VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ DUNG
NHÀ Ở CỦA NGƢỜI TÀY Ở XÃ BÌNH YÊN,
HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ DUNG
NHÀ Ở CỦA NGƢỜI TÀY Ở XÃ BÌNH YÊN,
HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60.31.03.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ DÂN TỘC HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VÕ THỊ MAI PHƢƠNG
tiếp nồng hậu, giúp đỡ nhiệt tình và cung cung cấp cho tôi những thông tin, tư liệu
quý giá để hoàn thành đề tài.
Cuối cùng, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2017
Học viên
Trần Thị Dung
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Ký hiệu
Nội dung
1
ATK
An toàn khu
2
CP
Chính phủ
UBND
Dân tộc học Việt Nam
Ủy ban nhân Dân
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU
10
1.1.
Cơ sở lý luận
10
1.2.
Cơ sở lý thuyết
13
1.3.
46
Tiểu kết chương 2
58
CHƢƠNG 3: BIẾN ĐỔI CỦA NGÔI NHÀ VÀ VIỆC BẢO
TỒN, PHÁT HUY CÁC GÍA TRỊ VĂN HÓA CỦA NHÀ Ở
CỦA NGƢỜI TÀY
59
3.1.
Những biến đổi của nhà ở người Tày
59
3.2.
Những yếu tố tác động đến sự biến đổi nhà ở của người Tày
65
3.3.
Bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của nhà ở người
68
quán của tộc người đó. Người Tày ở nước ta thường sinh sống ở vùng thung lũng,
nhà dựng dưới chân núi, bên sườn đồi hoặc trên bãi đất ven suối, ven sông theo kiểu
tựa lưng vào núi và hướng ra cánh đồng.
Nhà ở nói chung và nhà của người Tày nói riêng luôn là một trong những đề
tài nghiên cứu được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm. Nghiên cứu
về ngôi nhà ở của dân tộc Tày ở xã Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
cho ta thấy được mặt vật chất của ngôi nhà, một trong những thành tố văn hóa động,
cho ta thấy được sự thay đổi của môi trường sống của từng vùng khác nhau mà mỗi
dân tộc thể hiện qua cách làm nhà và sinh sống trong ngôi nhà của họ. Ngoài ra,
nghiên cứu nhà ở của người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên còn đóng
góp thêm những hiểu biết về văn hóa truyền thống và sự biến đổi trong bối cảnh
hiện nay của nước ta, nhất là vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa tộc người
hướng tới phát triển bền vững. Nghiên cứu nhà ở cho ta thấy được bản sắc văn hóa
1
Theo số liệu thống kê của Ban Dân tộc tỉnh Thái Nguyên năm 2015
1
dân tộc, góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc theo nghị quyết hội nghị lần thứ IX, Khóa XI của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng. “Với mục tiêu Bảo tồn di sản văn hóa, các ngôi nhà hay các công
trình trưng bày ngoài trời ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thường được giữ
nguyên mẫu, trong trường hợp bất khả kháng thì tái tạo theo nguyên mẫu, kể cả về
chất liệu và kỹ thuật chế tác” [32, tr.7]. Bảo tàng đã tiến hành nhiều chuyến nghiên
cứu, khảo sát rất nhiều tỉnh khác nhau về nhà ở của người Tày, nhưng đã chọn ra
ngôi nhà ở Định Hóa, Thái Nguyên ở đây mang nhiều nét kiến trúc đặc trưng cho
nhà người Tày ở vùng phía Đông Bắc. Ngoài ra, hiện nay, tôi đang công tác tại Bảo
tàng Dân tộc học Việt Nam, với nhiệm vụ thuyết minh cho khách tham quan trong
nhà ở của các tộc người thiểu số ở Việt Nam như: Công trình Vietnam Traditional
Folk Houses (Nhà ở cổ truyền Việt Nam) do Bộ Văn hóa - thông tin phối hợp với
trường Đại học phụ nữ Showa thuộc Viện nghiên cứu Văn hóa quốc tế Nhật Bản
nghiên cứu và xuất bản năm 2000. Các công trình nghiên cứu của các học giả nước
ngoài nghiên cứu về kiến trúc nhà ở nói chung và các tộc người nói riêng hầu hết
đều mang tính khái quát.
