1
Xã Chiềng Mung là một xã miền núi, thuộc huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La
có địa hình chủ yếu là đồi núi xen kẽ và núi đá vôi. Khí hậu nhiệt đới gió mùa
đặc trưng, có độ ẩm cao. Đây chính là những điều kiện thuận lợi cho các loài
Lưỡng cư sinh sống (đặc biệt là ở các khe suối, trong rừng sâu và đồng ruộng ).
Lưỡng cư có giá trị khoa học, thẩm mỹ, thực phẩm, dược liệu, có vai trò
nhất định trong các hệ sinh thái. Trong nông nghiệp chúng là những loài vật hữu
ích do có khả năng tiêu diệt các vật chủ trung gian gây bệnh cho con người và
vật nuôi cũng như tiêu diệt sâu bọ phá hoại mùa màng. Nhiều loài Lưỡng cư
được dùng làm thực phẩm như ếch đồng, ngóe, chẫu, ếch cây nhiều loài thuộc
họ Cóc được dùng làm dược liệu. Nhiều loài Lưỡng cư được dùng làm mẫu đối
chứng để nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm ở các trường đại học, cao đẳng
và THPT Chính vì mang lại rất nhiều lợi ích cho con người nên người dân đã
khai thác, săn bắt một cách tràn lan không có ý thức bảo vệ, bảo tồn và phát
triển chúng. Ngoài ra do công cuộc cải tạo xây dựng nông thôn, phát triển công
nghiệp, mở rộng đường xá cầu cống vv đã làm cho số lượng cũng như thành
phần loài của lớp Lưỡng cư ngày càng giảm, một số loài có nguy cơ tuyệt
chủng.
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về Lưỡng cư ở khu vực Tây
Bắc. Tuy nhiên số lượng chưa nhiều, số lượng loài đóng góp cho khoa học còn
ít, chưa có tài liệu nào thống kê về thành phần loài Lưỡng cư ở khu vực này.
Hơn nữa tình trạng khai thác và buôn bán diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nơi làm cho
số lượng loài có thể bị suy giảm.
Vì vậy việc nghiên cứu thành phần loài và các đặc điểm sinh học - sinh thái
của các động vật nói chung và Lưỡng cư nói riêng cho vùng là cần thiết, góp phần
bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các loài quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, định
hướng cho việc khai thác sử dụng tài nguyên một cách hợp lí hơn. Bổ sung và cung
(1965), Đỗ Tước (1969), Nguyễn Văn Sáng (1967),
[1]
- Sau khi đất nước thống nhất các công trình nghiên cứu được tiến hành trên
diện rộng. Không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu phân loại mà còn mở rộng sang
lĩnh vực sinh thái và chăn nuôi ứng dụng.
Năm 1981, Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc đã
. Nguyễn Sáng và cộng
sự (1995, 2000, 2002)
Ba Vì,
Giang,
[1]
Những nghiên cứu về mặt sinh thái học cũng được tiến hành ở nhiều đối
tượng Lưỡng cư khác nhau: Ngô Đắc Chứng (1991)
nhà trong ; Nguyễn Kim Tiến (1997 -1999)
Lê Nguyên Ngật và
Đoàn Thị Phương Lý (2000) về o,
[1]
Hiện nay việc nghiên cứu Lưỡng cư vẫn được tiến hành trên diện rộng và
theo nhiều xu hướng khác nhau, làm dẫn liệu cơ sở cho việc phát hiện và bảo vệ
các loài Lưỡng cư quý hiếm.
2.2. Tình hKVNC
Động vật rừng nói chung, Lưỡng cư nói riêng của tỉnh Sơn La chưa được
nghiên cứu nhiều. Điểm lại lịch sử nghiên cứu có một số công trình nghiên cứu 3
sau: Trước năm 1975 chưa có công trình nghiên cứu nào về Bò sát Lưỡng cư ở
Sơn la. Sau năm 1975 với mục đích nghiên cứu tìm hiểu về khu hệ thằn lằn ở Việt
Nam, cán bộ Viện hình thái tiến hóa và sinh thái động vật của Liên Xô (cũ) phối
hợp với cán bộ Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật của Việt Nam trong hai năm
.
