class="bi x0 y0 w1 h1" MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Giới hạn của vấn đề 9
4. Phương pháp nghiên cứu 11
5. Đóng góp của luận văn 12
6. Cấu trúc của luận văn 12
Chương 1: VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ NHỮNG THÀNH TỰU CHỦ
YẾU CỦA TIỂU THUYẾT NAM BỘ TỪ 1930 ĐẾN 1945
1.1. Văn hóa, xã hội Nam Bộ từ 1930 đến 1945 14
1.1.1. Tình hình kinh tế và chính trị 14
1.1.2. Tình hình giáo dục và văn hóa 17
1.1.3. Tình hình xuất bản và giải trí 20
1.1.4. Sự phân hóa của tầng lớp trí thức và đội ngũ cầm bút 26
1.2. Những thành tựu của tiểu thuyết Nam Bộ từ 1930 đến 1945 30
1.2.1. Vài nét về những thành tựu chủ yếu của tiểu thuyết Nam Bộ trước
1930 30
1.2.2. Những thành tựu chủ yếu của tiểu thuyết nam bộ từ 1930 đến 1945 39
§ Tiểu kết 56
Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO -
ĐẶC ĐIỂM VÀ THÀNH TỰU
2.1. Cảm hứng đạo lí 59
2.2. Cảm hứng phê phán 73
2.3. Cảm hứng lịch sử và dân tộc 80
2.4. Cảm hứng về tình yêu 89
§ Tiểu kết 102
đọc nghĩ ngay đến các nhân vật văn học: Chí Phèo, Lão Hạc, Thứ. Nhắc đến
Vũ Trọng Phụng người ta nghĩ ngay đến Xuân Tóc Đỏ, Nghị Hách. Nhân vật
văn học vừa mang chức năng xã hội, vừa phải làm tròn chức năng văn học
của nó. Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống
con người, thể hiện những hiểu biết, ao ước và kỳ vọng về con người. Chính
vì thế, thành công trong công cuộc xây dựng nhân vật chính là sự thành công
của tác phẩm văn học.
Nhìn chung tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn này sử dụng các phương thức xây
dựng nhân vật chủ yếu sau đây: xây dựng nhân vật thông qua miêu tả ngoại
hình, qua miêu tả hanh động, qua miêu tả độc thoại nội tâm của nhân vật.
Việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật sẽ giúp nhà văn dễ thành công trong công
việc xây dựng hình tượng nhân vật. Nhân vật, vì thế trở nên sống động và trở
nên gần gũi với đời sống, tạo nên sự hấp dẫn cho người đọc.
3.1.1. Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình và hành động
Các nhà văn Nam Bộ khi xây dựng, giới thiệu nhân vật trong tiểu thuyết
thường dùng phương pháp miêu tả ngoại hình. Nhân vật được nhận biết trước
hết qua diện mạo, cử chỉ, sắc phục, điệu đi tướng đứng. Thông qua diện mạo
bên ngoài, người đọc dễ dàng nhận biết được phần nào về tính cách, thành
phần xuất thân và số phận của nhân vật. Chỉ vài ba nét đơn sơ, dăm ba hàng
thật linh động, các tác giả đã có thể phác họa nên một chân dung thích hợp
cho mỗi vai.
