MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
5.Phƣơng pháp nghiên cứu
6. Đóng góp của đề tài
7. Bố cục
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI TÀY Ở XÃ BÌNH DƢƠNG,
HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG
1.1. Đặc điểm tự nhiên
1.2. Đặc điểm xã hội
1.3. Giới thiệu về ngƣời Tày ở Xã Bình Dƣơng
1.3.1. Nguồn gốc lịch sử
1.3.2. Cấu trúc và phân bố dân cƣ
1.3.3. Tập quán mƣu sinh
1.3.4. Xã hội truyền thống
1.3.5. Đặc điểm văn hóa vật chất
1.3.6. Đặc điểm văn hóa tinh thần
Chƣơng 2: CÁC MÓN ĂN TRONG NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN CỦA
NGƢỜI TÀY Ở XÃ BÌNH DƢƠNG TRONG TRUYỀN THỐNG
2.1. Khái quát về ngày Tết Nguyên đán ở xã Bình Dƣơng
2.2. Các món ăn và cách chế biến món ăn trong ngày Tết
2.2.1. Những món ăn đƣợc chế biến từ gạo
2.2.2. Những món ăn chế biến từ thịt
2.2.3. Những món ăn khác
2.2.4. Những món ăn chế biến từ cá
2.2.5. Món nƣớc chấm ớt
2.3. Đồ uống, hút
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Bản sắc văn hóa Việt Nam là thể
thống nhất văn hóa của các dân tộc sống trên đất nƣớc Việt Nam .Tính thống
nhất ấy không chỉ là phép cộng đơn giản, các dân tộc chỉ có thể đóng góp và làm
nên sự phong phú của văn hóa Việt Nam với điều kiện không đánh mất bản sắc
văn hóa tộc ngƣời. Nền văn hóa này đã chịu đc sự thử thách và khảo nghiệm lịch
sử trong quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc. Chúng ta đang xây dựng và phát triển
một nền văn hóa Việt Nam với tất cả sự phong phú và độc đáo của 54 dân tộc
đang sinh sống trên đất nƣớc ta. Vì vậy việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc
là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại đối với
mỗi dân tộc.
Ngƣời Tày là một tộc ngƣời có nguồn gốc bản địa ở Việt Nam, họ đã
xây dựng nên một nền văn hóa đa dạng, phong phú . Nói đến ngƣời Tày, ngƣời
ta không thể không nhắc đến những điệu Then, sli, lƣợn ngọt ngào; những sắc
màu chàm truyền thống đơn giản nhƣng độc đáo; những món ăn dân dã mang
đậm chất núi rừng,...Họ phân bố trên phạm vi rộng từ biên giới phía Bắc của
các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai... xuống vùng trung du, từ biên giới phía
đông của tỉnh Quảng Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng qua huyện Văn Chấn tỉnh Yên
Bái và huyện Đài Bắc tỉnh Hòa Bình. Cao Bằng là một trong những tỉnh có
đồng bào Tày có mặt lâu đời và có dân số đông .
Do sớm có mặt ở Cao Bằng nói chung và xã Bình Dƣơng nói riêng
chiếm tỉ lệ dân số khá đông, trong tiến trình phát triển của lịch sử đồng bào Tày
ở nơi đây đã sớm xây dựng cho mình một nền văn hóa truyền thống phong phú
và đa dạng, góp phần xây dựng nên truyền thống văn hóa Việt Nam.
Nhƣng bên cạnh văn hóa truyền thống riêng vốn có của mình , dân
tộc Tày luôn tiêp thu và giao tiếp văn hóa với các dân tộc anh em, trong đó có
đồ ăn, uống . Do đó , trong đồ ăn uống của ngƣời Tày luôn có sự pha trộn và
thống nhất giữa cái truyền thống của dân tộc mình và tiếp thu về mặt nguyên
3
Các tác phẩm nghiên cứu về đồ ăn uống của ngƣời Tày nhƣ :
4
Cuốn Văn hóa ẩm thực của các Dân tộc thiểu số Việt Nam vùng Đông Bắc
của Nguyễn Thị Hồng Mai cũng đã đề cập đến văn hóa ẩm thực của các dân tộc
thiểu số vùng Đông Bắc nói chung, trong đó có ngƣời Tày. Và cuốn Văn hóa
ẩm thực của dân tộc Tày của Ma Ngọc Dung cũng đã nêu lên một số cách cụ
thể về văn hóa ẩm thực của dân tộc Tày nói chung, nhƣng chƣa đi đƣợc cụ thể
ngƣời Tày ở từng khu vực cƣ trú.