Năm 2003, tham gia dự án: “Đánh giá bổ sung điều chỉnh dự án đầu tư
khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp tỉnh Sơn La về chuyên đề động vật rừng” tác
giả Phạm Nhật và Đỗ Tước đã tiến hành khảo sát từ ngày 24/10 đến ngày 15/11
thống kê được 66 loài thú, 226 loài chim, 34 loài bò sát và 14 loài ếch nhái
[5]
.
Năm 2006, trong đề tài “Góp phần nghiên cứu Lưỡng cư (Amphibia) khu
vực thị trấn Thuận Châu và các xã lân cận” của tác giả Vũ Xuân Dương, đã thu
được 83 mẫu vật của 17 loài Lưỡng cư
[5]
.
Năm 2010, đề tài của Hà Thị Ban, Phạm Thị Hà, Lê Tuấn Vũ đã thống kê
được ở khu vực xã Chiềng Ngần, TP Sơn La có 9 loài thuộc 6 giống, 4 họ của
bộ Lưỡng cư Không đuôi
[2]
. 4
Năm 2012, luận văn tốt nghiệp của Đỗ Trung Kiên đã thống kê được ở
khu bảo tồn thiên nhiên Copia, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La có 33 loài
Lưỡng cư thuộc 17 giống, 5 họ của bộ Lưỡng cư Không đuôi
[2]
. Tại khu vực xã
Tường Thượng, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Bùi Thị Luyến và Đinh Văn Lâm
đã tiến hành nghiên cứu và thống kê được có 10 loài Lưỡng cư thuộc bộ Lưỡng
cư Không đuôi
[10]
.
41'30 đến 104
0
16' kinh độ đông.
Phía Bắc giáp huyện Thuận Châu, thành phố Sơn La và huyện Mường La.
Phía Đông giáp huyện Bắc Yên và huyện Yên Châu.
Phía Tây giáp huyện Sông Mã.
Phía Nam giáp tỉnh Hủa Phăn của Lào với đường biên giới dài 8 km.
5
Chiềng Mung là một xã nghèo thuộc huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Phía Bắc giáp Thành phố Sơn La.
Phía Đông giáp xã Mường Bằng và Mường Bon.
Phía Nam giáp với xã Chiềng Mai và thị trấn Hát Lót.
Phía Tây giáp xã Chiềng Ban và xã Chiềng Mai. 6
7
4.2
Xã Chiềng Mung có địa hình tương đối cao, bị chia cắt phức tạp bởi
một số núi đá vôi xen lẫn đồi, thung lũng, lòng chảo và cao nguyên. Độ cao
trung bình so với mực nước biển từ 700 - 800m, xen vào đó là đồng ruộng
trồng lúa nước và trồng rau. Ngoài ra còn có nhiều khe suối vừa và nhỏ.
Những điều kiện địa hình như trên hứa hẹn mức độ phong phú về thành phần
loài Lưỡng cư ở khu vực nghiên cứu.
Số người đang trong độ tuổi lao động 5.665 chiếm 60,45% tổng số dân
trong toàn xã, trình độ dân trí còn thấp, số lao động thiếu việc làm còn khá cao. 8
Xã Chiềng Mung có trung tâm xã là trung tâm hành
chính kinh tế - văn hoá - giáo dục - y tế ngoài ra trên địa bàn xã còn nằm dọc
theo quộc lộ 6, quốc lộ 4G và đường liên xã Chiềng Mung - Hát Lót thuận tiện
cho việc đi lại giao lưu hàng hoá. Có sân bay Nà Sản và các đơn vị cơ quan của
Trung ương, tỉnh, huyện, doanh nghiệp đóng trên địa bàn xã thuận tiện cho việc
trao đổi hàng hoá, tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến và thu hút
các vốn đầu tư của các tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên sản xuất chủ yếu là nông
nghiệp hệ thống các công trình cơ sở hạ tầng đang được đầu tư song tốc độ còn
chậm, tỷ lệ nghèo còn cao.
