luận văn nhà ở của người tày ở xã bình yên, huyện định hóa, tỉnh thái nguyên (tt) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------

TRẦN THỊ DUNG

NHÀ Ở CỦA NGƢỜI TÀY Ở XÃ BÌNH YÊN,
HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60.31.03.10

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC

Hà Nội – 2017



Công trình đƣợc hoàn thành tại:
VIỆN HÀM LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Võ Thị Mai Phƣơng

Phản biện 1: ……………………........………………
Phản biện 2: .………………….……..………………

Luận văn đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm Luận văn thạc
sĩ tại Học viện Khoa học xã hội

tộc người đó. Người Tày ở nước ta thường sinh sống ở vùng thung
lũng, nhà dựng dưới chân núi, bên sườn đồi hoặc trên bãi đất ven
suối, ven sông theo kiểu tựa lưng vào núi và hướng ra cánh đồng.
Nhà ở nói chung và nhà của người Tày nói riêng luôn là một
trong những đề tài nghiên cứu được nhiều nhà khoa học trong và
ngoài nước quan tâm. Nghiên cứu về ngôi nhà ở của dân tộc Tày ở
xã Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên cho ta thấy được
mặt vật chất của ngôi nhà, một trong những thành tố văn hóa động,
cho ta thấy được sự thay đổi của môi trường sống của từng vùng
khác nhau mà mỗi dân tộc thể hiện qua cách làm nhà và sinh sống
trong ngôi nhà của họ. Ngoài ra, nghiên cứu nhà ở của người Tày ở
huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên còn đóng góp thêm những hiểu
biết về văn hóa truyền thống và sự biến đổi trong bối cảnh hiện nay
của nước ta, nhất là vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tộc
người hướng tới phát triển bền vững. Nghiên cứu nhà ở cho ta thấy
được bản sắc văn hóa dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo nghị quyết
hội nghị lần thứ IX, Khóa XI của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
“Với mục tiêu Bảo tồn di sản văn hóa, các ngôi nhà hay các công
trình trưng bày ngoài trời ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thường
được giữ nguyên mẫu, trong trường hợp bất khả kháng thì tái tạo
theo nguyên mẫu, kể cả về chất liệu và kỹ thuật chế tác” [32, tr.7].
Bảo tàng đã tiến hành nhiều chuyến nghiên cứu, khảo sát rất nhiều
1


tỉnh khác nhau về nhà ở của người Tày, nhưng đã chọn ra ngôi
nhà ở Định Hóa, Thái Nguyên ở đây mang nhiều nét kiến trúc đặc
trưng cho nhà người Tày ở vùng phía Đông Bắc. Ngoài ra, hiện
nay, tôi đang công tác tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, với

và Nhà ở của người Chăm Ninh Thuận: Truyền thống và biến đổi do
Lê Duy Đại làm chủ biên (2011) [18]... Tuy nhiên, đối với chúng
tôi, đáng lưu ý vẫn là hai cuốn Nhà ở truyền thống các dân tộc Việt
Nam (tập 1 và tập 2) của Nguyễn Khắc Tụng [63, 64]. Mặc dù tác
giả chưa có điều kiện mô tả chi tiết nhà ở của các tộc người, nhưng
những yếu tố cơ bản nhất của ngôi nhà đều được nói tới. Đặc biệt,
các tư liệu chủ yếu trong công trình này đều là tư liệu điền dã, được
2