Nhƣ vậy các tác phẩm trên đã phản ánh một bƣớc tiến lớn trong lịch sử
nghiên cứu về văn hóa dân tộc Tày trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Song phần lớn các tác phẩm nghiên cứu trên một phạm vi rộng với những đặc
trƣng văn hóa của dân tộc Tày nói chung, chƣa làm rõ đƣợc những sắc thái
phong phú, đa dạng của văn hóa Tày ở từng địa phƣơng. Mặc dù vậy, các công
trình của các nhà nghiên cứu đi trƣớc đã tạo ra những cơ sở, điều kiện để tôi
tiếp tục khai thác,làm rõ hơn về đời sống văn hóa dân tộc Tày ở xã Bình Dƣơng,
huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài này nhằm tìm hiểu tập quán ăn uống ngày Tết Nguyên Đán
truyền thống của ngƣời Tày ở xã Bình Dƣơng, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng,
cũng nhƣ những xu hƣớng biến đổi trong tập quán ăn uống ngày Tết của đồng
bào hiện nay. Từ đó, bƣớc đầu xây dựng những cơ sở khoa học cho việc đề xuất
một số kiến nghị, giải pháp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ẩm thực
tốt đẹp của ngƣời Tày ở Bình Dƣơngtrong phát triển bền vững thời hội nhập.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài có những nhiệm vụ cụ thể
nhƣ sau:
Khái quát đƣợc ngƣời Tày ở xã Bình Dƣơng, huyện Hòa An, tỉnh Cao
Bên cạnh đó, tôi cũng sử dụng phƣơng pháp thống kê , tổng hợp để
thu thập những tài liệu hiện có của địa phƣơng nơi nghiên cứu về những nội
dung liên quan về đề tài, nhƣ các báo cáo và số liệu thống kê.
Phƣơng pháp tổng hợp, phân tích: tổng hợp, tham khảo tài liệu từ
những công trình đã công bố về ẩm thực, đặc biệt là ẩm thực ngƣời Tày.
6
6. Đóng góp của đề tài.
Cung cấp những tƣ liệu mới về ẩm thực ngày tết Nguyên Đán của ngƣời
Tày ở xã Bình Dƣơng, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
Chỉ ra đƣợc những giá trị truyền thống tốt đẹp trong ẩm thực của
ngƣờin Tày tại địa bàn nghiên cứu cần đƣợc bảo tồn và phát huy.
Từ những kết quả nghiên cứu đạt đƣợc đề tài sẽ cung cấp những luận
cứ khoa học cho việc đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm bảo tồn và
phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp trong ẩm thực của ngƣời Tày ở xã Bình
Dƣơng, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
7. Bố cục
Ngoài lời mở đầu, phụ lục, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung bài
tiểu luận đƣợc kết cấu nhƣ sau :
Chƣơng 1: Khái quát về ngƣời Tày ở xã Bình Dƣơng, huyện Hòa An, tỉnh
Cao Bằng Tày
Chƣơng 2: Những món ăn ngày Tết Nguyên Đán truyền thống của ngƣời
Tày ở xã Bình Dƣơng , huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
Chƣơng 3: Những biến đổi trong ẩm thực ngày Tết Nguyên Đán của ngƣời
ở xã Bình Dƣơng , huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng hiện nay.
