Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Nghề thủ công Việt Nam vốn có truyền thống từ lâu đời, gắn liền với
sản xuất nông nghiệp lúa nước. Nó gúp phần tạo nên bản sắc kinh tế, văn hoỏ
riờng trong cộng đồng làng xã Việt Nam. Chạm khắc đá cũng là một trong số
rất nhiều nghề thủ công truyền thống Việt Nam như thế, đã và đang còn tiếp
tục phát triển ở xã Ninh Vân , Hoa Lư, Ninh Bình.
Nghề chạm khắc đá ở Ninh Vân là hoạt động kinh tế mang ý nghĩa lịch
sử văn hoá, đã và đang góp phần tạo nên một diện mạo mới cho kinh tế địa
phương trong thời kỳ đổi mới, tỡm hiểu về nghề này chúng ta sẽ tìm hiểu sâu
sắc, toàn diện hơn về lịch sử của nghề truyền thống của Hoa Lư cũng như
nghề thủ công ở nhiều nơi khác trong cả nước.
Là một làng nghề thủ công truyền thống nhưng cho đến nay nghề
chạm khắc đá ở Ninh Vân vẫn chưa thực sự được sự quan tâm tìm hiểu một
cách khoa học. Nghiên cứu nghề thủ công chạm khắc đá một cách hệ thống,
hoàn chỉnh từ quá trình hình thành đến các hoạt động tổ chức sản xuất , tiêu
thụ là việc làm thiết thực. Nhằm đánh giá những giá trị kinh tế, văn hoá, xã
hội của nghề trong lịch sử của huyện, tỉnh, đất nước. Đồng thời có thể thấy từ
các sản phẩm thủ công những giá trị nghệ thuật độc đáo, nét tài hoa khéo léo
của thợ thủ công, nghệ nhân.
Nghiên cứu vấn đề này còn là nguồn tư liệu quan trọng phục vụ cho
giảng dạy, học tõp mụn lịch sử ở nhà truờng ở các cấp học, giáo dục tư tưởng,
tình cảm, truyền thống cho thế thệ trẻ ở địa phương.
Nghiên cứu nghề thủ công truyền thống chạm khắc đá là việc làm có
ý nghĩa khoa học và thực tiễn vì vậy em đã chọn đề tài “ Nghề thủ công
truyền thống chạm khắc đá ở xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình từ
năm 1986 đến nay”.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
bản của nghề thủ công truyền thống chạm khắc đá ở Ninh Vân.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Thời Pháp thuộc đã xác định đá ở đây tốt và tiến hành khai thác. Xã Ninh
Vân nằm bên cạnh quốc lộ 1A có ga Cầu Yên trên tuyến đường xe lửa Bắc Nam
thuận tiẹn cho giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá với các địa phương trông cả
nước. Về đường thuỷ Ninh Vân có nhiều sông ngòi nhất là sông Hệ bắt nguồn từ
hạ lưu sông Bến Đang đến xóm Vạn Lê chia thành 2 nhóm đổ về ghềnh và đổ về
Cầu Yên là những con đường giao thông thuận lợi cho việc vận chuyển vật liệu
và các sản phẩm của nghề với các địa phương khác.
2. Nghề thủ công chạm khắc đá truyền thống ở Ninh Vân trước năm 1986
Đồng bằng bắc bộ là cái nôi của rất nhiều nghề thủ công truyền thống
Việt Nam với nhiều làng nghề và nghề nổi tiếng như ở Hải Dương, Hưng
Yên, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, …
Nghề thủ công truyền thống chạm khắc đá thuộc nhóm nghề thủ công
mỹ nghệ của Việt Nam. Trên phạm vi cả nước nghề chạm khắc đá truyền
thống được điểm đến, có không nhiều ở các địa phương.
Đối với Ninh Bình thì nghề chạm khắc đá cũng đó cú từ lâu đời.Nhưng chưa
có công trình nào xác định được thời gian xuất hiện của nghề này. Từ thế kỷ
X đã có kinh đô Hoa Lư được mệnh danh là “ kinh đô đỏ” với những núi non,
tường thành, công trình kiến trúc cũng như sản phẩm bằng đá nổi tiếng như.