trình bày một cách khoa học dưới dạng mô tả, bản vẽ và ảnh minh
họa, theo một nguyên tắc nhất quán trong toàn bộ cuốn sách.
Tác phẩm “Nhà sàn truyền thống của người Tày ở vùng Đông
Bắc Việt Nam” của tác giả Ma Ngọc Dung (2004); Luận án tiến sỹ
của Lê Thị Thúy Hoàn về “Nhà sàn truyền thống của cư dân Tày ở
Chiêm Hóa (Tuyên Quang)” (2010); Công trình nghiên cứu “Ngôi
nhà của người Tày trong khu trưng bày ngoài trời của Bảo tàng
Dân tộc học Việt Nam” của tác giả La Công Ý (2010), đã cho chúng
ta thấy được bức tranh về đặc điểm của ngôi nhà sàn, quá trình dựng
nhà, các nghi lễ và ẩm thực, âm nhạc có liên quan. Tuy nhiên, công
trình nghiên cứu này chủ yếu mô phỏng nhà ở và các nghi lễ truyền
thống của người Tày mà chưa làm rõ được cách bố trí mặt bằng sinh
hoạt trong ngôi nhà và chưa đề cập đến sự biến đổi chúng qua các
thời kỳ.
Những tài liệu nói trên là nguồn tư liệu phong phú, giúp tác
giả luận văn có cái nhìn khái quát về lĩnh vực nhà ở nói chung của
người người Tày nói riêng. Đây là nguồn tư liệu quý, gợi mở và
được tác giả kế thừa cho luận văn: “Nhà ở của người Tày tại xã
Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên ”.
3. Mục đích nghiên cứu

yếu tố xã hội và phong tục tập quán liên quan đến ngôi nhà của
người Tày tại xã Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
đồng thời nêu lên các biến đổi của ngôi nhà cũng như các yếu tố tác
động đến sự biến đổi đó.
Đề tài này còn góp phần xây dựng chương trình giáo dục về
văn hóa truyền thống, tạo nên ý thức trách nhiệm về giữ gìn di sản
văn hóa người Tày trong cộng đồng/khách tham quan tại Bảo tàng
Dân tộc học VN cũng như tại cộng đồng người Tày ở Định Hóa,
tỉnh Thái Nguyên.
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở khoa học
bước đầu nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống
tốt đẹp của người Tày thông qua nhà ở của họ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3
chương.
Chương 1: Cơ sở lí luận và khái quát địa bàn nghiên cứu.
Chương 2: Các yếu tố vật chất, xã hội và phong tục tập quán
liên quan đến ngôi nhà.
Chương 3: Biến đổi của ngôi nhà và việc bảo tồn, phát huy
các giá trị văn hóa của nhà ở của người Tày.

4


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHÀ Ở VÀ
KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
Chúng tôi bắt đầu tìm hiểu các khái niệm cơ bản như: Nhà,

Đooc) để phân biệt với Tày nói theo các phương ngôn khác mà họ
gọi là Tày Thúa. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài hàng nghìn năm,
các thế hệ người Tày ở Việt Nam đã khai phá những thung lũng
5


tương đối bằng phẳng và màu mỡ thuộc vùng Đông Bắc của đất
nước.
Trong số các dân tộc sinh sống tại huyện Định Hóa, người Tày
chiếm số lượng đông nhất (46.004 người) sau đó mới đến các dân
tộc Kinh (26.212 người), Sán Chay (8.339 người), Nùng (3.437
người)…
Tiểu kết chương 1
Nhà ở là một lĩnh vực văn hóa chứa đựng những giá trị văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần phong phú, đa dạng được các học
giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Có nhiều công trình
viết về nhà ở như các cuốn sách, các đề tài, các bài đăng trên tạp
chí. Mỗi tác phẩm có thể đi sâu, khái quát về nhà ở của một dân tộc
cụ thể, cũng có thể là những mô tả khái quát giúp ta hình dung về
nhà ở của các tộc người khác nhau.
Tác giả lựa chọn đề tài “Nhà ở của người Tày ở xã Bình Yên,
huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn thạc sĩ với mục
đích đi sâu tìm hiểu và làm rõ những phong tục tập quán, tri thức
dân gian, nghi lễ, các thói quen, sinh hoạt văn hóa văn nghệ tác
động đến quá trình dựng nhà và diễn ra trên ngôi nhà truyền thống
của người Tày để từ đó đưa ra giá trị và biện pháp giữ gìn, bảo tồn
giá trị của ngôi nhà truyền thống.
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã tìm hiểu một số khái niệm
cơ bản liên quan đến nội dung của đề tài luận văn đã vận dụng lý
thuyết chức năng - cấu trúc và thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa

sống sinh hoạt của đồng bào.
Trước hết, ngôi nhà sàn phản ánh điều kiện tự nhiên và địa
vực cư trú của đồng bào. Trước đây, Định Hóa là khu vực miền núi
rậm rạp, có nhiều thú dữ với các triền núi cao và khu vực thung
lũng, hệ thống sông suối bao quanh. Khí hậu đặc trưng của vùng
miền núi phía bắc, thời tiết luân chuyển bốn mùa, mùa đông gió rét,
mùa hè nóng bức. Để có được nơi trú ngụ an toàn vừa chắc chắn
người Tày đã sáng tạo ra ngôi nhà sàn. Ngôi nhà sàn có sàn nhà cao
là không gian sinh hoạt của con người vừa tránh thú dữ, vừa ấm áp
vào mùa đông, thoáng mát về mùa hè (thể hiện trong kiến trúc ngôi
nhà, bếp lửa được đặt nơi trung tâm của ngôi nhà luôn sáng lửa tạo
sự ấm áp vào mùa đông, nhà sàn có nhiều cửa sổ, mùa hè chống các
liếp cửa lên để đón gió và ánh sáng tạo sự thoáng mát, mùa đông
hoặc ban đêm hạ liếp cửa xuống để chắn gió...). Sàn nhà là nơi sinh
hoạt của con người, trong đó bao gồm sinh hoạt tự nhiên như: ăn,
uống, nghỉ; đến các hoạt động mang tính xã hội như: vui chơi giải
trí, chăm sóc, dạy dỗ con cái; hoạt động lao động sản xuất thủ công
trong gia đình như đan lát, dệt vải, thêu thùa, giã gạo, chế biến
lương thực, thực phẩm và các hoạt động văn hóa tinh thần khác.
Ngôi nhà sàn không chỉ là nơi cư trú của con người mà với
cấu trúc đặc biệt, nó còn có những chức năng khác: Chức năng nuôi
nhốt gia súc, gia cầm (dưới gầm sàn); là kho chứa công cụ lao động
(gầm sàn) và các lương thực, thực phẩm (trên gác, gác bếp).
Ngôi nhà sàn của người Tày còn là sản phẩm mang tính nghệ
thuật của kiến trúc dân gian. Nghệ thuật kiến trúc dân gian của ngôi
nhà sàn người Tày thể hiện ở tính phù hợp với điều kiện tự nhiên,
7


không gian thiên nhiên của ngôi nhà và làng bản. Làng bản người

khoảng 2 tháng còn với giát chỉ ngâm khoảng 1 tháng. Để nước
ngấm nhanh, ngấm sâu hơn, với gỗ dùng làm cột kèo phải bóc bỏ
lớp vỏ đi còn với tre làm đòn tay thì đục lỗ ở từng đầu mắt. Khi vớt
gỗ từ dưới bùn lên đồng bào thường chưa sử dụng ngay mà để gỗ ở
nơi khô, thoáng hoặc phơi ngay ngoài trời để gỗ khô hết mới đưa
vào chế tác, sử dụng.
2.1.2. Quá trình dựng nhà
Cấu trúc nhà sàn của người Tày ở Bình Yên chủ yếu là nhà ba
gian hai chái. Xung quanh nhà được bưng bằng phên đan bằng các
cây tre, nứa đập dập hoặc bằng ván mỏng và có nhiều cửa sổ. Mặt
bằng sinh hoạt trên ngôi nhà được bố trí như sau: Chái bên phải kề
8


với một sàn phơi. Cầu thang lên nhà đặt ở phía trước, gần đầu cầu
thang về bên trái là nơi đặt các ống nước để khách rửa chân trước
khi vào nhà. Gian đầu tiên: Góc nhà phía trước là buồng ngủ của bố,
mẹ ông chủ nhà, nơi dành cho khách nam; gian giữa phía trước là
nơi tiếp khách, ở giữa có bếp, nơi sinh hoạt chung của gia đình, giáp
vách sau là chạn bát; gian thứ ba: Phía trước là buồng của ông bà
chủ nhà, phía sau là buồng của con gái, vợ chồng con trai trưởng,
gian này có cửa buồng thông với sàn phụ. Chái bên trái, gần giường
chủ nhà là bàn thờ tổ tiên.
Gần cửa ra vào là bếp để nấu ăn hàng ngày và sưởi ấm trong
mùa đông. Từ bếp chiếu ra, khu vực về phía “trên” dành cho bà chủ
và khách quý là phụ nữ, phía “ngoài” để cho con trai, con rể và
khách nam, còn phía “dưới” được gọi là chỗ thấp kém nhất, để cho
con dâu, con gái và khách nữ.
Khâu quan trọng hàng đầu của quá trình làm nhà là quy trình
dựng bộ khung nhà và lắp vì kèo. Ngày cất dựng nhà là ngày quan