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI TÀY Ở XÃ BÌNH DƢƠNG,
HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG
Địa hình xã Bình Dƣơng chủ yếu là đồi núi chiếm 60% diện tích tự
nhiên. Độ cao trung bình là 300m so với mực nƣớc biển, thấp dần từ tây sang
đông. Xã có rất ít các ngọn núi cao, chủ yếu là địa hình núi đồi thấp thuận lợi
cho việc sản xuất nông nghiệp của dân cƣ
8
1.1.3. Khí hậu
Khí hậu ở xã Bình Dƣơng thuộc loại khí hậu lục địa, nhiệt đới gió
mùa, một năm thƣờng chia làm hai mùa khô và mƣa rõ rệt. Mùa mƣa bắt đầu từ
tháng 4 đến tháng 9 hàng năm. Thời tiết mùa này thƣờng ẩm ƣớt, oi bức, nóng
nực và thƣờng có bão lớn và mƣa to. Lƣợng mƣa trung bình từ 200- 250ml,
nhiệt độ trung bình từ 20- 24oc , mùa mƣa bắt đầu từ từ tháng 10 năm trƣớc đến
tháng 3 năm sau. Mùa này khí hậu ôn đới mát mẻ, gió lạnh hay có sƣơng mù, có
nhiều năm một số nơi xuất hiện sƣơng muối. Gió mùa đông bắc thƣờng xuyên
thổi đến gây khô và lạnh. Nhiệt độ trung bình là 12- 15o c.
1.1.4. Các tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên nƣớc :
Do địa hình núi đồi, chia cắt tƣơng đối mạnh, nên Bình Dƣơng có nhiều
sông suối. Đáng kể nhất, ở xã có con sông Hiến chảy qua, sông có lòng sâu,
rộng rất thuận tiện cho giao thông vận tải. Hệ thống sông Hiến và các nhánh đã
bồi đắp nên những cánh đồng tƣơng đối bằng phẳng và phì nhiêu. Ngoài ra, ở xã
còn có hồ Khuổi Lái để cung cấp nƣớc cho vụ mùa và có tiềm năng phát triển du
lịch lớn.
Tài nguyên đất:
Do địa hình chủ yếu là đồi núi thấp nên xã Bình Dƣơng có nhiều diện tích
để trồng trọt. Diện tích để trồng lúa của xã là 170 ha, diện tích để trồng ngô là
là 352 ha và diện tích đất để trồng các loại cây hoa màu khác là 20 ha.
Tài nguyên rừng:
Cho đến nay, diện tích rừng ở xã còn khá lớn, chue yếu là rừng tự nhiên .
1.2.. Đặc điểm văn hóa - xã hội
Về giáo dục- Đào tạo :
Trên địa bàn xã có hệ thống trƣờng học từ cấp mẫu giáo đến cấp tiểu
học, cấp II. Toàn xã hiện nay đã phổ cập xong giáo dục tiểu học và trung học cơ
sở. Chất lƣợng dạy và học ngày càng đƣợc nâng cao, các cơ sở vật chất, trang
thiết bị phục vụ cho việc dạy và học ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu dạy
và học.
Y tế
10
Mạng y tế cũng đƣợc đầu tƣ nâng cấp đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh
cho ngƣời dân . Trạm xá có đội ngũ bác sĩ, y tá ngày càng đƣợc bổ sung, nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ , chăm sóc sức khỏe cho bà con
Cùng với sự phát triển kinh tế thì văn hóa- xã hội trong huyện hiện nay
cũng đang đƣợc đầu tƣ phát triển. Các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục thể
thao đang đƣợc đẩy mạnh. Các tệ nạn xã hội cũng đang đƣợc đƣợc đấu tranh
ngăn chặn và thu đƣợc nhiều kết quả đáng kể.
Công tác lao động- thƣơng binh xã hội tiếp tục đƣợc chỉ đạo xây dựng
các mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm. Ban Thƣơng binh xã hội thực hiện
các nhiệm vụ giải quyết chế độ chính sách cho các đối tƣợng thƣơng binh,
bệnh binh, quân nhân tham gia kháng chiến và nhiều chế độ khác .. đáp ứng nhu
cầu của bà con trong xã, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, vƣơn lên xóa đói
giảm nghèo, từng bƣớc đi lên xây dựng đời sống kinh tế mới.