2.2. Nghiên cứu của các tác giả Việt Nam
2.2.1. Tổng quan nghiên cứu về nhà ở các dân tộc Việt Nam
Đối với các học giả trong nước, nhà ở cũng được các nhà nghiên cứu trú
trọng và quan tâm. Công trình nghiên cứu “Nhà ở cổ truyền của các dân tộc Việt
Nam” xuất bản năm (1993) của tác giả Nguyễn Khắc Tụng đã khảo tả khá chi tiết
các loại nhà ở truyền thống của 22 dân tộc thuộc 5 nhóm ngôn ngữ. Trong đó có đề
cập đến nhà của nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Trong cuốn sách này tác giả cũng giới
thiệu về một số ngôi nhà của người Tày, Nùng cùng với các hình vẽ minh họa chi
tiết về mặt bằng sinh hoạt cũng như các kỹ thuật về các vì kèo, cột. Tuy vậy, tác giả
vẫn chủ yếu tập trung giới thiệu khái quát một ngôi nhà cổ truyền về mặt kỹ thuật
dựng và cách bố trí không gian sinh hoạt còn các yếu tố về sinh hoạt văn hóa, các
nghi thức nghi lễ liên quan đến dựng nhà và diễn ra trong ngôi nhà ít được đề cập
đến.
Kể từ những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, khi trên sách báo khoa học bắt đầu
xuất hiện các công trình nghiên cứu về nhà ở các dân tộc nước ta thì nghiên cứu về
nhà ở với cách nhìn là một hiện tượng văn hóa tộc người ngày càng thu hút được sự
3
quan tâm các nhà dân tộc học trong nước. Về số lượng các công trình, năm 1986,
hai nhà dân tộc học Ngô Đức Thịnh và Chu Thái Sơn [56, tr.75] cho biết rằng, đã có
nhiều luận văn hướng sự chú ý vào đề tài này, trong đó các tác giả trong nước có
hơn 70 công trình, còn có tác giả ngoài nước có khoảng 40. Nội dung những luận
khái niệm “nhà”, rồi phân biệt sự khác nhau giữa các thành tố văn hóa trong cùng
một ngôi nhà như “cái tạo nên ngôi nhà” và “cái thuộc về ngôi nhà”, phân biệt hai
dạng mặt bằng của ngôi nhà: mặt bằng thiết kế và mặt bằng sinh hoạt. Bên cạnh đó,
tác giả còn nêu lên một số phương pháp, một số nguyên tắc cần được áp dụng vào
việc nghiên cứu nhà cửa của Nguyễn Khắc Tụng đối với ngành Dân tộc học Việt
Nam, mà chúng tôi thấy các nhà dân tộc học sau này đã tiếp thu và thể hiện trong
các công trình nghiên cứu về nhà ở của họ. Như vậy, ngoài khối lượng lớn về tư
liệu, cuốn sách còn đóng góp nhất định về lý luận và phương pháp nghiên cứu về
nhà ở cổ truyền của các dân tộc nước ta với tư cách là một thành tố văn hóa tộc
người.
2.2.2. Tổng quan nghiên cứu về nhà ở của người Tày
Tư liệu điền dã năm 1990 của tác giả Hoàng Minh Lợi lưu tại thư viên Viện
Dân tộc học với tựa đề “Nhà cửa và trang phục của người Tày và Nùng ở Cao
Bằng, Lạng Sơn” cũng đã bước đầu đề cập đến hai loại nhà chính là: Nhà sàn và nhà
đất. Trong đó, tác giả đi sâu về các phần: Kết cấu kỹ thuật; kết cấu mặt bằng; quá
trình dựng một ngôi nhà sàn cùng với những phong tục tập quán và quan niệm có
liên quan. Song tác giả Hoàng Minh Lợi cũng chỉ chú ý phân tích đặc điểm về nhà ở
truyền thống của người Tày, Nùng mà chưa đề cập đến những yếu tố văn hóa tinh
thần có liên quan cũng như sự biến đổi của nó.