Năm 1980 tìm thấy cột kinh đá – do Đinh Liễn là con trai của vua Đinh
cho chạm khắc để “sỏm hối”.
Tác phẩm Long sàng (sập rồng) bằng đá ở cửa đền thờ vua Đinh là sản
phẩm bằng đá nổi tiếng và độc đáo. Các nhà khoa học cho rằng đõt là tác
phẩm đỏ cú niờn đaij khá sớm (khoảng thời Lý - Thế kỉ XI trở đi).
Những sản phẩm bằng đá ở núi Thiờn Tụn – tương truyền rằng khi
đương thời vua Đinh vẫn vào đây để tế lễ long trọng trước khi đánh dẹp hay
đi giao bang, nó còn mang dấu ấn nghệ thuật chạm khắc thời Đinh và tiền Lờ
truyền thống thì nghề chạm khắc đá ở Ninh Võn cú những bước khởi sắc.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Chương 2
NGHỀ CHẠM KHẮC ĐÁ Ở NINH VÂN TỪ 1986 ĐẾN NAY
Bước vào thời kì đổi mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và
nông thôn đã đặt ra những đòi hỏi thách thức lớn với các nghề thủ công
truyền thống nói chung và nghề chạm khắc đá ở Ninh Vân nói riêng. Những
đòi hỏi đó thể hiện rõ ở các mặt: tổ chức quản lí sản xuất, đội ngũ thợ thủ
công, trang thiết bị, sản phẩm và thị trường tiêu thụ chạm khắc đá. Đồng thời
cũng tạo ra những cơ hội thuận lợi mới cho nghề chấn hưng, phát triển.
1- Về tổ chức quản lý.
Tổ chức sản xuất là một vấn đề cần thiết đối với sự phát triển kinh tế.
Nếu như giai đoạn trước đổi mới 1954 -1986 tổ chức hợp tác xã là mới mẻ,
phù hợp, qua hình thức này Đảng và nhà nước có thể huy động được lực
lượng quần chúng lao động trực tiếp đảm đương lấy nhiệm vụ cải biến quan
hệ sản xuất cũ. Biện pháp này không những có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế
mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội. Những kết quả mà tổ chức hợp tác xã mang
lại ở thời gian đó là có thật. Nhưng sang giai đoạn sau 1986 đã bộc lộ nhiều
hạn chế không còn phù hợp. Vì hợp tác xã không phát huy hết khả năng của
người lao động, mà vô hình chung lại tạo cơ sở cho thói dựa dẫm và ỷ nại
trong cơ chế quan liêu. Vì vậy mà việc thay đổi cơ cấu tổ chức sản xuất tiểu
thủ công nghiệp là một tất yếu đáp ứng những đòi hỏi của xã hội trong giai
đoạn này.
Ở Ninh Vân, trong hai làng, làng Hệ và làng Xuân Vũ hầu như gia đình
nào cũng có thợ chế tác đá tập trung hành nghề trong các cơ sở, các doanh
nghiệp tư nhân địa phương. Hoạt động sản xuất chạm khắc đá diễn ra hầu như
quanh năm kể cả lúc mùa vụ nông nghiệp, theo hướng ngày càng chuyên môn
hoá. Nhịp độ hoạt động của các cơ sỏ chế tác đá (hay còn gọi là lỏn đỏ) nhiều
mà không phải địa phương nào cũng làm được.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Tuy vậy, sự song song tồn tại của các loại hình sản xuất này dễ dẫn đến
tình trạng sản xuất lao động, giá cả của sản phẩm, thị trường tiêu thụ sản
phẩm … mặc dù đã được sự can thiệp của uỷ ban nhân dân xã.