1.3. Giới thiệu ngƣời Tày ở xã Bình Dƣơng
1.3.1. Nguồn gốc lịch sử
Trên lãnh thổ Việt Nam, ngƣời Tày sống rải rác và xen kẽ với nhiều dân
tộc anh em khác ở Đông Bắc Bộ, bao gồm các tỉnh: Cao Bằng, Hà Giang,
Tuyên Quang, Lạng Sơn, Yên Bái, Lào Cai, Quảng Ninh, Bắc Cạn, Thái
Nguyên. Từ sau năm 1975 đến nay, một số bộ phận ngƣời Tày đã di cƣ vào các
mẹ và tự coi mình là ngƣời Tày.
Từ hoàn cảnh đó đã làm cho ngƣời Tày lƣu quan với ngƣời Tày ở địa
phƣơng sát nhập, đồng hóa một cách tự nhiên. Ngƣời Tày lƣu quan có mang nền
văn hóa dƣới xuôi lên miền núi, nên về sau, văn hóa miền núi cũng chịu nhiều
ảnh hƣởng của văn hóa miền xuôi. Song do điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên
và xã hội miền núi chịu chi phối, ngƣời Tày vẫn giữ đƣợc sắc thái riêng về
phong tục tập quán của mình. Cùng với sự phát triển về kinh tế, đấu tranh sinh
tồn, ngƣời Tày đã làm nên một truyền thống lịch sử văn hóa đồ sộ, phong phú.
Dân tộc Tày là một dân tộc định cƣ lâu đời ở Cao Bằng , chiếm đa số, sinh sống
ở các huyện thị trong tỉnh, nhƣng tập trung đông nhất là ở huyện Hòa An, trong
đó có xã Bình Dƣơng. Mọi giai đoạn lịch sử ở Cao Bằng, ngƣời Tày vẫn giữ vai
trò trung tâm trong khối đại đoàn kết các dân tộc, trong tất cá các lĩnh vực đời
12
sống xã hội nhƣ : chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng.., ngƣời Tày
luôn giữ vai trò nòng cốt. Bản sắc văn hóa của ngƣời Tày có vai trò nền tảng
trong bản sắc văn hóa các tộc ngƣời ở Cao Bằng.
1.3.2. Cấu trúc và phân bố dân cƣ
Xã Bình Dƣơng là mảnh đất giàu tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội.
Xã có dân số khá đông , hơn 1.393 ngƣời theo tổng điều tra dân số năm 1999,
mật độ dân cƣ đạt 42 ngƣời/km².. trong đó có 5 thành phần dân tộc gồm : Tày,
Nùng, Mông, Dao và một bộ phận nhỏ ngƣời Kinh, trong đó dân đông nhất là
ngƣời Tày chiếm 70%. Dân số đƣợc phân bố trong 8 xóm, tập trung ở những
nơi gần nguồn nƣớc , địa hình bằng phẳng và trục đƣờng giao thông. Cƣ dân
nơi đây sinh sống bằng kinh tế nông nghiệp lúa nƣớc, nƣơng rẫy, cây hoa màu
và một bộ phận buôn bán ở nhũng trục đƣờng chính. Các dân tộc cƣ trú gần gũi
với nhau, cùng đoàn kết xây dựng và phát triển quê hƣơng.
1.3.3. Tập quán mƣu sinh
* Trồng trọt
nhƣ tre, nứa, giang, mây.
Nghề mộc của ngƣời Tày chủ yếu là do đàn ông đảm nhiệm, họ tận dụng
các cây gỗ trong tự nhiên . Qua bàn tay khéo léo , họ đã sản xuất đƣợc những
chiếc giƣờng, bàn ghế, tủ.. , phục vụ cho việc làm nhà cửa, đình miếu...