Đây là hình ảnh một thiếu nữ Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh: “Cô
Xuân Hương ở nhà một mình, cô đốc phách gia dịch đứa vô phân mấy bình
bông, đứa làm cỏ ngoài sau vườn. Cô mặc áo lụa trắng, quần lãnh đen, đầu gở
sơ, chơn mang guốc, tai đeo một đôi bông lớn, tay trái đeo một chiếc vàng
nhận hột xoàn, cô không trang điểm, không dồi phấn thoa son, mà vì cô có
sắc sẵn, cô lại có duyên ngầm, tướng đi dịu dàng, gương mặt sáng rỡ bởi vậy
ai thấy cô cũng đều trầm trồ khen thầm là gái đẹp” (Một đời tài sắc, nhà in
Đức Lưu Phương, Sài Gòn, 1935, tr. 31). Qua một số dòng miêu tả, tác giả đã
vẽ lên chân dung của nhân vật. Xuân Hương là hình ảnh thiếu nữ Nam Bộ
nhà ấy có một thanh niên trạc chừng mười tám tuổi, xem diện mạo tỏ ra một
người phong tuấn dật, cốt cách phi thường, sống mũi thẳng mà cao, tròng mắt
lonh lanh, hiện ra mấy ánh hào quang chói sáng, trán cao mày rậm, mặt trắng
môi hồng, hình dạng chắc chắn khôi ngô xem ra có vẻ anh hùng khí tượng,
thật là một tướng mạo đường hoàng, dung nghi tề chỉnh. Đầu bịt một khăn
vàng, mình mặc một cái vỏ bào trắng, chơn mang một đôi võ hài đen, chói ra
nhấm nháp” (Gia Long tẩu quốc, nhà in Xưa Nay, Sài Gòn, 1930, tr. 3). Vua
Gia Long được miêu tả vừa có những nét tướng mạo của chân mạng đế
vương, phi thường vừa có nét của con người bình thường.
Cách xây dựng nhân vật thông qua miêu tả loại hình của nhân vật không phải
là mới. Thủ pháp này được thể hiện khá phổ biến trong văn học thời kỳ trung
đại. Các nhà văn Nam Bộ khi sử dụng thủ pháp này đã có nhiều cách tân
đáng kể. Nếu như trong văn học cổ việc miêu tả nhân vật thông qua ngoại
hình với những chi tiết có tính ước lệ, thể hiện tính cách phi phàm của nhân
vật thì trong tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn này đã đổi khác. Các chi tiết bình
thường nhỏ nhặt làm nên hình hài và tính cách nhân vật được nhà văn chú
trọng. Nhân vật được miêu tả từ nhiều yếu tố nhỉ như: mái tóc, hàm răng,
điệu cười, ánh mắt, tướng đị, quần áo, trang sức cùng những cử chỉ nhỏ nhặt
của một con người bình thường. Do vậy, nhân vật trong tiểu thuyết đã thoát
khỏi tính ước lệ kiểu “Râu hùm hàm én mày ngài, Vai năm tấc rộng thân
mười thước cao” (Truyện Kiều) để trở về với khuôn mẫu của cuộc đời thực.
Các nhân vật được nhà văn miêu tả thực như những con người đang hiện diện
đâu đó trong cuộc sống. Chẳng Bửu Đình đã miêu tả Kiều Tiên (Mảnh trăng
thu) như sau: “Một người đàn bà trạc chừng hai mươi ba, hai mươi bốn,
khuôn mặt tròn, khóe mắt rất đen, mà trong sáng long lanh, mũi nhỏ ngay
thẳng như nét kẻ, hai má hơi tóp, miệng nhỏ mà hai cái môi đỏ như son. Cái
đẹp ấy dường như một bức tranh chiều hôm, nửa còn ánh mặt trời chiếu
xuống hồng hồng, nửa còn bóng mặt trăng soi vào vòng vàng chứa chan
muôn mối tình cảm, muôn nỗi sầu tư. Càng trông càng thấy vẻ đẹp, mà đẹp
một cách sâu sắc, đẹp một cách đậm đà. Trong vẻ đẹp ấy có hơi lộ ra sự ảo
qua con mắt của Đệ Nhứt: “Đệ Nhứt thấy một cô tác chừng 17, 18 tuổi, cổ
đeo sợi dây chuyền vàng Tây, mình mặc quần lãnh trắng, áo tím than, chơn
mang giày cao gót, tay cặp cây dù màu trứng gà, thẳng bước đến thầy mà
miệng cười chúm chím thì thầy không biết là ai, nên ngó sững” (Kẻ oan
người ưng, nhà in Nguyễn Văn Viết, Sài Gòn, 1932, tr. 2). Lúc đó nhân vật
hiện lên trước mắt người đọc có vẻ khách quan hơn, thật hơn.