Tác phẩm “Nhà sàn truyền thống của người Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam”
của tác giả Ma Ngọc Dung (2004) không chỉ đề cập đặc điểm về môi trường, tự
nhiên ở vùng Đông Bắc, nơi có người Tày cư trú mà còn cho thấy một số đặc trưng
văn hóa Tày. Trong tác phẩm này, tác giả bước đầu đề cập đến các nguyên vật liệu,
quá trình làm nhà sàn của người Tày; sơ lược về lịch sử nhà ở của ngôi nhà sàn
đồng thời ông cũng cấu trúc chung của ngôi nhà sàn của tộc người Tày; những đặc
điểm chung, riêng trong sinh hoạt và những kiêng kỵ có liên quan đến ngôi nhà sàn
5
6
Những tài liệu nói trên là nguồn tư liệu phong phú, giúp tác giả luận văn có cái nhìn
khái quát về lĩnh vực nhà ở nói chung của người người Tày nói riêng. Đây là nguồn
tư liệu quý, gợi mở và được tác giả kế thừa cho luận văn: “Nhà ở của người Tày ở
xã Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”.
3. Mục đích nghiên cứu
- Cung cấp một cách có hệ thống tư liệu về giá trị văn hóa, xã hội của người
Tày thông qua ngôi nhà sàn của người Tày ở xã Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh
Thái Nguyên.
- Nêu lên những biến đổi ngôi nhà sàn của người Tày ở xã Bình Yên, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên và xác định yếu tố tạo nên sự biến đổi đó.
- Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể thông qua ngôi nhà của người Tày ở Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên nói
riêng và người Tày nói chung.
4. Đối tƣợng, phạm vi, địa bàn nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn
Đối tượng nghiên cứu chính là nhà ở của người Tày ở xã Bình Yên, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận văn này là tập trung nghiên cứu các
yếu tố xã hội và phong tục tập quán liên quan đến ngôi nhà sàn của người Tày ở xã
Bình Yên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Luận văn nghiên cứu về nhà ở của người Tày trước và sau năm đổi mới
(1986).
4.3. Địa bàn nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu chính của luận văn này là ở xã Bình Yên, huyện Định
Hóa, tỉnh Thái Nguyên nơi có nhiều người Tày cư trú. Đây là nơi còn lưu giữ được
phân tích, hệ thống, so sánh lịch đồng đại và lịch đại trong việc tìm hiểu về nhà ở
của người Tày.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Là công trình có tính hệ thống chuyên sâu về nhà ở với các yếu tố xã hội
và phong tục tập quán liên quan đến ngôi nhà của người Tày tại xã Bình Yên, huyện
8
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên đồng thời nêu lên các biến đổi của ngôi nhà cũng như
các yếu tố tác động đến sự biến đổi đó.
6.2. Đề tài này còn góp phần xây dựng chương trình giáo dục về văn hóa
truyền thống, tạo nên ý thức trách nhiệm về giữ gìn di sản văn hóa người Tày trong
cộng đồng/khách tham quan tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng như tại cộng
đồng người Tày ở huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
6.3. Những kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở khoa học bước đầu
nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Tày
thông qua nhà ở của họ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và khái quát địa bàn nghiên cứu.
Chương 2: Các yếu tố vật chất, xã hội và phong tục tập quán liên quan đến
ngôi nhà.
Chương 3: Biến đổi của ngôi nhà và việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn
hóa của nhà ở của người Tày.