* Khai thác nguồn lợi từ tự nhiên
Săn bắt, hái lƣợm là hoạt động kinh tế phụ gắn bó với cuộc sống thƣờng
ngày của ngƣời Tày ở xã Bình Dƣơng. Các loại rau rừng nhƣ : rau ngót rừng,
rau dớn, măng, mộc nhĩ.. đƣợc khai thác một cách hợp lí để cung cấp thêm thực
phẩm cho bữa ăn hàng ngày. Hoạt động săn bắt chim thú cũng thƣờng diễn ra để
bổ sung cho bữa ăn và là công việc do đàn ông đảm nhiệm
*Trao đổi mua bán
Do sinh sống ở địa bàn tƣơng đói thuận tiện, chỉ cachs trung tâm huyện
và thành phố gần 20km nên hoạt động trao đổi, mua bán trong xã khá phát triển.
Chợ phiên có vai trò rất quan trọng ở nơi đây, chợ không chỉ là nơi gặp gỡ của
mọi ngƣời mà quan trọng là nơi để trao đổi buôn bán các loại lƣơng thực, thực
phẩm, nông cụ sản xuất, đồ gia dụng, hàng tiêu dùng...
14
Tóm lại, tập quán mƣu sinh truyền thống của ngƣời Tày ở xã Bình
Dƣơng thì trồng trọt luôn đóng vai trò chính. Chăn nuôi, nghề thủ công chỉ đóng
vai trò phụ và luôn phụ thuộc vào trồng trọt. Chăn nuôi nhằm cung cấp sức kéo ,
vận chuyển cho trồng trọt và cung cấp phân hữu cơ phục vụ cho thâm canh. Tất
cà hòa với nhau trong một tổng thể kinh tế, hỗ trợ nhau và tạo điều kiện cho
nhau phát triển.
1.3.4. Xã hội truyền thống
Cấu trúc làng bản
Ngƣời Tày ở Bình dƣơng thƣờng cƣ trú với nhau theo từng làng, bản.
Ngoài ra họ còn sống chung với ngƣời Nùng hoặc ngƣời Kinh trong vài bản
khác. Nơi cƣ trú của ngƣời Bình Dƣơng thƣờng nằm ven những quả đồi thấp
định và mang tính chất mua bán thể hiện qua khoản tiền thách cƣới cao và các lễ
vật nà trai nộp cho nhà gái trƣớc và trong lễ cƣới
Các nghi thức trong cƣới xin của họ cũng rất đa dạng và phức tạp gồm một
số nghi lễ cính nhƣ lễ dạm hỏi, lễ so lá số, nghi lễ cƣới, lễ lại mặt....
Đám cƣới của ngƣời Tày thƣờng đƣợc tổ chức vào lúc chiều tối (tầm 4 -5
giờ trở đi). Cƣới vào giờ này không ảnh hƣởng đến công việc trong ngày của
mọi ngƣời, ngƣời ở xa mấy cũng đến kịp. Hơn nữa, mọi ngƣời sẽ có thời gian ở
chơi lâu hơn. Tiệc cƣới đƣợc chia làm hai tiệc. Tiệc thứ nhất dành cho ngƣời lớn
tuổi, bậc cha chú, anh em họ hàng. Tiệc thứ hai dành cho nam nữ thanh niên,
bạn bè gần xa của cô dâu chú rể. Tiệc này bắt đầu vào khoảng 7-8 giờ đêm. Ăn
uống xong, mọi ngƣời vẫn ở lại. Ngƣời lớn ngồi uống nƣớc, hàn huyên với gia
chủ. Thanh niên, đám thì tổ chức lày cỏ (một trò chơi nhƣ kiểu oẳn tù tì, ngƣời
thua sẽ bị uống rƣợu phạt), đám thì bên trai bên gái hát lƣợn với nhau. Cuộc vui
ồn ã, kéo dài thâu đêm, mờ sáng mới tan. Theo phong tục, mọi chi phí tổ chức
đám cƣới của nhà gái đều do nhà trai lo liệu hết: tiền mặt, lợn, gà, gạo, rƣợu…
Điều đó có ý nghĩa là nhà trai tỏ lòng biết ơn, mong đền đáp phần nào công lao
dƣỡng dục của bố mẹ cô gái. Nhà gái sẽ trích ra một số tiền để sắm sửa tƣ trang,
cho con gái làm của hồi môn: quần áo mới, vòng bạc, xà tích bạc, chăn màn thổ
cẩm, chiếu hoa… và những đồ gia dụng khác. Còn rƣợu, thịt, gạo nếp, gạo tẻ sẽ
dùng làm cỗ để mời họ hàng, làng xóm. Tất nhiên, hai bên gia đình có thể điều
16
đình với nhau. Tùy theo gia cảnh, nhà gái có thể đòi ít hay đòi nhiều. Có trƣờng
hợp, thấy nhà trai điều kiện kinh tế không mấy dƣ dả, nhà gái chỉ đòi một ít gọi
là, cốt để tránh tiếng là con mình theo không ngƣời ta.