được xử lý, sau đó nhấc nó lên rồi buông tay ra.
Đặc biệt, khi làm nhà thợ mộc người Tày còn sử dụng một số dụng
cụ tự tạo như: sào, “càng cua,”, búa và “cần cẩu”, tuy các dụng cụ
này rất đơn giản, thô sơ nhưng tiện dụng và hiệu quả. Có hai loại
sào và cả hai cùng được làm bằng đoạn vầu dài khoảng 3-4m, dùng
trong việc hỗ trợ nâng miệng cột, đưa cây xuyên, kèo hay đòn tay
lên cao.
Để hoàn thành một ngôi nhà sàn, phải trải qua nhiều công
đoạn và mất nhiều thời gian. Việc dựng nhà mất bao nhiêu thời gian
tùy thuộc vào quá trình chuẩn bị nguyên vật liệu, nhân lực và khả
năng kinh tế của mỗi gia đình. Với người Tày ở Bình Yên, để dựng
một ngôi nhà khang trang thường mất khoảng 2-3 năm để chuẩn bị
các điều kiện và vật chất và việc chuẩn bị công việc này thường do
người đàn ông trong gia đình (chủ nhà) đảm nhận.
2.2. Các mối quan hệ xã hội thể hiện qua mặt bằng sinh
hoạt
2.2.1. Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
Mối quan hệ gia đình của người Tày thường gặp là những gia
đình hạt nhân gồm 2 thế hệ, gồm bố mẹ và con cái chưa lấy vợ hoặc
lấy chồng và gia đình 3 thế hệ (ông bà - bố mẹ - con cái). Trong mỗi
gia đình có từ 5 đến 7 người, rất ít có gia đình có từ 10 hoặc trên 10
người.
Khu vực phía trước (còn gọi là phía trên) và phía ngoài gần
như dành riêng cho nam giới, đây có chỗ ngủ của ông chủ nhà, các
con trai chưa vợ và khách nam. Khu vực phía sau (còn gọi là phía
dưới) và phía trong chủ yếu dành cho nữ giới; được bố trí làm chỗ
ngủ của bà chủ nhà, trẻ em và khách nữ. Phần chái nhà phía trong
và hiên sau được ngăn ra thành từng ngăn. Một số ngăn được quây
làm buồng ngủ cho con dâu cũng như con gái đến tuổi trưởng thành
nhưng chưa lấy chồng hoặc đã lấy chồng rồi nhưng chưa mang thai

với cộng đồng được hiểu là mối quan hệ giữa các thành viên sống
cùng một ngôi nhà với những thành viên sống trong các ngôi nhà
khác nhau trong làng và ở mức độ xa hơn là với những thành viên ở
ngoài cộng đồng làng. Trước tiên là quan hệ với những người huyết
thống họ hàng, thông gia, bố mẹ với các “trưởng bản” trong làng.
Thứ hai là quan hệ láng giềng với những thành viên sống ở những
ngôi nhà bên cạnh. Tiếp đến là mối quan hệ với những thành viên
khác trong làng khi tham gia các hoạt động chung của làng, nhất là
trong nhiều nghi lễ tín ngưỡng như cúng miếu làng đầu xuân, cúng
cầu mùa.
2.2.3. Quan hệ với thần linh
Ở gian giữa hoặc trái nhà phía trong là nơi đặt bàn thờ tổ tiên.
Đó được xem là vị trí trung tâm của ngôi nhà, là nơi tôn nghiêm
nhất của người Tày.
Bếp có ý nghĩa quan trọng trong đời sống sinh hoạt cũng như
ý thức tâm linh của người Tày, đó không chỉ là nơi có chức năng
nấu nướng mà còn là nơi giữ linh hồn của ngôi nhà. Bếp còn được
coi là không gian công cộng của một gia đình và là nơi tiếp khách.
2.3. Các phong tục tập quán liên quan đến ngôi nhà
2.3.1. Phong tục tập quán liên quan đến quá trình làm nhà
Việc làm ngôi nhà mới có thể ảnh hưởng tới sự bình yên, sức
khỏe của những người trong gia đình hay mang lại cho họ điều bất
hạnh. Vì thế khi chuẩn bị làm nhà mới đồng bào phải rất thận trọng
11


