TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA MÁC – LÊNIN
DANH THỊ MỸ HẠNH
LỚP: ĐH5CT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
TRONG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Ở HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY
Giảng viên hướng dẫn
Ths. Nguyễn Thị Vân
Long xuyên, 05/ 2008
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tôi đã
nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ tận tình của các cơ quan và cá nhân. Tôi
xin chân thành cám ơn:
- Ban Giám Hiệu, quý thầy cô, cán bộ, công nhân viên trường Đại
học An Giang đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận
tốt nghiệp đại học.
- Cô Nguyễn Thị Vân đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ
trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
- Các thầy, cô trong khoa Mác – Lênin đã vun đắp kiến thức và tạo
điều kiện cho tôi nghiên cứu khoá luận này.
- Các cơ quan, ban ngành của huyện An Phú đã cung cấp những tài
liệu thiết thực và bổ ích, góp phần thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận.
Sinh viên.
Danh Thị Mỹ Hạnh.
MỤC LỤC
1.2.3. Đội ngũ giáo viên phổ thông góp phần đào tạo nhiều thế hệ tương lai
của đất nước...............................................................................................................15
Chương 2: Vai trò của đội ngũ giáo viên trong phát triển giáo dục phổ thông ở
huyện An Phú, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
2.1. Vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội huyện An Phú,
tỉnh An Giang........................................................................................................... 18
2.1.1. Vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên...............................................................18
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội...................................................................... 19
2.1.2.1. Điều kiện kinh tế........................................................................... 19
2.1.2.2. Điều kiện xã hội............................................................................ 20
2.2. Vai trò của đội ngũ giáo viên trong phát triển giáo dục phổ thông ở
huyện An Phú, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay............................................21
2.2.1. Đội ngũ giáo viên phổ thông huyện An Phú là lực lượng quan trọng
trong cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong
giáo dục”.................................................................................................................... 21
2.2.2. Đội ngũ giáo viên phổ thông huyện An Phú góp phần giáo dục, nâng cao
đạo đức, lối sống cho học sinh...................................................................................23
2.2.3. Đội ngũ giáo viên phổ thông huyện An Phú không ngừng đổi mới nội dung và
phương pháp giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục........................................25
2.3. Những kết quả đạt được và những hạn chế từ vai trò của đội ngũ giáo
viên trong phát triển giáo dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh An Giang từ
năm 2001 đến nay.................................................................................................... 27
2.3.1. Những kết quả đạt được ......................................................................... 27
2.3.2. Những hạn chế ........................................................................................30
2.4. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ
giáo viên trong phát triển giáo dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh An Giang
trong thời gian tới.................................................................................................... 33
2.4.1. Rà soát và đánh giá đúng thực trạng về số lượng và chất lượng giáo viên
phổ thông................................................................................................................... 33
2.4.2. Đổi mới mạnh hơn nữa về nội dung và phương pháp dạy và học ở các
càng được nâng cao về trí tuệ, về phẩm chất đạo đức. Sự nghiệp đó không thể
thực hiện được nếu như thiếu vai trò của giáo dục và đào tạo, và cũng không
thể thực hiện được nếu như thiếu vai trò của đội ngũ giáo viên. Vì thế, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã khẳng đinh: “Giáo dục và đào tạo
cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động
lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [35; 94 - 95].
Đảng ta đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo, cũng như vai
trò của đội ngũ giáo viên. Điều này được ghi nhận trong Văn kiện Hội nghị lần
thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban
chấp hành Trung ương khóa VIII, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của
Đảng lần thứ VIII, IX và đã đuợc khẳng định lại trong Văn kiện Đại hội đại hội
đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ X: “Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao
chất lượng dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ
sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của
học sinh, sinh viên. Coi trọng bồi dưỡng cho học sinh, sinh viên khát vọng
Trang 1
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, gắn liền lập nghiệp bản thân với
tương lai của cộng đồng, của dân tộc, trau dồi cho học sinh, sinh viên bản lĩnh
và lối sống của thế hệ trẻ Việt Nam hiện đại. Triển khai thực hiện hệ thống
kiểm định khách quan, trung thực chất lượng Giáo dục và Đào tạo” [35; 207].
An Giang là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có những thuận
lợi trong việc phát triển kinh tế - xã hội, song cũng gặp không ít khó khăn trên
con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà trước hết là công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Để tháo gỡ một phần khó khăn của tỉnh,
cần phát huy nguồn lực con người, nhất là nguồn nhân lực có trí tuệ cao. Muốn
phát huy nguồn nhân lực đó, trước hết tỉnh cần đẩy mạnh phát triển giáo dục và
đào tạo, phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên, xem đây là nhiệm vụ quan
trọng và cấp thiết nhất hiện nay.
An Phú là một huyện đầu nguồn sông Cửu Long thuộc tỉnh An Giang,
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của
đội ngũ giáo viên trong phát triển giáo dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh An
Giang trong những năm tới.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Khóa luận chỉ nghiên cứu vai trò của đội ngũ giáo viên trong phát triển
giáo dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác – Lênin là cơ sở lí luận
chung.