Có một điều đặc biệt là lễ cƣới cử hành xong, cô gái không ở lại nhà chồng
mà quay về nhà bố mẹ đẻ ngay đêm đó. Dù đêm đã khuya, chú rể và đại diện
nhà trai vẫn phải đƣa cô dâu và phái đoàn nhà gái trở về. Nếu vì lý do nào đó
nhƣ đƣờng sá quá xa xôi, không thể về ngay mà phải ở lại thì đêm đó cô dâu và
con sinh ra sẽ ốm yếu, khó nuôi. Trong vòng 1 tháng sau khi sinh, sản phụ
không đƣợc lên nhà ngƣời khác hoặc đi ngang qua đền thổ công hoặc bàn thờ tổ
tiên.. vì sợ đang bẩn mình do đó sẽ làm ô uế cho ngƣời ta và những nơi tôn
nghiêm. Ngƣời ngoài không đƣợc vào nha khi nhà có ngƣời đẻ, ngƣời ta thƣờng
cắm một cành cây xanh ở ngoài cửa ra vào để báo cho mọi ngƣời biết. Sau khi
đẻ sản phụ đƣợc chăm sóc chu đáo. Ngoài ăn thịt gà và cơm nếp với nghệ, ngƣời
ta còn cho sản phụ đu đủ hầm với chân giò.
Trẻ mới sinh ra thƣờng đƣợc đặt những tên xấu xí. Sau này trẻ đầy
tháng ngƣời ta mới chính thức đặt tên cho nó. Theo quan niệm của ngƣời Tày thì
đặt những cái tên xấu xí nhƣ vậy để che mắt ma hoặc để cho vía độc của ngƣời
ngoài khỏi phạm đến chúng.
Tâm lí chung của đồng bào là sinh nhiều con. Nếu lấy nhau lâu mà vẫn
chƣa có con thì ngƣời ta phải mời thầy mo về lập đàn bà mụ và lấy con cháu
trong dòng họ về nuôi với mục đích xƣng hô với nhau đƣợc dễ dàng và “ lót
đƣờng” cho sự ra đời của đứa trẻ.
1.3.5. Đặc điểm văn hóa vật chất
Nhà cửa
Do đặc điểm cƣ trú nên nhà của ngƣời Tày ở đây chủ yếu là nhà đất,
làm bằng gỗ. Còn nhà sàn thì không có hành lang nhỏ chạy suốt mặt trƣớc của
nhà nên cửa chính không nằm ở gian giữa mà lại mở ngay ở sƣờn nhà.
18
Những nhà truyền thống thƣờng là nhà sàn, nhà đất mái lợp cỏ gianh và
một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ. Trong nhà phân biệt phòng
nam ở ngoài, nữ ở trong buồng. Phổ biến là loại nhà đất 3 gian, 2 mái (không có
chái), tƣờng trình đất hoặc thƣng phên nứa, gỗ xung quanh, mái lợp cỏ tranh,
ngói âm dƣơng hoặc tấm Prôximăng. Bố trí mặt bằng sinh hoạt đƣợc quy định
mẹ thƣờng hay làm các loại bánh đặc trƣng để cúng tổ tiên trong ngày lễ đó.