Cách miêu tả chân dung nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ ngày càng theo
hướng cụ thể hóa, cá thể hóa. Nhiều nhân vật điển hình trong tiểu thuyết Nam
Bộ đã được các nhà văn xây dựng. Người đọc sẽ không thể quên được hình
ảnh của những bà Án, bà Phủ, bà Cả, bà Hội đồng đầu thế kỷ XX. Những
nhân vật thuộc tầng lớp trên này không khác mấy so với các nhân vật trong
tiểu thuyết miền Bắc. Đó là những con người ít học, độc ác, tham lam, sẵn
sàng dùng mọi thủ đoạn để bóc lột tá điền. Người đọc cũng không thể nào
quên được những hoàn cảnh, những hình ảnh đáng thương như anh nông dân
Trần Văn Sửu, anh Cai Tuần Bưởi, chị Ba Thời trong tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh; hình ảnh vợ chồng Năm Vạn trong tiểu thuyết Nguyễn Bửu Mộc
v.v… Hình ảnh của Trần Văn Sửu trong tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng của
nhà văn Hồ Biểu Chánh là hình ảnh khá tiêu biểu cho người tá điền ở Nam
Bộ: “Anh mặc một cái áo vải đen nhụt nhụt, một cái quần vắn lai đứt tả tơi,
đầu bịt trùm một cái khăn rằn, miệng ngậm trầu một búng, tay mặt cầm một
khúc cây cóc, tay trái xách một xâu hai con cá lóc với ba bốn con cá rô…”
(Cha con nghĩa nặng, nhà in Đức Lưu Phương, Sài Gòn, 1938, tr. 45). Cuộc
đời lam lũ của người tá điền làm thuê, cuốc mướn hiện rõ trên từng chi tiết
nhỏ qua trang phục và công việc.
Có thể thấy, cách miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ đã chịu ảnh
hưởng của lối tả chân trong tiểu thuyết của phương Tây. Lối tả chân xuất hiện
trong tiểu thuyết của Nam Bộ một phần là do chính đặc trưng của thể loại
tiểu thuyết văn xuôi quy định. Các tiểu thuyết bằng thơ thời kỳ trung đại khó
có khả năng này. Thơ đường bị bó buộc bằng niêm luật, câu chữ, hơn nữa
khả năng diễn giải không phải là thế mạnh của thơ. Với thể văn xuôi, khả
(Tại tôi), Lê Quý Hữu (Hổ thầm), là những người tốt bụng luôn giúp những
người nghèo khó, những người kém may mắn; Bội Nghĩa (Hổ thầm) có bản
chất lừa thầy phản bạn; Diệt Tộc (Mạng nhà nghèo) là người giết vợ trước,
giết vợ sau và giết cả cha của mình v.v…
3.1.2. Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại
Thủ pháp xây dựng nhân vật qua miêu tả hành động và đối thoại được các
nhà văn Nam Bộ chú ý. Thủ pháp này thường thấy trong văn học cổ, thế
nhưng nếu nhà văn khéo léo sử dụng thì vẫn phát huy hiệu quả cao. Nhưng
nếu quá lạm dụng và chỉ chú ý đến hành động nhân vật mà bỏ qua đời sống
tâm lý thì nhân vật dễ trở thành loại “nhân vật chức năng” của văn học cũ.
Loại nhân vật chức năng thường ít có đời sống nội tâm, phẩm chất và đặc
điểm của nhân vật thường là cố định, ít thay đổi trong toàn bộ câu chuyện,
nhân vật thường rơi vào tình trạng khô cứng, một chiều. Thủ pháp miêu tả
hành động và lời nói sẽ bổ sung cho những thủ pháp nghệ thuật khác để tạo
nên hiệu quả nghệ thuật. Nhân vật không chỉ đơn thuần là độc thoại mà phải
hành động, phải đối thoại. Hành động làm nên chân dung của nhân vật. Nhân
vật tồn tại qua hành động.