2. Thợ thủ công
Như chúng ta đã biết ở nghề thủ công truyền thống, đặc biệt trong các
làng nghề có một sức sống mạnh mẽ và trường tồn cùng lịch sử dân tộc hàng
vài thế kỷ đến hàng chục thế kỷ. Bởi chúng được đảm bảo bằng một số nhân
tố quan trọng như: nhu cầu của người tiêu dùng trên thị trường đối với hàng
thủ công truyền thống, kỹ thuật truyền thống và kinh nghiệm lâu đời của các
làng nghề ở nước ta, vị trí địa lý và môi trường của làng nghề, một nhân tố
quan trọng nữa đó là trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề.
Cần phải khẳng định rằng, vai trò của nghệ nhân đối với nghề và làng
nghề thủ công truyền thống là rất to lớn. Không có nghệ nhân thì không có
làng nghề, hay ít nhất cũng không có làng nghề lừng danh chớnh tài năng của
các nghệ nhân, với “đụi bàn tay vàng” của họ đã tạo nên những sản phẩm quý
giá tinh xảo và độc đáo, những sản phẩm sống mãi với thời gian, góp phần
làm vẻ vang cho dân tộc và cho mỗi làng nghề. Nghệ nhân và thợ cả đã giữ
cho làng nghề tồn tại, đã tạo ra những nhóm thợ mà truớc hết là con cháu của
họ, những người trong gia đình,dòng tộc rồi đến các con em trong làng theo
phương phỏp” vừa học vừa làm” cứ như vậy các thế hệ thủ công nối tiếp, đan
xen nhau, đời sau nối tiếp đời trước.
Một đặc điểm của nghề thủ công của gia đình từ ông bà, anh em, con
cháu đều cùng làm nghề, mỗi người một việc, cho nên cùng một lúc trong
làng nghề đó vài ba thế hệ cùng sản xuất kinh doanh.
Nghề chạm khắc đá ở Ninh Vân tồn tại theo nối gia truyền, từ đời trước
đến đời sau trong gia đình họ tộc là chính, thứ đến là sự truyền nghề (có mức
tài hoa, từ khâu chọn đỏ nỳi đến những kĩ thuật chạm khắc đá tinh xảo.
“Những thợ đá Ninh Vân, họ rất giỏi để phân loại, để chọn đá dùng làm hàng,
trong quả núi họ chia ra từng cấp từng bậc, biết độ rắn chắc hay mềm của
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
từng cấp, từng tầng… Nếu tính từ chõn nỳi trở lên thì có thể chia ra lớp 9
thước, lớp 5 thước, lớp 4 thước, những lớp đá này thường là mềm dễ khai thác
và khi làm hàng ít bị hư hỏng. Phía trên thường là đá rắn hơn, khó khai thỏc”.
Qỳa trình làm đá người ta chỉ cần nhìn bằng mắt, tay để gõ, tai lắng nghe để
phát hiện ra mỏch đỏ, gõn đỏ, tiếng rạn nứt, cũng như cường độ rắn hay mềm.
Nhờ những biện pháp, chính sách đúng đắn và cơ chế quản lý mới đã
khuyến khích và tạo điều kiện cho người thợ thủ công Ninh Võn phát huy tinh
thần hăng say lãnh đạo, yêu nghề, năng động, sáng tạo điều kiện cho mọi tài
năng của họ.
Cũng như các nghề thủ công truyền thống Việt Nam, số ít thợ chế tác đá
Ninh Vân xưa và nay chỉ chuyên làm nghề chạm khắc đá. Đại đa số họ là
nông dân kiêm thợ thủ công và chủ yếu làm nghề trong lúc nông nhàn. Vì
vậy, thời gian gần đây để nâng cao chõt lượng đội ngũ thợ làm đá hiện có và
bồi dưỡng thợ làm đá kế cận cho tương lai. Trung tâm giáo dục cộng đồng xã
Ninh Vân thành lập(2002), đã mở các lớp truyền dạy nghề cho con em địa
phương và người nơi khác đến có nhu cầu học nghề. Do đó đội ngũ thợ thủ
công của nghề ngày càng mở rộng hơn rất nhiều. Năm 2002, Ninh Võn đó mở
một lớp dạy nghề chạm khắc đá với khoảng 100 học viên, vừa học vừa hành.