- Phương pháp cụ thể: Phân tích, thống kê, so sánh kết hợp với phương
pháp logic - lịch sử.
5. Đóng góp của khóa luận.
5.1. Về lí luận:
Khóa luận góp phần hệ thống hóa vai trò của đội ngũ giáo viên phổ
thông trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo.
5.2. Về thực tiễn:
- Góp phần làm rõ vai trò của đội ngũ giáo viên trong phát triển giáo
dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của
đội ngũ giáo viên trong phát triển giáo dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh An
Giang.
- Kết quả nghiên cứu của khóa luận có thể là nguồn tài liệu để cấp ủy
Đảng và chính quyền địa phương tham khảo trong quá trình phát huy vai trò
của đội ngũ giáo viên trong giáo dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh An
Giang.
6. Kết cấu của khóa luận.
Trang 3
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
khóa luận gồm 2 chương.
2.2. Vai trò của đội ngũ giáo viên trong phát triển giáo dục phổ thông
ở huyện An Phú, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
2.2.1. Đội ngũ giáo viên phổ thông huyện An Phú là lực lượng quan
trọng trong cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành
tích trong giáo dục”.
2.2.2. Đội ngũ giáo viên phổ thông huyện An Phú góp phần giáo dục,
nâng cao đạo đức, lối sống cho học sinh.
2.2.3. Đội ngũ giáo viên phổ thông huyện An Phú không ngừng đổi mới
nội dung và phương pháp giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
2.3. Những kết quả đạt được và những hạn chế từ vai trò của đội ngũ
giáo viên trong phát triển giáo dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh An
Giang từ năm 2001 đến nay.
2.3.1. Những kết quả đạt được.
2.3.2. Những hạn chế.
2.4. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy hơn nữa vai trò của đội
ngũ giáo viên trong phát triển giáo dục phổ thông ở huyện An Phú, tỉnh
An Giang trong thời gian tới.
2.4.1. Rà soát và đánh giá đúng thực trạng về số lượng và chất lượng đội
ngũ giáo viên phổ thông.
2.4.2. Đổi mới mạnh hơn nữa về nội dung và phương pháp dạy và học ở
các bậc học.
2.4.3. Tăng cường nguồn đầu tư ngân sách và đầu tư có hiệu quả cho hệ
thống giáo dục và đào tạo ở các bậc học.
2.4.4. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi cho cán bộ trí thức, giáo viên, học
sinh vùng sâu, vùng xa.
Trang 5
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lí luận về vai trò của đội ngũ giáo viên phổ
thông trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo.
dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp (nhà giáo giảng dạy ở
giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên). Nhà giáo (trong đó có giáo
viên phổ thông) phải có những tiêu chuẩn: Phẩm chất, tư tưởng tốt; đạt trình độ
chuẩn, được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề
nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng [19; 52 - 53].
Như vậy, nói đến giáo viên là nói đến nghề dạy học. Vậy “dạy học” là
nghề như thế nào? “Dạy học” theo quan niệm dân gian thường gọi là nghề “gõ
đầu trẻ”. Tuy nhiên, “dạy học” không chỉ đơn giản là “gõ đầu trẻ” mà nó là cả
một quá trình vận động hết sức phức tạp của người dạy, đòi hỏi phải có trí tuệ
cao, có lòng yêu nghề, quý trẻ, có lý tưởng phấn đấu vì tương lai của đất nước.
“Dạy học” là một bộ phận của quá trình giáo dục, là quá trình tác động
qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những kinh
nghiệm lịch sử xã hội loài người (kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo) để phát triển
những năng lực và phẩm chất của người học theo mục đích giáo dục [27; 11].
Để thực hiện được quá trình dạy học thì người giáo viên phải có sự chuẩn bị rất
công phu, làm sao để có được một tiết dạy hiệu quả nhất, giúp học sinh không
những nắm vững được kiến thức của bài học mà phải biết vận dụng liên hệ
thực tế bên ngoài xã hội.
Từ những vấn đề được nêu lên ở trên, có thể khẳng định giáo viên có
một số đặc trưng cơ bản: Là một bộ phận của tầng lớp trí thức; thực hiện nhiệm
vụ giảng dạy ở các cơ sở giáo dục; có mục tiêu nghề nghiệp là phát triển những
năng lực và phẩm chất của người học; thực hiện mục đích giáo dục.
Từ những đặc trưng đó, có thể nêu lên khái niệm giáo viên như sau:
Giáo viên là một bộ phận của tầng lớp “trí thức”, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy
ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp
nhằm phát triển những năng lực và phẩm chất của người học theo mục đích
giáo dục.