9
Chƣơng 1
Như vậy, có thể nói nhà ở vừa là nơi con người trú ngụ, vừa là chỗ cất giữ
hạt giống lương thực, thực phẩm... sau đó con người đã sáng tạo ra nhiều loại nhà
với các công dụng khác nhau: Nhà ở, nhà kho, nhà công cộng, nhà phục vụ cho các
nghi lễ, tôn giáo tín ngưỡng... của tộc người.
Nhà của các dân tộc dù với các kiểu kiến trúc khác nhau nhưng đều là sản
phẩm do bàn tay, khối óc con người sáng tạo. Kết cấu ngôi nhà, cách bài trí không
gian sinh hoạt... trong đó cấu trúc của ngôi nhà tùy thuộc vào sở thích, thói quen,
nhu cầu sử dụng của mỗi tộc người để từ đó tạo ra các yếu tố mang tính tộc người
và những yếu tố mang tính địa phương. Hiện nay, có nhiều định nghĩa về nhà ở của
nhiều tác giả khác khác nhau, nhưng đa số ý kiến thống nhất cho rằng: nhà ở không
chỉ là không gian nhân tạo dùng để cư trú mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa,
sáng tạo văn hóa của con người. Vì thế nhà ở thường biến đổi theo sự phát triển của
văn hóa và sự thay đổi của môi trường sinh thái, biến đổi về môi trường xã hội.
Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Nhà sàn là nhà có sàn để ở, làm ở lưng chừng
cột cách mặt đất hay mặt nước một khoảng, thường thấy ở miền rừng núi hay trên
các mặt hồ rộng [75, tr.70].
- Văn hóa (cutural) là khái niệm mang nội hàm rộng có rất nhiều cách hiểu
khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người.
Theo từ điển Tiếng Việt [75, tr.1100]: “Văn hóa là tổng thể nói chung
những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”.
E.B. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về
tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng nghệ thuật, đạo đức, luật
pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với
tư cách một thành viên của xã hội” [68, tr.13].
Theo định nghĩa của UNESCO năm 2002: Văn hóa nên đề cập đến như là
một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất trí thức và xúc cảm của một
xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn hóa và nghệ
thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị truyền thống và đức
tin.
Nghiên cứu ngôi nhà sàn là nghiên cứu về giá trị văn hóa vật chất (vật thể) là ngôi
nhà và văn hóa tinh thần (phi vật thể) bao gồm các sản phẩm tinh thần như phong
tục tập quán, tri thức dân gian và các yếu tố tinh thần khác chứa đựng trong ngôi
nhà.
12
1.2. Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa:
Được trường phái nhân học Anglo Saxon đưa vào Mỹ cuối thế kỷ XIX để
chỉ sự tiếp xúc rộng rãi lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của sự
tiếp xúc này là sự thay đổi hay biến đổi của một số loại hình văn hóa của cả hai nền
văn hóa đó [67, tr.12]. Theo các nhà Nhân học Mỹ, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa là
quá trình một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng của một nền văn hóa bằng cách
vay mượn bằng nhiều nét đặc trưng của một nền văn hóa ấy. Vì thế sự giao lưu, tiếp
biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, đó là sự trao đổi của
những đặc tính văn hóa nảy sinh các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục.
Từ điển Nhân học cho rằng: Tiếp biến văn hóa còn có thể được cấu trúc rõ
ràng về mặt xã hội như trong trường hợp xâm lược hay trong tình trạng bất bình
đẳng về mặt xã hội hoặc chính trị khác định hướng dòng chảy của các yếu tố văn
hóa. Tiếp biến văn hóa bao gồm các quá trình khác nhau, gồm khuyếch tán, thích
nghi mang tính ứng phó, các loại hình thái tổ chức xã hội và văn hóa khác nhau sau
tiếp xúc và giải văn hóa hay phân giải văn hóa. Một loạt các điều chỉnh phát sinh,
gồm việc có được sự tự trị đáng kể văn hóa hay điển hình hơn, là sự đồng hóa của
nhóm tiếp xúc yếu hơn bởi nhóm tiếp xúc mạnh hơn và sự hỗn dung văn hóa, nhờ
đó hai văn hóa có thể trao đổi đủ các yếu tố để sau đó tạo ra một văn hóa riêng [67,
tr.12].