Phương pháp xây dựng nhân vật qua miêu tả hành động và lời nói góp phần
đáng kể vào việc thể hiện tính cách nhân vật. Những hành động của nhân vật
được các tác giả miêu tả rất sinh động, lắm lúc gây cho ngừơi đọc những cảm
giác hồi hộp, thích thú. Tiểu thuyết Nam Bộ thường miêu tả về hành động,
cốt truyện thường phiêu lưu, ly kỳ. Nhân vật trong tiểu thuyết thường là nhân
vật phiêu lưu trên những không gian rộng lớn với những bất trắc của cuộc
đời, những cuộc chia ly và gặp gỡ kỳ thú. Đó là những cuộc phiêu lưu của
Trần Văn Sửu (Cha con nghĩa nặng ), của Quý (Mẹ ghẻ con ghẻ), của Ba Lân
(Lời thề trước miễu), của Hai Phục (Nợ đời), của Hai Cường, Lê (Sống thác
với tình), của Nguyễn Ánh (Gia Long tẩu quốc, Gia Long phục quốc), của Lý
Thường Kiệt (Việt Nam Lý Thường Kiệt), của Như Hoa (Thói đời đen bạc,
tình nghĩa đổi thay) v.v… Việc xây dựng cốt truyện, nhân vật thiên về phiêu
lưu hành động trong tiểu thuyết Nam Bộ là chịu ảnh hưởng một phần từ trong
thân, tính cách của nhân vật. Vì thế ngôn ngữ đối thoại đã góp phần xây dựng
nhân vật cũng như cá thể hoá nhân vật.
Đây là những lời đối thoại của thị Lựu (Cha con nghĩa nặng) với chống là
Trần Văn Sửu:
“Thị Lựu đi chơi về, bước vô buồng thấy chồng nằm với con thì hỏi rằng:
- Làm giống gì vô nằm sầm sầm đó?
- Thằng nhỏ khóc ta vô dỗ nó chớ. Đi đâu dữ vậy?
- Đi đâu hỏi làm chi? Không cho đi chơi đi bời gì sao?
- Ta hỏi cho biết vậy mà.
- Tao không muốn mày hỏi. Đi ra ngoài. Vô nằm trên gối ta đây rồi
dính mồ hôi, hôi rình ai mà chịu cho được.
- Khéo nói hôn! Tưởng ta là trâu chó gì đây hay sao mà nên hôi.
- Không phải trâu chó, mà cái hôi kỳ cục lắm, không ai chịu được” (tr.
36)
Đợi vợ sắp tắt đèn đi vô buồng, anh ta mới mò mà đi theo. Anh ta vừa khoát
mùng leo lên giường thì thị Lựu nói rằng:
- Ra ngoài ngủ với sắp nhỏ nà! Lọ dọ đi đâu đó?
- Để tao nằm tao nói chuyện một chút.
- Chuyện gì? Sao hồi nãy không nói, để ta đi ngủ rồi vô làm rộn đó?
- Nói giống gì sao không nói đi?
- Họ nói với tao một chuyện kỳ quá.
- Chuyện gì?
- Tao nói lại mày nghe, như không có thì thôi, còn nếu có thì mày phải
chịu, chớ đừng có chối nghe hôn?
- Ai biết chuyện gì đâu mà phải chịu.
- Như tao hỏi mà có thì mày phải chịu chớ.
- Chuyện gì cũng vậy, hễ có thì tao chịu, chớ sợ ai mà chối.
- Ờ, thôi để tao nói cho mà nghe. Bữa nay tao đi gặt, có hai người nói
với tao rằng mày lấy Hương hào Hội, có hôn?
Thị Lựu vừa nghe nói thì vùng ngồi dậy hỏi rằng:
xạ trên đầu trên vai nó. Con Phục chạy vô trong mà tránh đòn. Bà vừa rượt
theo và mắng om sòm rằng: ‘Đồ đĩ chó! Mầy phải ra khỏi nhà tao liền bây
giờ đây. Đi. Đi cho tao mau, tao không chứa nữa’” (Nợ đời, nhà in Đức Lưu
Phương, Sài Gòn, 1936, tr.41).
Hai Phục là con gái của vợ chồng hương Thân. Khi cha mẹ mất, Phục về
sống với vợ chồng Cai tuần Kim. Được một thời gian thì bà Hai Tăng là thím
của Phục đón cô lên Sài Gòn nuôi. Bà Hai Tăng đón Phục về nuôi không phải
vì thương cháu đói khổ mà vì muốn Phục giúp việc nhà. Từ ngày về sống với
thím, Phục bị đối xử rất tệ bạc. Khi bà Hai Tăng biết Phục đã mang thai với
cháu mình là Hai Hùng, không cần suy xét, bà đã đánh đập và chửi mắng
Phục thậm tệ. Đoạn đối thoại trên đã phần nào cho thấy được bản tính của bà
Hai Tăng. Nhân vật Hai Tăng được tác giả khắc họa là người ít học, lỗ mãng
và ích kỷ. Những lời lẽ thô lỗ trên rất phù hợp với tính cách của bà Hai Tăng.
