng trước


thiờng liờng của hạt gạo, tua bụng đầu đũa thể hiện mây trời (dương), quả
trứng có đủ cả âm dương. Ngoài ý nghĩa sõu sắc trờn việc dõng cỳng bỏt cơm
quả trứng đối với đồng bào Tày ở xó Chõu Sơn cũn cú ý nghĩa bỡnh dị hơn
nhưng cũng rất nhân văn đó là bát cơm như gói lèng, đồng bào thường ngày
đi làm xa vẫn gói lèng mang theo như vậ
y.
Sau đó họ đun một nồi nước lá thơm (lá đào, lá bưởi) để rửa mặt và lau
mỡnh cho người chết (vuốt mắt nhắm lại), với ý nghĩa tẩy sạch bụi trần để về
với cừi tiờn. Đồng bào cho rằng tắm rửa bằng lá thơm vừa có ý nghĩa tẩy uế,
vừa làm cho linh hồn người chết được thơm tho mát mẻ. Sau khi tắm cho
người chết xong, đưa xuống đặt tại chiếc chiếu mới trải dưới nền nhà và thay
quần áo mới chuẩn bị tư thế ngay ngắn để về với tổ tiên, nếu là nam thỡ mặc
bảy bộ, nữ chớn bộ, trải tóc sửa râu, đi găng tay, đi hài… Kộo chõn thẳng,
buộc hai ngón chân cái lại, kéo tay thẳng và đặt bàn tay lên bụng, trong mỗi
bàn tay đặt một đồng tiền, b
ỏ vào miệng một đồng bạc để làm lộ phí cho
người chết và buộc người chết phải ăn nói thận trọng, khụng núi những gỡ cú
hại đến con chỏu.
Sau đó họ lấy vải trắng để lót và đắp cho người chết gọi là lồng phượn
theo quy tắc: Con dâu cả (phượn chang rườn) dài 4 mét khổ nhỏ gấp thành hai
phần không đều nhau để lót dưới lưng người ch
ết, mặt vải ngắn sẽ chạm cổ,
cũn mảnh dọc theo lưng qua đầu gập lại che mặt. Tiếp theo là đến các con dâu
thứ nhưng chỉ cần đắp đến cổ. Đắp một chiếc chăn nền đen có hoa lên người
và cuộn người kín lại, dùng dây vải trắng bắt đầu buộc bắt đầu từ cổ chân cho
tới vai là năm nút. Sau đó đến bên ngoại củ
a người chết đắp một tấm phượn,
cuối cựng là con gái, các cháu, người thân đắp phượn cho đủ nam 7 tấm, nữ 9
tấm Việc làm này thể hiện sự đền ơn người đó sinh thành và nuụi dưỡng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status