Từ những điều kiện tự nhiên như nóng ẩm, mưa nhiều, thảm thực vật
phong phú, có nhiều sinh cảnh và nhiều địa hình khác nhau, do đó thành phần
loài Lưỡng cư ở đây sẽ khá đa dạng và phong phú.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các loài Lưỡng cư (Amphibia) tại
khu vực xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Tổng thời gian nghiên cứu: 07 tháng (từ tháng 10/2012 đến tháng 04/2013).
+ Từ tháng 10/2012 đến tháng 12/2012: lập đề cương, sưu tầm và nghiên
cứu tài liệu có liên quan đến đề tài. Tiến hành thu mẫu và xử lí mẫu, chia làm
các đợt:
- Đợt 1: tháng 10/2012- Khảo sát địa hình, tiến hành thu mẫu.
- Đợt 2: tháng 10 - 12/2012 - Thu mẫu, xử lý và phân tích mẫu.
+ Từ tháng 12/2012- 02/2013: tiếp tục thu mẫu, xử lý, mô tả và định loại
+ Địa điểm: thu ở tất cả các sinh cảnh khác nhau trong KVNC.
+ Dụng cụ: vợt, đèn pin, túi vải, foocmon, giấy, bút chì, sổ nhật ký thực địa
và một số tranh ảnh về Lưỡng cư…
*
+ Điều tra qua dân địa phương:
- Do Lưỡng cư thường xuyên bị săn bắt nên công tác điều tra sẽ giúp ích cho
quá trình thực hiện khóa luận.
- Đối tượng điều tra: dân hay đi rừng, những người dân hay đi soi bắt Ếch
nhái.
- Việc điều tra cần linh hoạt, chuẩn bị kỹ lưỡng: phiếu, câu hỏi, bộ ảnh mẫu.
+ Thu mẫu theo nguyên tắc:
- Thu tất cả các loài bắt gặp, số mẫu phải thích đáng, thu với số lượng nhiều
các loài lạ.
- Thu mẫu với tất cả các phương tiện thích hợp.
- Mẫu phải đồng nhất.
+ Cách thu mẫu
- Tiến hành nhiều đợt đi thu mẫu trong năm. Đặc biệt trong mùa mưa tần số
đi thu mẫu nhiều hơn. Mỗi đợt có thể đi một mình hoặc có 1 hoặc 2 người đi
cùng (có thể là bạn bè, người thân hoặc nhờ người dân địa phương đi cùng).
- Thu mẫu nhiều lần ở các địa điểm dự đoán sẽ có số lượng loài phong phú. Ở
những địa điểm có sinh cảnh giống nhau chỉ cần thu ở mỗi địa điểm 1-2 lần.
- Một số mẫu có thể thu mua ở chợ hoặc qua bạn bè, người quen. 10
*
- Quan sát những đặc điểm hình thái ngoài và hoạt động sống của Lưỡng cư
không đuôi.
- Ghi chép các thông tin cần thiết như: giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm, sinh
cảnh của mẫu. 11
L: Dài thân, từ mút mõm đến huyệt.
Lc: dài đầu từ mút mõm đến chẩm.
Lr: Dài mõm, khoảng cách từ mút
mõm đến bờ trước của mắt.
in: Gian mũi, khoảng cách bờ trong
hai lỗ mũi.
Do: Đường kính mắt, bề dài lớn nhất
của ổ mắt.
Lp: Rộng mi mắt trên, bề rộng nhất
của mi mắt trên.
Sp.p: Gian mi mắt, khoảng cách bé
nhất giữa 2 bờ trong mi mắt trên.
L.tym: Dài màng nhĩ, bề dài lớn nhất
của màng nhĩ.