Giáo viên là một số thợ chạm khắc đá địa phương, phối hợp với cán bộ điêu
khắc có uy tín trong cả nước.Thời gian học nghề là 24 tháng theo chương
trình của Bộ xây dựng.
Với truyền thống sẵn có và đội ngũ thợ thủ công ngày một nhiều, nghề
chạm khắc đá Ninh Võn đó và đang có tiềm năng ngáy càng phát triển lớn mạnh.
3. Về vấn đề vốn sản xuất
Thông qua ba loại hình sản xuất chính của nghề chạm khắc đá ở Ninh
Vân, chúng ta có thể thấy số vốn hoạt động như sau: Đối với sản xuất của một
hộ gia đình vốn trung bình là 50 triệu đồng, cao nhất là 100 triệu đồng. Đối
với một tổ hợp số vốn tối thiểu là khoảng 100 triệu đồng, cao nhất là 500 triệu
đồng. Với một doanh nghiệp số vốn tối thiểu là 500 triệu đồng.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Trong thực tế, nguồn vốn cho nghề chạm khắc đá Ninh Vân chưa được huy
động tốt, chưa tranh thủ được nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài, kể cả cá nhân
việt kiều.
4- Cơ sở vật chất của nghề chạm khắc đá
Do đặc trưng của nghề, có thể nói về quy mô cơ sở vật chất để làm
nghề, phát triển nghề thủ công truyền thống chạm khắc đá ở Ninh Vân đơn
giản hơn nhiều so với các nghề thủ công khác. Đối với cả 3 loại hình sản xuất
hộ gia đình, tổ hợp sản xuất hay trong các doanh nghiệp, họ cần có các “ bói”
hay còn gọi là những khoảng đất trống, với những tường bao thấp, có mái che
bằng bạt, cũng có thể không có mái che. Tại đây các thợ thủ công trực tiếp
chế tác sản phẩm chạm khắc đá, thậm chí không cần đến nhà xưởng kho chứa
hay cửa hàng giới thiệu sản phẩm.
Dù sản xuất trong quy mô to hay nhỏ, hộ gia đình hay doanh nghiệp, thợ
chạm khắc đá Ninh Vân thường sử dụng các dụng cụ chế tác truyền thống để
tạo sản phẩm,gồm có:
- Bỳa các loại, to nhỏ khác nhau, búa phẳng, búa băm có hàng rãnh răng
ở bề mặt bỳa, bỳa bằng gỗ lim, gỗ nghiến gọi là vồ.
- Đục nhọn các loại, to nhỏ, dài ngắn được làm bằng thép, hiện nay rèn
bằng thép sợi xoắn dùng trong xây dựng.
- Chét (nêm) bằng thép với nhiều kích cỡ.
- Xà beng
- Đục bạt (đục lưỡi dẹt, được mài vát một bên lưỡi) gồm các loại đục bạt
núi ở đây có độ rắn chắc cao hơn nhiều so với đá trắng, đá vàng, đá xanh nhạt
ở nhiều nơi cho nên việc khai thác đá nguyên liệu ở đây mất khá nhiều công
sức, giá thành sản phẩm khá cao so với các loai đỏ khỏc nhập từ tỉnh ngoài.