Nhân vật Hai Tăng được tác giả khắc hoạ là người ít học, chua ngoa, lỗ mãng
và ích kỷ. Những lời lẽ thô lỗ trên rất phù hợp với tính cách của bà Tăng.
Còn đây là đoạn đối thoại giữa Hội đồng Nghĩa và anh nông dân Sáu Bội
trong tiểu thuyết phóng sự Đồng quê của Phi Vân:
“- Bẩm chủ, tôi xin mướn ruộng chớ không lãnh ruộng giao.
- Ấy, việc mướn chác thì mình biết với nhau, còn giấy tờ thì mình phải
làm như vậy cho đúng phép. Phỏng như là tờ mướn rồi nửa chừng mày
bỏ trốn có phải lòng dòng tao thêm không? Làm như vậy mày lãnh làm
công, rồi có muốn trốn, ruộng của tao, bất quá tao gặt lúa trừ. Tao ngừa
như vậy, tá điền tao đứa nào cũng làm kiểu đó, mà có đứa nào kêu ca gì
đâu! Bây dựt của tao thì có, chớ tao, điền ruộng mênh mông, chẳng đời
nào tao thèm dựt của bây!
- Bẩm chủ, còn tiền lấy thêm? Hai chục đồng, tôi đâu có hỏi gì đâu?
- Mày quê lắm. Tiền đó tao buộc phải vay, tới mùa tao đong lúa trừ.
Tao tín mỗi giạ năm cắc. Phải vay mới có mà ăn đặng làm chớ, không
lẽ mày cạp đất mà cày ruộng sao?
- Nhưng…giá lúa bây giờ đến hai đồng một giạ!
Những suy nghĩ của nhân vật về bản thân, về các mối quan hệ với những
nhân vật khác, về những sự việc của quá khứ, hiện tại và tương lai, sẽ giúp
người đọc hiểu hơn về nhân vật. Qua độc thoại nội tâm, nhân vật có dịp bộc
lộ những góc khuất thầm kín của đời sống tâm hồn, nhân vật trở nên sống
động, phức tạp, vì thế trở nên thật hơn, đời hơn. Trong văn học trung đaik,
nhà văn ít hú ý đến việc miêu tả đời sống tâm lý của nhân vạt, vì vậy nhân vật
nhiều khi trở nên đơn giản. Nhân vật trong văn học trung đại được các nhà
văn miêu tả chủ yếu qua những hành động, những lời đối thoại. Lời nói của
nhân vật chủ yếu là lời của tác giả. Lắm khi, nhân vật bị biến thành cái loa
phát ngôn của tác giả. Nhân vật ít có cơ hội phát triển theo hướng “nội tại”,
mà phải nương theo hoàn cảnh khách quan, bị điều kiện khách quan chi phối.
Tiểu thuyết Nam Bộ đang từng bước cách tân theo hướng ngày càng chú ý
nhiều hơn đến thủ pháp độc thoại nội tâm. Có thể thấy, việc chú ý đến thủ
pháp độc thoại nội tâm của nhân vật trong tiểu thuyết Nam Bộ là một chuyển
biến lớn trong nghệ thuật so với thời kỳ văn học trung đại.
Đây là một đoạn độc thoại nội tâm của Nguyễn Viết Sung (Mảnh trăng thu)
sau cuộc tiếp xúc với Minh Đường, cảm giác sợ bị lật tẩy những việc làm sai
trái trước đó luôn ám ảnh y: “Giọng nói của người này lạ lắm, khong biết vì ý
gì? Nó làm ta thiếu chút nữa muốn điên? Nó hỏi nhiều câu thình lình, khó trả
lời cho trôi được. Hay nó là lính kín? Hay là quả con Kiều Tiên lúc này đang
tìm kiếm cách báo thù cho chồng? Ta không biết sợ ai, mà ta chỉ lo đàn bà
con gái trong những sự báo thù…Đàn bà tuy yếu ớt nhưng mà có mãnh lực
ghê lắm. Nếu quả lời thằng này là thì thật tại ta vô ý, không đề phòng trước.