F: Dài đùi, từ huyệt đến khớp gối.
Lt: Rộng ống chân, bề rộng nhất của
ống chân.
L.ta: Dài cổ chân, từ khớp ống cổ đến
khớp cổ bàn.
C.int: Dài củ bàn trong.
L.orI: Dài ngón chân I, từ bờ ngoài củ
bàn trong đến mút ngón I
Hình 2.
[1]
I: Theo Bourret: A: Lưỡi nhọn phía sau; B: Lưỡi tròn phía sau; C: Lưỡi xẻ phía sau.
II. Theo Manthey U. & Grossmann W.
III. Theo Manthey U. & Grossmann W.
rất thay đổi, thường có gốc gắn với phần trước thềm miệng và mút tự
do ở phần sau thềm miệng (họ Ếch); mút có thể hình tròn (cóc núi) hay thuôn
nhỏ (Cóc nước) hoặc tù đầu không chẻ đôi (Ếch). Toàn bộ lưỡi có hình tròn đính
vào thềm miệng như cái nấm (Nhái bén).
răng lá mía xếp thành hai hàng hình chữ V ở khẩu cái gần lỗ mũi
trong (Lỗ khoan) với vị trí thay đổi, răng có thể cách xa lỗ mũi (Nhái bén), có
thể giáp lỗ mũi (Ếch), cũng như có thể thiếu (cóc nước). Răng hàm trên thường
hình nón (ếch), nhưng đôi khi hình cầu (Cóc giáp), cũng có khi thiếu (Cóc nhà).
có thể lồi hay không lồi. Gọi là lồi khi nhìn từ trên xuống đường nét mí
trên không vượt khỏi bờ hàm trên (Ếch cây). Lỗ mắt có hình dạng khác nhau,
thường là hình tròn (đa số loài), đôi khi có hình tam giác (Cóc tía), hoặc hình
bầu dục thẳng đứng (Cóc mắt) hay bầu dụ nằm ngang (Nhái bầu vạch). Khoảng
gian ổ mắt có thể rộng hay hẹp so với bề rộng mí trên, và có thể lõm hay phồng. 14
thường rõ ràng, nhưng cũng có khi không rõ hoặc thiếu (vài loài
Nhái cây, Ếch nhẽo). Đường kính màng nhĩ so với đường kính mắt và khoảng
cách màng nhĩ với mút mõm là đặc điểm phân loại.
gồm tuyến mang tai tức khối ở trên màng nhĩ và những gờ
xương mà tên gọi tùy theo vị trí trên đầu. Ngoài ra, còn có thể có mấu bì trên mí mắt
(vài loài Cóc mày), nếp da trên thái dương, hoặc nếp da ngang sau mắt (Ếch gai).
THÂN
thân hay dùng trong phân loại là bề dài đo từ mút mõm tới hậu
môn và bề rộng bụng đo phía dưới xương mỏ ác.
Da: da trần thường nhẵn (Chàng hiu), có thể nháp hay có những nốt sần cỡ
lớn và hình dạng khác nhau. Ta phân biệt các loại: hạt tức nốt nhỏ hình tròn
(Nhái bầu vạch), nốt ruồi tức nốt lớn hình tròn hay hình bầu dục không cao (Ếch
cóc), củ tức nốt sần nổi cao và gai tức nốt sần dài và nhọn (Ếch gai). Da còn nếp
da dọc bên thân (nhiều loại Chàng) hoặc nhiều nếp da ngắn, gián đoạn (Ếch
, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng
Trường, Nguyễn Vũ Khôi
[13; 14]
; đối chiếu với các tập ảnh về Lưỡng cư; các mẫu
thu đã được kiểm định từ những đề tài nghiên cứu trước đây của các chuyên gia
và các đề tài nghiên cứu của trường Đại học Tây Bắc để có những kết quả đáng
tin cậy.
+ Tổng số 57 mẫu Lưỡng cư Không đuôi thu thập được tại KVNC.