Có những khi vực đá xanh ở địa phương xưa kia đã được khai thác một phần,
gần đây, tỉnh và trung ương đã quản lý dùng vào việc xây dựng, chế tác các
công trình, sản phẩm bằng đá có độ rắn, bền, chịu lực đặc biệt cao.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Để khai thác nguồn đá nguyên liệu của địa phương phải bắt đầu từ việc
thăm dò nguyên liệu. Người ta phải tiến hành thám sát kỹ nơi cần khai thác,
xem thể và hình của những tảng phiến đá núi, qua đó có kế hoạch cụ thể trước
khi bắt tay vào khai thác. Những người thợ giỏi, giàu kinh nghiệm có thể
đoán định độ dày mỏng khác nhau của các tảng, phiến đá căn cứ vào các
“mạch gõn”hay cỏc đường thớ đá (hay mạch râu đá). Nguồn đỏ nỳi cần khai
thác đều là ở trên cao hay dưới thấp phớa chõn nỳi, có thuận tiện hay khó
khăn còn phụ thuộc vào thế và hình của nó, tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của
người khai thác đá. Công việc này nhiều khi còn phụ thuộc vào yếu tố may rủi
nữa nhất là đối với việc khai thác hoàn toàn bằng phương pháp thủ công trước
kia.
Căn cứ vào kích cỡ của sản phẩm cần chế tác to nhỏ ra sao, người thợ
sẽ xác định những lớp, tảng, phiến cần khai thác.
Sau đó việc dọn lối vận chuyển đá từ chỗ khai thác ra điểm tập kết ở
bói đỏ được chú ý tiến hành trong suốt quỏ trỡnh, thời gian khai thác đá núi.
Khi lối vận chuyển đá được hình thành và đi vào khai thác, người ta gọi là
một “ trổ đỏ”. Bãi đá thường được tạo ra ở nơi thuận tiện đương vận chuyển,
giao thông như gần các bến sông, hay có đường thông ra đường cái, phần lớn
các trổ đỏ cú độ dốc lớn theo độ dốc của núi để có thể bắn, kích cho lăn các
tảng đá vừa được búc tỏch xuống dưới chõn nỳi nơi bói đỏ. Sự lựa chọn trổ đá
chủ yếu là dựa vào thế và hình tự nhiên của cỏc vỏch sườn núi để đỡ tốn công
tác các sản phẩm đá theo những công đoạn chủ yếu sau:
- Trước hết là tạo phom sản phẩm : căn cứ vào mẫu sản phẩm đá cần
chế tạo họ đục (cắt) phiến đá theo những hình cơ bản, sơ bộ, chẳng hạn chế
tạo phom một kho tượng đá, đầu tiên cần xác định kích thước của toàn bộ sản
phẩm tỷ lệ giữa các bộ phận: đầu, mình, chân tay, độ rộng dài …với những
điểm lồi lõm của sản phẩm cú kớch thước lớn như các tượng đài, trụ cột đá
lớn…được tạo theo cách lắp ghép từng mảng miếng với nhau thành tổng thể
công trình. Tức là, sản phẩm được cấu tạo bởi nhiều tầng lớp xếp chồng khớt
lờn nhau, có thể chốt khoá bằng các mộng.
Tạo phom sản phẩm là tạo ra hình dáng sơ bộ, phác thảo sơ bộ hình
dỏnh của sản phẩm. Tuy vậy, đõy là công đoạn rất quan trọng quyết định cơ
bản chất lượng và giá trị sản phẩm. Sau đó mỗi phom sản phẩm, người thợ sẽ
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
vẽ hình hoạ đường nét theo mẫu(hay theo tưởng tượng)lên bề mặt của phom.
Công việc này đòi hỏi người thợ, nghệ nhân phải khéo tay, lành nghề, không
phải ai cũng đảm đương được.