trong mọi quá trình làm nhà đều phải xem ngày. Người Tày có
nhiều phong tục tập quán liên quan đến chọn đất làm nhà, chọn
hướng, chọn tuổi… cho đến các nghi lễ vào nhà mới đều được tiến
hành rất cẩn thận.

thống tri thức phong phú đúc rút từ ngàn năm.
Ngôi nhà truyền thống của người Tày được xây dựng nên bằng
nguồn nguyên liệu khai thác từ tự nhiên. Từ quá trình lựa chọn, khai
thác và xử lý nguyên vật liệu đến quá trình dựng nhà, các kết cấu,
kiến trúc trong ngôi nhà sàn truyền thống đều phản ánh một cách hệ
thống các tri thức về tự nhiên cũng như phản ánh quan niệm, văn
hóa của đồng bào Tày nơi đây. Các hình thức bố trí mặt bằng sinh
hoạt, các dụng cụ truyền thống được sử dụng trong gia đình truyền
thống, các phong tục tập quán cũng là hệ thống các tri thức dân gian
cũng như hệ thống quan niệm sống, cái nhìn nhân sinh quan, vũ trụ
quan của con người đối với cuộc sống của họ đồng thời còn thể hiện
giá trị vật chất, giá trị tinh thần được chứa đựng trong ngôi nhà.
Ngôi nhà sàn của người Tày là sự phản ánh điều kiện sống và lao
động của đồng bào đồng thời thể hiện tiện ích đối với đời sống sinh
hoạt của đồng bào. Ngôi nhà sàn của người Tày còn là sản phẩm
mang tính nghệ thuật của kiến trúc dân gian được thể hiện ở tính
phù hợp với điều kiện tự nhiên, không gian thiên nhiên của ngôi nhà
và làng bản.
Bên cạnh việc phục vụ sinh hoạt thường ngày, ngôi nhà sàn
còn là nơi diễn ra các nghi lễ trong chu kỳ đời người, thể hiện quan
niệm, ý thức của con người trong đời sống gia đình, xã hội. Vì thế,
ngôi nhà sàn còn có giá trị tinh thần thiêng liêng trong tâm thức của
mỗi người. Những kiêng kỵ trong quá trình làm nhà cũng như diễn
ra trong ngôi nhà sàn đều mang tính triết lý thể hiện đời sống tinh
thần và quan niệm về thế giới quan, nhân sinh quan của người Tày
trong đó nó hàm chứa những ý nghĩa nhất định cả về tâm linh và
thực tiễn mang tính nhân quả nhất định.

13


dùng các loại chăn, gối truyền thống tự tay làm. Sự biến đổi này do
đồng bào Tày tiếp nhận từ các ngôi nhà của người Kinh. Theo ông
Ma Quang Tuyển, 72 tuổi, thôn Thẩm Rộc, xã Bình Yên cho biết:
“Sự biến đổi về các nguyên vật liệu, kiến trúc và không gian sinh
hoạt của ngôi nhà sàn hiện nay mặc dù làm mất đi tính truyền thống
nhưng đã tạo sự tiện ích trong sinh hoạt của đồng bào, mở rộng
không gian sinh hoạt, đồng thời tạo môi trường sạch sẽ hơn trong
sinh hoạt khi không nhốt gia súc gia cầm dưới gầm sàn”.
Kỹ thuật dựng nhà của người Tày cũng là một yếu tố không
ngừng tiếp nhận những tiến bộ kỹ thuật của các tộc người khác, đặc
biệt kỹ thuật dựng nhà của người Tày chịu ảnh hưởng sâu sắc kỹ
14