Ta giết luôn nó đi thì… Mà không được, nếu giết luôn nó thì sao kỏi lôi thôi
lớn, pháp luật đâu có bỏ qua, chắc là khó dễ cho ta lắm. Để cho Kiều Tiên
sống thì thêm một mối lo, còn nguy hiểm cho ta hơn là bọn trinh thám, vì nó
dùng bọn trai làm vi cánh mà vẽ đường…” (tr. 319). Những tính toán thiệt
hơn để che giấu tội lỗi của Nguyễn Viết Sung được thể hiện qua các lập luận
của hắn. Qua những dòng độc thoại, Sung hiện lên là một kẻ hiểm ác, sẵn
sàng bất chấp thủ đoạn để đạt được mục đích. Sung là một kẻ hãnh tiến, luôn
chịu đói bữa nào hay sao? Tôi thường nói với mình, để tôi rang sức làm cho
có tiền nhiều đặng vợ con sung sướng. Tội nói như vậy là ý tôi muốn có tiền
đặng cho mình bận quần hàng áo nhiễu, đi giày đi dép, đeo vòng đeo vàng.
Tôi nói đó là nói thiệt, chớ không phải gạt mình… Sao mình không thương
tôi, mình lấy Hương hào Hội chi vậy? Mà như mình có lỡ dại, thì hôm tôi hỏi
đó mình nói thiệt với tôi. Tôi thương mình lắm, nếu mình chịu thiệt, thì chắc
tôi rầy bậy bạ rồi thôi, chớ tôi không nỡ đánh đập mình. Sao tôi hỏi mình lại
chối, rồi mình còn mắng chửi tôi? Đến chừng tôi bắt được chánh án rồi…mà
mình còn leo lẻo, mình chửu tôi, mình thách đố tôi, mình các dao muốn chém
tôi, làm tôi giận mất trí khôn nên tôi xô mình té mà chết” (Cha con nghĩa
nặng, sđd, tr. 125). Những lời trần tình, phân giải mộc mạc của Trần Văn Sửu
như đang đối thoại với người chết cho thấy sự hối hận, ăn năn. Những dòng
độc thoại đó làm cho người đọc không khỏi cảm thương cho số phận của
Sửu. Bản chất của Sửu vốn hiền lành, thương vợ con, nhưng hành động phản
bội của vợ đã vượt quá sự chịu đựng của anh khiến anh lỡ tay giết vợ. Mặc
dù đoạn độc thoại này vẫn còn mang bóng dáng ngôn ngữ của chính Hồ Biểu
Chánh, chưa thực sự là của nhân vật, nhưng nó là những điểm sáng trong tác
phẩm góp phần phơi mở vào thế giới nội tâm của Trần Văn Sửu, một nhân
vật đặc sắc của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh không lẫn vào đâu được.
Độc thoại thường xuất hiện khi nhân vật mâu thuẫn với hoàn cảnh. Những
tiếng nói bên trong của nhân vật, những điều nhân vật suy tư nhiều hơn gấp
mấy lần những lời được nói ra bao giờ cũng vang lên trong một tình huống cụ
thể. Chẳng hạn đó là khi nhân vật Văn trong Đứa con của tội ác của Kiều
Thanh Quế đã tự dằn vặt mình bằng những độc thoại trước cuộc sống buông
thả, vô nghĩa của bản thân. Có lúc nhân vật tự biẹn hộ cho bản thân như
Nguyễn Viết Sung, Huệ trong Mảnh trăng thu, Hùng Minh trong Tôi có tội.
Bao trùm lên những độc thoại là giọng điệu hoài nghi. Trong nghệ thuật, nhất
là trong tư duy tiểu thuyết, sự hoài nghi luôn phù hợp với tinh thần “luôn
luôn có sự nhận thức đánh giá lại mọi thứ” (M.Bakhtin). Tiếng nói nhân vật
dường như được chẻ ra làm hai tiếng nói tranh cãi nhau. Cô Huệ (Cậu Tám