Khi đã hoàn thành vẽ trên bề mặt của phom đá, người thợ tiến hành
đục thô sản phẩm. Búa dung để đục đá phổ biến là búa gỗ, có tiết diện lớn,
đục vừa khỏi bị chệch tay trượt ra khỏi vựng cán đục vừa không làm toè cán
đục thép. Sau đục thô từ phom đá đã trở thành một sản phẩm có hình dáng
giống như sản phẩm. Công việc đục đỏ thô sản phẩm đá cơ bản là phác thảo
những nột chớnh, tốn nhiều sức lực mà vẫn phải có độ chính xác, vì nếu sai,
đục lệch, đục sâu quá mức thì rất khó khắc phục. Đõy là công việc tích cực và
thận trọng
Tiếp theo người thợ tiến hành đục tinh sản phẩm để hoàn chỉnh tạo ra
những hỡnh, nột tinh xảo sắc nét giống như sản phẩm nguyên mẫu. Việc đục
tinh sản phẩm diễn ra một cách nhẹ nhàng hơn so với đục thô nhưng yêu cầu
tỷ mỷ, sự khéo léo, nghệ thuật của người thợ. Họ dùng các dụng cụ như : bát
Trên bề mặt của phom sản phẩm, nghệ nhân vẽ khá chi tiết cỏc hỡnh
hoạ trước khi bắt tay vào chạm khắc. Các chi tiết đường nét, hình khối hoặc
diềm, “nhụ” hoặc “lặn ” được thể hiện trên bức vẽ theo quy ước nhất định.
Thông thường việc chạm khắc các hình khối nổi được tiến hành trước và qui
trình chạm khắc những hình khối chìm hơn được tiến hành sau, theo trình tự
“chỡm sõu dần ” phụ thuộc nhiều vào tay nghề, “úc chế tác ”hay trình độ điờu
khắc của nghệ nhân. Bởi vì, các đường nét hình khối, các chi tiết chạm khắc
“thụng phong ” hay “lốo kép ” rất sinh động, theo độ nụng sõu, chìm nổi,
khuất lộ rất biến hoá, khác nhau đến “khụn lường”. Có những mảng chạm,
nghệ nhân phải luôn hình dung sẵn trong đầu tất cả mọi chi tiết nụng sõu, lồi
lõm. Điều này không hề đơn giản vì nếu nghệ nhân không giàu kinh nghiệm,
tưởng tượng yếu và sơ xuất nữa thì sẽ hỏng và hỏng tất cả vì đục chạm sai
lệch, tạo ra diện mạo sản phẩm ngô nghê, vô hồn.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Đõy chính là trình độ tay nghề, óc thẩm mỹ của nghệ nhân chạm khắc
đá, góp phần lớn nhất để tạo nên giá trị văn hóa phi vật thể. Công việc chạm
“thụng phong” chạm “lộng ” chạm “lốo kộp ” đá công phu hơn so với chạm
khắc gỗ. Mặt khác nếu để ra sơ xuất thì rất khó mà khắc phục được. Vì vậy
một nghệ nhân chạm khắc “lốo kộp ”, chạm “thụng phong ” đá phải là nghệ
nhân tinh xảo, lão luyện, mà số nghệ nhân này ở nước ta rất hiếm.
- Chế tác ảnh trên đá. Đõy là phương pháp trổ hoạ trên đá, tựa như vẽ,
truyền thần không phải bằng bút mực hay bút màu. Nói chung đõy là phép trổ
hoạ tranh ảnh trên đá.
Quy trình trổ hoạ tranh ảnh trên đá bao gồm “
+ Xẻ, mài nhẵn bề mặt phom đá sản phẩm làm nền tranh ảnh
+ Đánh bong bằng giấy ráp mịn, rồi cọ bằng nỉ lên bề mặt nền. Trong
quá trình đánh bong có kết hợp thoa các lớp chất để tạo màu nền
+ Phóng tác tức vẽ theo kiểu phóng hoạ, truyền thần những nét cơ bản
thiếu được trong đời sống của họ gồm có : cối giã, tai cối giã gạo, con lăn trục
lúa đá tảng các loại, máng đá
- Nhóm sản phẩm chạm khắc đá phục vụ đời sống, với chủng loại phong phú
: cầu đá, chậu cảnh bằng đá, giếng đỏ, cây đốn đá, bàn ghế đá, hộp đỏ các
loại, phù điờu đá, tranh đá, ảnh đỏ…
- Nhóm các sản phẩm phục vụ cho việc trùng tu tôn tạo các khu di tich lịch
sử, danh thắng, đền thờ, miếu, khánh đá, tường thờ, tượng tứ linh, bia đá,
tượng các con thỳ…
- Nhóm tượng đài: tượng Trần Hưng Đạo ở Kinh Môn Hải Dương là công
trình xuất sắc của bác Nguyễn Xuân Lương, tượng Bác Hồ ở Quảng Trường
thành phố Nghệ AN, tượng đài mẹ Suốt ở Quảng Bỡnh…
năm
ngành nghề
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Chương 3
TÁC ĐỘNG CỦA NGHỀ CHẠM KHẮC ĐÁ TRUYỀN THỐNG
ĐỐI VỚI ĐỊA PHƯƠNG
1. Làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở xã Ninh Vân
- Nghề thủ công chạm khắc đá được xác định là nghề mũi nhọn, trong
phát triển kinh tế xã hội ở xã Ninh Vân. Đõy còn là nghề thủ công truyền
thống chỉ duy nhất có ở Ninh Võn trờn toàn tỉnh Ninh Bình. Cũng như nhiều
nghề thì nghề chạm khắc đá Ninh Vân đã trải qua nhiều bước thăng trầm vào
những năm tháng đổi mới. Ngày nay, nghề đang có nhiều điều kiện tốt để hồi
sinh, phát triển.