+ Các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
+ Các phiếu điều tra, phỏng vấn nhân dân địa phương.
+ Sổ nhật ký ghi chép và ảnh chụp mẫu vật trên thực địa.
9
+ Đề tài hoàn thành sẽ góp phần thống kê thành phần loài Lưỡng cư ở khu
vực xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nói riêng và khu vực tỉnh
Sơn La nói chung.
+ Làm phong phú thêm số mẫu vật Lưỡng cư trong phòng thực hành khoa
Sinh - Hóa, Trường Đại học Tây Bắc.
+ Đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo. 16
1. Danh sách
Sau khi tiến hành nghiên cứu thực địa, kết hợp quan sát và tìm hiểu qua nhân
dân địa phương tại KVNC, chúng tôi đã phân tích 57 mẫu cùng với nhiều ảnh chụp
mẫu. Kết quả nghiên cứu đã thống kê được thành phần loài Lưỡng cư ở KVNC có 12
loài thuộc 9 giống, 5 họ của bộ Lưỡng cư Không đuôi hiện hữu ở Việt Nam.
Ếch đồng
04
05
Rana guentheri (Boulenger, 1882)
Chẫu
03
06
Rana nigrovittata (Blyth, 1856)
Ếch suối
02
07
Limnonectes kuhlii (Tschedi,1838)
Ếch trơn
04
08
Limnonectes limnocharis (Boie, 1834)
Ngóe
11
09
Odorrana bacboensis (Bain, Lathrop,
Muphy, Orlov and Ho, 2003)
Ếch bắc bộ
02
RHACOPHORIDAE - HỌ ẾCH CÂY
10
Polypedates leucomystax
(Granvenhorst, 1829)
Chẫu chàng
mép trắng
Loài
thông
%
thông
%
01
Bufodae
Họ cóc
1
11,11
Bufo
Giống cóc
01
8,33
02
Megophryidae
Họ cóc
bùn
2
22,22
4
44,45
Hoplobatrachus
Giống ếch
đồng
01
8,33
Rana
Giống ếch
nhái
02
16,67
Limnonectes
Giống ếch
rừng
02
16,67
Odorrana
Giống
Odorrana
* Qua bảng 1 và 2 có thể nhận xét về thành phần loài Lưỡng cư ở
KVNC như sau:
Trong 3 bộ Lưỡng cư (bộ Không đuôi, bộ Không chân, bộ Có chân) có
mặt ở Việt Nam thì ở KVNC chỉ phát hiện các loài thuộc một bộ đó là bộ Lưỡng
cư Không đuôi (Anura).
Trong 5 họ tìm được ở KVNC thì họ Ếch nhái có nhiều
giống nhất với 4 giống (giống Ếch đồng, giống Ếch rừng, giống Ếch nhái và
giống Odorrana) chiếm 44,45%; họ Cóc bùn có 2 giống (giống Cóc mày và
giống Cóc mắt) chiếm 22,22%; 3 họ còn lại mỗi họ chỉ có 1 giống chiếm khoảng
11,11%. 18
Trong 9 giống tìm được ở KVNC thì có 3 giống đa loài,
6 giống đơn loài. 3 giống (giống Ếch rừng, giống Ếch nhái, giống Nhái bầu) mỗi
giống có 2 loài, mỗi loài chiếm 16,67%. 6 giống đơn loài (giống Cóc, giống Cóc
mày, Giống Cóc mắt, giống Ếch đồng, giống Ếch cây, giống Odorrana) mỗi
giống chiếm 8,33%.
Trong 12 loài tìm được ở KVNC thì họ Ếch nhái
(Ranidae) có số lượng loài nhiều nhất với 6 loài chiếm 50%. Tiếp đến là họ Nhái
bầu (Mycrohylidae) với 2 loài chiếm 16,67%. Họ Cóc, họ Cóc bùn và họ Ếch
cây mỗi họ chỉ có 1 loài chiếm 8,33%.