Nhƣ ngày lễ tảo mộ họ làm xôi bảy màu, làm bánh trứng kiến. Dịp tết Đoan ngọ
nguƣời dân làm bánh gio chấm mật, ăn mận, mơ để trừ sâu bọ. Vào Tết rằng
tháng Bảy nhà nào cũng làm “ pẻng tải”, thịt vịt để cúng tổ tiên và là dịp để mọi
ngƣời nghỉ ngơi, gặp gỡ nhau.
Nói đến Cao Bằng, không thể không nói đến những món ăn đặc trƣng
nhƣ : bánh khảo, bánh chè lam, khẩu sli, lợn quay Quảng uyên, vịt thất khê...
Nên ngƣời dân ở đây cũng làm các món này trong các ngày lế tết.
Đồ uống của ngƣời Tày ở Bình Dƣơng chủ yếu là rƣợu, rƣợu dùng trong
các bữa ăn hàng ngày, dùng để tiếp khách, gặp gỡ bạn bè và dùng trong các
ngày lễ. họ còn dùng các lại lá để nấu nƣớc uống nhƣ lá chè xanh, lá vối..
Việc hút thuốc lá ở đây cũng rất phổ biến vì nơi đây cũng dƣợc coi là
nơi trồng nhiều cây thuốc lá.
Ẩm thực của ngƣời Tày ở nơi đây mang đậm chất núi rừng, mang
hƣơng vị đặc trƣng của quê hƣơng khiến những ngƣời con xa quê luôn mong
ngóng về để tìm lại tuổi thơ ngọt ngào bên mâm cơm gia đình, khiến những du
khách ăn một lần không thể nào quên.
1.3.6. Đặc điểm văn hóa tinh thần
Ngôn ngữ, chữ viết
Ngày xƣa, đồng bào Tày ở nơi đây sử dụng ngôn ngữ chính để giao tiếp
là tiếng Tày và sử dụng chữ Nôm Tày.
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, nhiều cơ hội
học tập và giao lƣu giữa các vùng miền và các dân tộc khác, đặc biệt là ngƣời
Kinh nên ngôn ngữ và chữ viết nơi đây đã có nhiều thay dổi. Bây giờ đồng bào
đa phần vẫn sử dụng ngôn ngữ Tày nhƣng lại viết chữ phổ thông. Tuy nhiên,
hiện nay một bộ phận giới trẻ đã không còn biết nói tiếng dân tộc, chỉ nghe đƣợc
20
mà không nói đƣợc. Còn về chữ Nôm Tày chỉ còn bộ phận ít thầy cúng, thầy mo
Trăng và các nàng tiên xuống thăm trần gian và giúp trần gian trong công việc
làm ăn để sinh sống.
Văn học, nghệ thuật dân gian
Ngƣời Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại
thơ, ca, các truyện cổ tích, truyện cƣời dân gian, múa nhạc... Các điệu dân ca
phổ biến nhất là hát lƣợn, hát đám cƣới, ru con. Ngƣời Tày phổ biến hát lƣợn
nhƣ hát ví ở miền xuôi. Hai bên nam nữ hát đối đáp về mọi khía cạnh của đời
sống xã hội, nhất là về tình yêu đôi lứa. Có nhiều điệu lƣợn nhƣ lƣợn Slƣơng,
lƣợn Then, lƣợn Nàng Hai...