Đặc biệt, nó đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã theo tỷ
trọng hướng về phát triển tiểu thủ công - dịch vụ. Thông qua các báo cáo tổng
kết từ 1996 – 2003 của xã Ninh Vân chúng ta nhận thấy điều đó
1996 2000 2001 2002 2003
ngành
nghề
Tiền lương
bình quân
sản xuất
ngành
nghề
1.800 1.420 2.200 8.000 7.600 350.000
(Theo số liệu thống kê của sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Ninh
Bình)
Nếu như trước đõy ở Ninh Vân, đặc biệt ở hai làng, làng Hệ và làng
Xuân Vũ. Người dân chỉ chuyên sống nhờ vào hạt thóc và khoản thu ít ỏi từ
chăn nuôi gia súc nhỏ, gia cầm. Bây giờ họ đã tạo cho mình được một nghề
phụ, việc giải quyết thời gian nhàn rỗi, góp phần tăng thêm thu nhập cho gia
đình. Do vậy đời sống kinh tế của người dân tằn lên rõ rệt
Thống kê thu nhập bình quân đầu người xã Ninh Vân (đơn vị : đồng)
Năm 2000 2001 2002 2003
Thu nhập bình
quân(người/năm
)
3.498.000 3.596.700 4.523.490 4.960.000
(Theo số liệu thống kê UBND xã Ninh Vân 2000-2003)
Có thể nói trong thu nhập trên chủ yếu là nguồn thu nhập từ nghề
chạm khắc đá. Tuy nó khụng thay thế được nông nghiệp nhưng cũng góp
phần không nhỏ trong cơ cấu kinh thế xã hội
Ngày nay, đến Ninh Vân chũng ta sẽ nhận thấy một điều: đó là sự khác biệt
giữa nông thôn và thành thị đang được thu hẹp lại nhiều so với các địa
phương khác trong huyện.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
Nhìn chung, thu nhập từ nghề chạm khắc đá của người thợ Ninh Vân
cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất nông nghiệp và các nghề phụ nông
nghiệp khác. Một phần vì diện tích đất canh tác lúa và hoa màu hiện còn thấp.
3. Một số hạn chế.
Bên cạnh những tác động tích cực, với sự phát triển mạnh mẽ của nghề,
đặc biệt trong mấy năm gần đây đã tạo nên xu hướng tâm lý trong lớp trẻ tuổi,
mải học nghề, hành nghề để có thu nhập cao mà sao nhãng việc học văn hoá,
nhiều thanh niên bỏ học làm nghề. Họ coi như mỡnh đó có việc làm và khoản
thu nhập tương đối, và dường như rất yên tâm với tương lai của mỡnh. Chớnh
vì thế, nhìn chung trình độ văn hoá của con em làm nghề còn thấp, chủ yếu
mới hết THCS, một số học hết PTTH. Đây là hạn chế lớn cần phải kịp thời
được sự quan tâm của các cấp chính quyền cơ sở địa phương.