Trong khóa luận chúng tôi tiến hành so sánh thành phần loài Lưỡng cư ở
KVNC với một số khu vực khác ở tỉnh Sơn La là: Xã Tường thượng - Phù Yên
- Sơn La
[10]
. Xã Chiềng Khoi - Yên Châu - Sơn La
Xã Chiềng Khoi, Yên Châu, Sơn La
3.120
7
3
TT Thuận Châu, Thuận Châu, Sơn La
1.535
17
4
Xã Chiềng Ngần, TP. Sơn La, Sơn La
4.584
9
5
Khu bảo tồn thiên nhiên Copia, Thuận
Châu, Sơn La
19.457,7
33
6
Xã Chiềng Mung, Mai Sơn, Sơn La
3.610
12
+
2
Megophrys lateralis
Cóc mắt bên
+
+
3
Bufo melanostictus
Cóc nhà
+
+
+
+
4
Hoplobatrachus rugulosus
Ếch đồng
+
+
+
+
5
Rana guentheri
Chẫu
+
+
+
+
6
trắng
+
+
+
+
11
Microhyla ornate
Nhái bầu hoa
+
+
12
Microhyla pulchra
Nhái bầu vân
+
+
+
Ghi chú- Phù Yên -
- -
- -
- -
Qua bảng 4 ta thấy:
Trong 12 loài Lưỡng cư tìm thấy ở KVNC thi có 06 loài đều tìm thấy ở
các khu vực lân cận khác của tỉnh Sơn La, đó là các loài: Bufo melanostictus, 20
21
C 2.
1. ác loài
1.1.
Trong KVNC có 05 họ phân biệt như sau:
1(4). Không có răng hàm trên.
2(3). Da trơn, nhẵn.
Họ Nhái bầu - Mycrohylidae
3(2). Da khô, nổi nhiều nốt sần.
Họ Cóc - Bufonidae
4(1). Có răng hàm trên.
5(6). Lưỡi không khuyết mạnh ở phía sau.
Họ cóc bùn – Megophryidae
6(5). Lưỡi khuyết mạnh ở phía sau.
7(8). Không có đĩa sụn trung gian giữa hai đốt cuối ngón chân.
Họ Ếch nhái - Ranidae
8(7). Có đĩa sụn trung gian giữa hai đốt cuối bàn chân.
Họ Ếch cây – Rhacophoryidae
3(2). Mõm nhọn, bàn chân có màng hoàn toàn.
Chẫu - R. Guentheri
4(1). Không có nếp da bên lưng.
5(6). Bên hông nổi nhiều nốt sần to, da ráp.
6(5). Bên lưng nổi sần nhỏ dạng hạt, da ít ráp hơn.
Ếch bắc bộ - O. Bacboensis
7(10). Có nhiều nếp gấp da lưng ngắn, gián đoạn.
8(9). Bàn chân có màng hoàn toàn.
Ếch đồng - H. ugulosus
9(8). Bàn chân 3/5 có màng, có củ cạnh bàn chân.
Ngóe - L. limnocharis
10(7). Không có các nếp gấp da lưng.
Ếch trơn - L. Kuhlii
Sâu non, Nhện, Giun đất, Cuốn chiếu, Ruồi, Muỗi, Cóc cũng như các loài
lưỡng cư khác bắt mồi bằng lưỡi.
Cóc đẻ nhiều lứa trong năm, mùa sinh sản thay đổi theo từng vùng
từ tháng 11 đến tháng 6, rộ nhất vào mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 6). Trứng
được đẻ trong nước thành dải dài với hàng trứng màu đen trong chất keo của dải.
Sau 3 ngày trứng nở thành nòng nọc màu đen. Nòng nọc phát triển qua giai đoạn
biến thái phức tạp rồi lên cạn. 24
Cóc được sử dụng làm thực phẩm, thịt cóc ngon, bổ. Bột
cóc là thuốc chữa còi xương, đồng thời là thuốc bổ cho các em nhỏ. Mủ cóc là
một loại dược liệu quý. Cần lưu ý khi chế biến thịt cóc là cần loại bỏ da thật kỹ
do trên da có các tuyến độc chứa chất độc có hại cho con người.