thuật dựng nhà trệt của người Kinh. Sự kết hợp giữa kỹ thuật bản
địa và kỹ thuật làm nhà của người Kinh đã giúp dần kỹ thuật đục, kỹ
thuật lắp ráp, trang trí để nâng cao giá trị thẩm mỹ đồng thời tiết
kiệm nguyên vật liệu cho ngôi nhà.
Theo thống kê của cán bộ văn hóa xã Bình Yên thì hiện nay có
35 ngôi nhà sàn truyền thống của người Tày trên địa bàn toàn xã.
Chính vì thế, các ngôi nhà sàn cổ truyền được khuyến khích giữ lại,
bảo tồn, hình thành nên làng văn hóa du lịch tại địa phương.
3.1.2. Biến đổi yếu tố xã hội và phong tục tập quán liên quan
đến ngôi nhà
Ngôi nhà sàn của người Tày trước đây không chỉ là nơi trú
ngụ mà còn là không gian linh thiêng chứng kiến con người từ khi
sinh ra đến khi trưởng thành và chết đi. Vì thế, người Tày có một hệ
thống quan niệm về cách bố trí không gian sinh hoạt cho từng người
phù hợp với từng vị trí, khu vực cụ thể. Tuy nhiên, ngày nay, cùng
với sự giao lưu, hội nhập và phát triển, đời sống vật chất cũng như

vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Các chính sách đó góp
phần nâng cao đời sống kinh tế, văn hóa xã hội cho đồng bào miền
núi nói chung và đồng bào Tày ở Bình Yên nói riêng.
Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng IV của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa đã chỉ rõ: Chính sách dân tộc của Đảng ta là thực
hiện triệt để quyền bình đẳng mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những
điều kiện cần thiết để xóa bỏ sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn
hóa giữa các dân tộc ít người và dân tộc đông người (Văn kiện Đại
hội Đại biểu của Đảng toàn quốc lần thứ IV, tháng 12 năm 1976).
Từ đó, các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta đã hiện
thực hóa, thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi, giữa
dân tộc thiểu số và dân tộc đa số. Năm 1980, Đảng ta có chính sách
đưa người Kinh ở miền xuôi lên định cư tại xã Bình Yên; năm 1979
một nhóm người Kinh đến định cư ở xã Bình Yên mang theo nhiều
kỹ thuật làm nhà của người miền xuôi. Sự định cư của một số tộc
người khác xen kẽ với các làng bản người Tày đã làm thay đổi
thành phần dân tộc; thay đổi cơ cấu kinh tế, người Tày đã biết khai
thác đất rừng để trồng chè, tạo nguồn thu nhập chính trong đời sống
của cả cộng đồng, thay đổi cơ cấu đất canh tác và đất ở đồng thời
tạo nên tình trạng khai thác rừng bừa bãi để phục vụ nhu cầu tái
định cư đã tàn phá nguồn tài nguyên rừng vốn rất giàu có ở đây.
Chính vì vậy mà rừng ngày một cạn kiệt, nguồn vật liệu để làm nhà
ngày một khan hiếm.
Vào cuối những năm 80 của đầu những năm 90, Đảng ta chủ
trương thực hiện việc giao đất, giao rừng cho từng hộ nông dân.
Đây là chủ trương mới, mở đầu cho thời kỳ đổi mới cơ chế kinh tế.
Năm 1993, chủ trương này được hiện thực hóa bằng chương trình
327 với nội đung chủ đạo là thực hiện giao đất, khoản rừng đến từng
hộ gia đình. Chương trình này có tác động nhiều mặt đến đời sống
xã hội và đặc biệt đối với việc xây dựng nhà sàn truyền thống của