Sự phát triển của nghề mang lại nguồn thu nhập cho nhân dân địa phương,
làng quê Ninh Vân đang ngày một “ thay da đổi thịt”, đời sống được nâng lên
một bước, nhưng lại ít nhiều ảnh hưởng đến phẩm chất đạo đức, tinh thần
đoàn kết trong xóm làng, cá nhân, vị kỷ. Do người ta ít nhiều mải chạy đua
kiếm lời lãi, cạnh tranh trong nghề kể cả những lúc “ sẵn” hay “ hiếm” việc
làm. Các tệ nạn xã hội, phong tục tập quán lạc hậu vẫn tồn tại, tuy nhiên
không trầm trọng như nhiều nơi khác.
Về sản xuất, kinh doanh trong nghề chạm khắc đá mỹ nghệ Ninh Vân
được phục hưng, bước đầu phát triển. Tuy vậy, việc sản xuất các sản phẩm đá
chưa được chú ý phát triển theo kế hoạch, quy hoạch chung. Trong sản xuất
chỉ chú ý làm ra các sản phẩm, mặt hàng đá lớn theo đơn đặt hàng, chưa chú ý
sản xuất nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ thương mại du lịch để
một mặt tận dụng thế mạnh của địa phương, mặt khác thu hút được nhiều lao
động vào sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và kinh tế địa phương.
Nghề chạm khắc đá ở Ninh Võn đó được chấn hưng và phát triển, tuy vậy
+ Một sập bằng đá dài 1,6 mét, rộng 1 mét, dày 0,27 mét phía dưới chạm
nổi hình lưỡng long chầu nguyệt, hai bên mặt hình long mã thời hậu Lê.
Bài tiểu luận Đỗ Thị Thiện - K54B Lịch
sử
+ Hai rồng bằng đá dài 1,83 mét, cao 0,76 mét, dày 0,27 mộtkiểu rồng
“yờn ngựa” thời Mạc.
+ Hai cỗ ngai vàng đá kích thước như nhau cao 1,04 một, đỏy 0,54 x
0,36 mét.
+ Hai đài bằng đá, hình trụ cao 0,23mét, đường kính miệng 0,17 mét
(mất nắp).
+ Một nhang án bằng đấco 1,1 mét, dài 1,54 mét, rộng 0,75mét mặt trước
chạm hình tứ linh, mặt trên ghi chữ Hán “Mậu Thõn niờn tu tạo”(làm năm
Mậu Thân).
4.2. Đền Kê Hạ.
- Một khánh bằng đá dài 1,92 mét, chỗ cao nhất 1,07 mét, dày 0,1 mét.
- Một con hổ bằng đá cao0,75 mét, chỗ rộng nhất 0,54 mét, tư thế ngồi,
chân trước đắp hình con rắn.
- Sáu con hổ bàng đá kích thước bằng nhau, cao 0,65 mét, chỗ rộng
nhất 0,38 mét, tư thế ngồi.
- Hai rồng bằng đá, dài 1,7 mét, cao 0,6 mét, dày 0,06 mét thời Hậu Lê.
- Một mâm mịch bằng đá, dài 0,46 mét, rộng 0,27 mét, cao 0,25 mét,
phía trước có đề chữ Hán “làm cúng tiến vào năm Giáp Tuất ở đên Kờ Hạ
thụn Cụn Lăng”.
- Một nhang án dài 1,9 mét, rộng 0,91 mét, cao 0,26 mét, mặt
trướccạhm lưỡng long chầu nguyệt thời Hậu Lê.
- Một nhang án bằng đá dài 1,41 mét, rộng 0,67 mét, cao 1 mét mặt
trước chạn tứ linh và đường triện, thời Nguyễn.
- Một cỗ ngai bằng đá cao 0,9 mét, kích thước 0,57x 0,49 mét, chạm tứ
linh.