2.2. Leptobrachium chapaense (Bourret, 1937)
Cóc mày sa pa (tiếng Việt).
Chapa spadefoot toad.
02 mẫu.
Bản Hản, Nà Hạ 2 thuộc KVNC.
Kích thước cơ thể trung bình, trên màng nhĩ có nếp da
nâu – sẫm. Đầu, lưng và phía trên các chi màu nâu tím. Bụng, bên dưới các chi
có mầu nâu với nhiều mụn nhỏ; mút các ngón trắng, không có đĩa bám. Chi
trước: ngón IV ≤ II < I < III, hai củ bàn to, xếp xít nhau. Chi sau: màng da 1/4 .
K
L = 27 - 39; Lc = 9 - 11; Ic = 10 - 13; Lr = 3 - 4; in = 3 - 4; Do = 3 - 4; Lp = 2,5
- 3; Sp.p = 3,5 - 4; F = 13 - 16; T = 12 - 17; LT = 3 - 4; L.ta = 8 - 9; C.int = 1 –
1,5; L.orI = 3 - 4; L.meta = 12 - 14.
Cóc mày sa pa thường sống trên các cây ven suối, đặc biệt là ven
các con suối có ít nước hoặc ít ghềnh thác.
Chúng kiếm ăn vào ban đêm, thức ăn là các loài côn
rõ ràng (dài màng nhĩ L.tym = 5-7mm). Màng da chân hoàn toàn; mút các ngón
tay và chân không có đĩa bám.
K
L = 43 - 82; Lc = 10 - 26; Ic = 16 - 31; Lr = 6,5 - 13; in = 2 - 4; Do = 5 - 7; Lp =
2,5 - 5; Sp.p = 3 - 4; F = 3 - 5; T = 13 - 40; LT = 13,5 - 41; L.ta = 6 – 14; L.ta =
12 - 24; C.int = 3 – 3,5; L.orI = 4 - 9; L.meta = 22 - 37.
Ếch đồng thường sống ở những nơi có nước (ruộng lúa nước, bờ
ao, hồ, các sông suối, ).
Ếch đồng cũng như các loài lưỡng cư khác thường có
một khoảng thời gian ngủ đông nhất định. Thức ăn chủ yếu là các loài côn trùng
và một số loài giun.
Ếch đồng thường sinh sản vào khoảng từ tháng 3 đến tháng 7. Ếch
đẻ 2 – 3 lứa một năm, mỗi lứa đẻ từ 1500 đến 2500 trứng. Trứng đẻ thành từng
đám nổi trên mặt nước. Trứng nở thành nòng nọc sau khoảng 8 tiếng sau khi đẻ.
Nòng nọc phát triển qua giai đoạn biến thái phức tạp để thành ếch con rồi lên
cạn.
Ếch đồng được dùng làm thực phẩm, hiện nay rất nhiều hộ
gia đình tiến hành nuôi Ếch đồng để phục vụ thị trường trong và ngoài nước.
Ngoài ra Ếch đồng là thiên địch của nhiều loài sâu bọ có hại trong nông nghiệp.
2.5. Limnonectes kuhlii (Tschudi, 1838)
Ếch trơn (tiếng Việt), tồ cốp mứn (tiếng Thái).
Ruhl’ screek frog, big-headeg frog.
04 mẫu.
Cừ Nhừn, Na Kẹ, Bản Đúc, Bản Xum 1.
Ếch trơn là loài ếch khá phổ biến ở vùng rừng núi, có
kích cỡ trung bình. Đầu rất rộng, đặc biệt ở con đực phồng ở vùng chẩm và có
hai răng nanh ở phía hàm dưới, đây là đặc điểm nhận dạng giữa cá thể đực và cá