Ngƣời Tày còn có các điệu hát Then, gọi là Văn ca, đƣợc ngâm hát
trong đám tang, gọi là hát hội trong các hội Lồng tồng, gọi là Cỏ lẩu trong hát
đám cƣới. Then gắn với đời sống tâm linh và tín ngƣỡng của ngƣời Tày, góp
phần làm nên bản sắc văn hóa của cộng đồng Tày, Nùng. Hát Then, đàn tính là
linh hồn cho các lễ nghi, hội hè. Tiếng đàn tính vang vọng, lời Then ngọt ngào
nồng ấm cùng yêu tố thiêng là món ăn tinh thần hơn tất thảy các món ăn tinh
thần khác. Trƣớc hiện tƣợng văn hoá dân gian tổng thể có tính nguyên hợp hay
một nghi lễ tôn giáo đƣợc diễn xƣớng bằng hình thức hát, hát kể có kèm theo
nhạc và nhảy múa, cùng những biểu tƣợng tôn giáo mang tính tƣợng trƣng nhƣ
hát Then đã đặc biệt gây đƣợc sự quan tâm và chú ý không chỉ với cộng đồng
Tày ở Bình Dƣơng mà cả với các tộc ngƣời khác trong đại gia đình các dân tộc
Việt Nam.
Đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hoá
tinh thần của đồng bào Tày. Nó nhƣ linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ
Tày. Bao đời nay đàn tính nhƣ một phƣơng tiện giao tiếp mang đậm bản sắc
văn hóa dân tộc Tày.
Bên cạnh ca hát, ngƣời Tày ở BÌnh Dƣơng còn có một hình thức sinh
hoạt văn nghệ dân gian khá phổ biến khác là kể chuyện. Vì chuyện thơ dài nên
họ thƣờng kể dƣới hình thức văn xuôi và những đoạn gần nhủ thật hay mới đƣợc
họ giữ nguyên bản. Những câu chuyện nhƣ vậy thƣờng đƣợc ghi lại bằng những
Ngƣời nông dân cũng không quên ơn các loài vật đã cùng họ sớm hôm vất vả
nhƣ trâu, bò, gia súc, gia cầm và các loại cây lƣơng thực, thực phẩm đã nuôi
sống họ. Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, đó là Tết của gia đình, Tết
của mọi nhà. Ngƣời Việt Nam có phong tục hằng năm, mỗi khi năm hết, Tết đến
dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả ngƣời xa xứ cách hàng ngàn ki-lômét vẫn mong đƣợc về sum họp dƣới mái ấm gia đình trong ba ngày Tết, đƣợc
khấn vái dƣới bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà, ngôi mộ, nhìn lại nơi mà một
thời bàn chân bé dại đã tung tăng và mong đƣợc sống lại với những kỷ niệm đầy
ắp yêu thƣơng nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời. Mấy tiếng “Về quê ăn Tết”
không chỉ là khái niệm đi về, mà đằng sau nó là cả một quá trình hành hƣơng về
với cội nguồn, về nơi chôn nhau cắt rốn.
Theo quan niệm truyền thống của ngƣời Việt Nam nói chung và ngƣời
Tày nói riêng, ngày Tết xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng
làng xóm đƣợc mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho xã hội;
24
tình thầy trò, bè bạn cố tri, ông mai bà mối đã tác thành cho đôi lứa.. Tết cũng là
dịp đúc kết mọi hoạt động liên quan đến một năm qua, chào đón một năm mới
với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng. Tết Nguyên Đán là lễ hội
truyền thống mang tính toàn dân. Vì vậy vào những ngày cuối năm, mọi hoạt
động đều hƣớng vào Tết, chuẩn bị cho Tết. Rõ nét nhất là không khí chuẩn bị
nhộn nhịp khẩn trƣơng, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa,
chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp ngƣời thân ở xa về… Theo tập tục, đến ngày
23 tháng Chạp là ngày đƣa tiễn ông Táo về Trời tâu việc trần gian thì không khí
Tết bắt đầu rõ nét.
Ngày xƣa, dƣới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh,
hàng huyện đều nghỉ lễ từ ngày 23 tháng Chạp đến ngày khai hạ (từ 7 tháng
Giêng). Ngày nay, trong thời kỳ hiện địa, việc tổ chức nghỉ Tết, vui Tết đƣợc
quy định hợp lý, khoa học hơn – Vừa văn minh, lịch sự, không lãng phí thời
gian, phù hợp nếp sống công nghiệp vừa bảo lƣu đƣợc bản sắc văn hóa dân tộc