Như vậy lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa cho thấy, biến đổi là tất yếu
của mọi sự vật, hiện tượng, trong đó có văn hóa tộc người. Ngày nay, dưới tác động
của quá trình phát triển, toàn cầu hóa và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ, sự giao
mang tính chất cộng đồng, làng xóm.
- Lý thuyết sinh thái văn hóa
Được ra đời vào năm 1950 và gắn với tên tuổi của nhà nhân học người Mỹ
Julian Steward. Lý thuyết sinh thái văn hóa tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa
con người - môi trường - văn hóa. Lý thuyết sinh thái văn hóa đưa ra phương pháp
nghiên cứu đòi hỏi phải làm rõ quan hệ giữa văn hóa và môi trường, từ quan điểm
con người là chủ thể tồn tại thích ứng với môi trường thông qua văn hóa, còn văn
hóa chịu ảnh hưởng lớn của các tài nguyên môi trường mà con người sử dụng.
Trong những khu vực khác nhau nhưng có môi trường giống nhau và phương pháp
khai thác môi trường giống nhau thì có khả năng có nền văn hóa song hành.
14
Khi thuyết sinh thái văn hóa ra đời, nó đã được vận dụng khá rộng rãi ở
nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có khá nhiều nghiên cứu ở Việt Nam. A.
Terry Rambo, trong công trình nghiên cứu của mình là: “Văn hóa như là một hệ
thống thích nghi” đã dựa vào lý thuyết sinh thái văn hóa để phân tích và làm rõ
được mối quan hệ giữa bệnh sốt rét với tái định cư và phong tục nhà ở miền núi
phía Bắc Việt Nam.
Khi nghiên cứu về nhà ở, Chu Thái Sơn - nhà Dân tộc học Việt Nam đã viết:
“Nhìn chung, mỗi dân tộc đều có một kiểu nhà để ở”. Kiểu nhà đó phụ thuộc vào
địa hình của nơi cư trú, tùy thuộc vào các nguồn nguyên liệu xây dựng có sẵn ở địa
phương, vào trình độ kỹ thuật của cư dân, vào phương thức sinh hoạt kinh tế của
cộng đồng, vào thang bậc của chế độ xã hội mà cư dân đạt tới, vào hình thức tổ
chức của gia đình, vào kiểu thẩm mỹ, vào khả năng kinh tế và nhất là các truyền
thống văn hóa của mỗi tộc người” [56, tr.71].
1.3. Khái quát về địa bàn nghiên nghiên cứu
1.3.1. Khái quát về tỉnh Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, thuộc vùng trung du - miền núi Đông
thấp dần từ bắc xuống nam. Bao quanh phía tây nam và phía bắc là những dãy núi
Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn. Phía tây nam có dãy Tam Đảo với đỉnh cao nhất
1.591m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam. Dãy
Ngân Sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy theo hướng đông bắc - tây nam đến Võ Nhai.
Dãy núi Bắc Sơn chạy theo hướng tây bắc - đông nam.
Được ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều là những dãy núi hình
cánh cung che chắn nên Thái Nguyên ít chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa đông bắc.
Địa hình của Thái Nguyên với nhiều đồi thấp, thuận lợi cho phát triển nông, lâm
nghiệp và xây dựng các công trình công nghiệp [21, tr.39].
Thái Nguyên là một tỉnh giàu tài nguyên. Vì thế ngay từ thời xa xưa đã thu
hút dân cư ở nhiều vùng đồng bằng và các vùng lân cận để khai khẩn, làm ăn sinh
sống. Trải qua quá trình diễn biến của lịch sử, cùng với các hoạt động chính trị - xã
hội cũng như phát triển kinh tế, nơi đây đã trở thành vùng đất hội nhập dân cư từ
phía bắc xuống và vùng đồng bằng phía nam lên sinh cơ lập nghiệp [21, tr.101].