điểm du lịch của Thái Nguyên, hệ thống đường giao thông được cải
tạo, đi lại thuận lợi, tạo điều kiện cho việc lưu thông hàng hoá phát
triển. Kinh tế của người Tày ở đây được nâng lên rõ rệt. Nhiều ngôi
nhà sàn được thay thế bằng những nhà xây, nhà cao tầng. Một số
người già vẫn hoài niệm về văn hoá truyền thống nên có nhiều hộ
vẫn giữ nếp nhà sàn làm bếp, và là nơi sinh hoạt của những người
già. Những cặp vợ chồng trẻ thường sinh hoạt trong ngôi nhà xây, vì
họ cho rằng như thế tiện nghi và phù hợp với thế hệ trẻ.
3.2.3. Tác động của quá trình giao lưu, hội nhập và phát
triển
Giao lưu và hội nhập là một xu hướng tất yếu của sự phát triển
văn hóa xã hội. Từ chính sách di dân từ các vùng miền khác đến
định cư tại Bình Yên, người Tày nơi đây có nhiều cơ hội giao lưu
với nhiều dân tộc khác, từ đó tiếp thu nhiều giá trị văn hóa vào văn
hóa của tộc người mình, làm thay đổi nhiều tập quán trong đời sống
vật chất, tinh thần, trong đó đặc biệt phải kể đến tập quán cư trú.
Nền kinh tế thị trường được hình thành ở Bình Yên cùng với
sự thông thương buôn bán với các vùng miền khác; sự phát triển của
cơ sở hạ tầng, các hình thức tiếp cận văn hóa mới xuất hiện như
truyền thanh, truyền hình; số lượng con em dân tộc Tày đi các tỉnh
thành khác học tập, lao động ngày càng nhiều có sự giao lưu thường
xuyên với các dân tộc khác tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình
giao lưu, hội nhập và phát triển.
17


Trong quá trình giao lưu và hội nhập của người Tày không chỉ
tiếp nhận được những giá trị tích cực mà còn tiếp thu những ảnh
hưởng tiêu cực từ nền văn hóa khác. Đối với tập quán cư trú, người
Tày du nhập kỹ thuật làm nhà trệt của người Kinh, thay đổi cách

chủ thể văn hóa, như: các hoạt động trình diễn nghề thủ công hoặc
văn nghệ dân gian; xây dựng và sửa chữa các công trình kiến trúc
dân gian; làm phim dựa vào cộng đồng... Chính cộng đồng - chủ thể
văn hóa đã sáng tạo, sở hữu, nuôi dưỡng và mong muốn bảo tồn các
di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) của chính mình. Bởi vậy, sẽ là
đúng đắn và rất tốt khi họ là những đối tác, những người bạn đồng
hành quan trọng của Bảo tàng trong sứ mệnh bảo tồn và phát huy di
18


sản văn hóa. Công chúng tham quan Bảo tàng DTHVN có nhiều cơ
hội được giao lưu trực tiếp với các chủ thể văn hóa, tham gia vào
quan hệ tương tác hai chiều giữa người tìm hiểu (công chúng) và
người sở hữu văn hóa (chủ thể), từ đó hình thành tình yêu, lòng tự
hào và ý thức bảo tồn di sản văn hóa của cả người thưởng thức và
người thể hiện văn hóa.
3.3.2. Một số đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị
văn hóa thông qua ngôi nhà sàn của người Tày
Công tác nghiên cứu, sưu tầm
Tiến hành nghiên cứu, sưu tầm các hiện vật gốc và mang tính
lịch sử liên quan đến văn hóa ngôi nhà sàn truyền thống của người
Tày ở Thái Nguyên nhằm mục đích bảo quản, lưu giữ chúng để làm
tư liệu phục vụ các công tác nghiên cứu khác đồng thời nhằm phát
huy giá trị văn hóa của các hiện vật nhằm phục vụ cho công tác
trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu khách tham quan, giáo dục cho
quần chúng nhân dân về truyền thống văn hóa dân tộc, tạo niềm tự
hào về văn hóa dân tộc.
Gắn các di sản văn hóa với hệ thống di tích lịch sử An toàn
khu (ATK ) để phát triển du lịch nhằm quảng bá các giá trị văn hóa
của người Tày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status