Thái Nguyên là một tỉnh có nhiều dân tộc mang nguồn gốc bản địa như
người Kinh, người Tày. Có dân tộc nhập cư trong những thế kỷ gần đây như Nùng,
16
Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Hmông, Hoa. Người Kinh chiếm tỷ trọng chính chiếm
75,38% dân số trong tỉnh; người Tày xếp thứ hai sau người Kinh, tập trung đông
nhất là huyện Định Hóa.
Theo tổng dân số toàn quốc năm 2009, toàn tỉnh Thái Nguyên có 1.127.170
người, mật độ dân số 319,07 người/km2, lớn nhất trong các tỉnh miền núi phía Bắc
Việt Nam [21, tr.103].
Thái Nguyên là một trong số 38 tỉnh, thành có số dân từ trên 1 triệu người trở
lên. Vào năm 1991, tỉnh Thái Nguyên có số dân bằng 1,38% tổng số dân cả nước.
Đến năm 1995, tỷ lệ này là 1,40% và đến năm 2003, dân số toàn tỉnh Thái Nguyên
bằng 1,34% tổng số dân của cả nước [21, tr.103].
Người Tày - Thái cổ đã có mặt ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, có
thể từ nửa cuối thiên niên kỷ I trước Công Nguyên. Trải qua quá trình lịch sử lâu
dài hàng nghìn năm, chịu những ảnh hưởng nhất định đến từ dân tộc này hay dân
tộc khác, họ dần dần bị phân hóa, trở thành những bộ phận cư dân khác nhau. Bộ
phận sinh sống ở vùng trung du hòa vào người Việt, trở thành bộ phận dân tộc Việt
với một số đặc trưng riêng, mang tính địa phương khá rõ nét. Trong khi đó, bộ phận
cư trú ở miền núi chịu ảnh hưởng sâu sắc của người Việt, trở thành tổ tiên của
người Tày hiện nay [77, tr.23]. Lịch sử, tộc người Tày có mối quan hệ gần gũi về
nhiều mặt với các dân tộc khác trong nhóm ngôn ngữ Tày - Thái cùng cư trú ở phía
Đông Bắc Việt Nam trong đó có người Nùng, người Cao Lan (thuộc nhóm dân tộc
Sán Chay), người Giáy, người Bố Y và trong chừng mực nào đó với cả người
Choang ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc).
Ở Việt Nam, tộc người Tày là sự tập hợp của nhiều thành phần như người
Tày bản địa, người Tày gốc Kinh, người Tày gốc Tày, Thái, Nùng từ Trung Quốc di
cư sang. Người Tày hiện nay, chia làm 4 nhóm địa phương: Pa Dí, Thu Lao, Ngạn
và Phén. Mỗi nhóm có những nét đặc trưng riêng, tương đối dị biệt so với cộng
đồng người Tày nói chung. Riêng người Tày ở một số huyện thuộc Tuyên Quang và
Thái Nguyên còn tự gọi mình là “Tày Măng giang” (Tày Mảy rạng) hoặc “Tày
Mục” (Tày Đooc) để phân biệt với Tày nói theo các phương ngôn khác mà họ gọi là
Tày Thúa.
Người Tày chủ yếu sinh sống ở các vùng thung lũng, vùng giữa nơi có đất
đai màu mỡ, gần nguồn nước, giao thông đi lại thuận tiện.
18
Người Tày ở Thái Nguyên có dân số đông thứ hai sau người Kinh (Việt).
Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Thái Nguyên có 123.197
nhân khẩu, chiếm 11% dân số toàn tỉnh . Người Tày cư trú ở hầu hết các huyện, thị
xã, thành phố, trong tỉnh, tập trung đông nhất là ở huyện Định Hóa. Trong số các