Như vậy, khái niệm giáo viên phổ thông cũng như khái niệm giáo viên
nhưng được thu hẹp hơn: Giáo viên phổ thông là một bộ phận của tầng lớp “trí
thức”, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở cơ sở giáo dục phổ thông (giáo dục Tiểu
Tạo ra nhiều tình huống sinh động để lôi cuốn sự tích cực học tập của học sinh,
đưa ra hệ thống câu hỏi hay, dễ hiểu, phù hợp với nội dung bài giảng và phải
có phương pháp tác động tích cực để học sinh hăng say tham gia phát biểu xây
dựng bài.
Trong quá trình giảng dạy, người thầy không chỉ truyền đạt cho học sinh
những kiến thức trong sách giáo khoa mà còn phải biết liên hệ thực tế ngoài
cuộc sống. Điều đó đòi hỏi người thầy giáo phải có vốn kiến thức sâu, rộng,
nắm bắt được các hiện tượng ngoài xã hội để liên hệ vào bài giảng, thông qua
đó giáo dục ý thức cho học sinh. Người giáo viên phải có đầu óc sáng tạo, khi
đó họ sẽ không có cảm giác “cháy giáo án”. Biết rằng dự tính trước là việc làm
cần thiết trong mọi hình thức lao động. Nhưng đối với công tác dạy học, do đối
tượng là những con người có thế giới tâm lý muôn hình muôn vẻ và luôn luôn
Trang 8
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
thay đổi, nên bất cứ lúc nào trước mắt người giáo viên cũng có thể xuất hiện
những vấn đề mới. Trong các điều kiện mới đòi hỏi người giáo viên phải quyết
định kịp thời các biện pháp giải quyết. Có người nói: “Muốn sáng tạo thì phải
có cảm hứng của nhà giáo” [17; 76]. Điều đó là hoàn toàn đúng, cảm hứng là
sản phẩm của sự lao động chuẩn bị kỹ càng của người giáo viên. Khi đó cảm
hứng sẽ giúp cho người giáo viên luôn thành công hơn và đi đến sự sáng tạo
cái mới.
1.1.2.2. Lao động của giáo viên phổ thông không chỉ là lao động trí
óc mà còn lao động chân tay.
Trong hoạt động giảng bài trên lớp của giáo viên cần có nhiều hành
động phối hợp nhuần nhuyễn, đòi hỏi giáo viên phải am hiểu tường tận học
sinh, bài giảng, phải có sự chuẩn bị rất công phu từ ở nhà. Giáo viên phải hoạt
động liên tục cả buổi (trừ những phút giải lao giữa các tiết học), trong giảng
dạy yêu cầu giáo viên phải nói to, rõ, ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng. Ở bậc
Tiểu học, giáo viên không thể giảng dạy theo lối thuyết trình mà phải vừa nói,
vừa viết, vừa hướng dẫn học sinh làm theo từng thao tác rất nhỏ công phu, đòi
trong mỗi con người thầy giáo. Bởi “nghề dạy học là một nghề lao động
nghiêm túc, không được phép có phế phẩm” [17; 32]. Trong các nghề sản xuất
vật chất, kế hoạch hàng năm có thể dự kiến số “phế phẩm” nhưng trong lao
động của nhà giáo, điều đó không được phép. Một nhà tư tưởng lớn đã nói:
“Nếu người thợ kim làm hỏng một đồ vàng bạc thì anh ta có thể đem ra nấu lại.
Nếu một viên ngọc quý bị hư thì có thể phá bỏ. Nhưng một hạt kim cương lớn
nhất cũng không thể quý hơn một con người sẽ ra đời. Làm hư một con người
là một tội lớn, một lỗi lầm lớn không thể nào chuộc được” [17; 32]. Điều đó
chứng tỏ rằng để tạo ra những thế hệ không hư hỏng, những thế hệ có phẩm
chất tốt đẹp thì bản thân người dạy học cần phải có nhân cách đạo đức tốt.
Thầy giáo dạy người chủ yếu bằng bản thân con người của mình. Đó là tính
biện chứng của lao động sư phạm. Tất nhiên là dạy học, người thầy giáo cần
bảng, cần phấn, cần sách,…nhưng nhân cách của nhà giáo (phẩm chất và năng
lực) rất quan trọng. Nhân cách toàn diện của nhà giáo gồm ba yếu tố: Nắm
vững kiến thức khoa học về bộ môn; có các phẩm chất đạo đức tốt làm gương
cho học sinh; có phương pháp giảng dạy, giáo dục tốt [17; 32].
Bàn về ý nghĩa nhân cách của nhà giáo, Platôn – triết gia cổ Hy Lạp đã
nói: “Nếu như người thợ giầy là một người thợ tồi thì quốc gia sẽ không quá lo
lắng về điều đó, dân chúng sẽ phải xỏ những đôi giầy kém một chút. Nhưng
nếu thầy giáo là người dốt nát, vô luân, thì trên đất nước sẽ xuất hiện cả một
thế hệ kém cỏi và những con người xấu xa” [17; 33]. Một giáo viên phổ thông
không phải chỉ dạy con người nói chung mà dạy từng con người cụ thể. Một
lớp học có hàng chục em học sinh, tất nhiên sẽ có những em học giỏi, có
những em học kém. Đối với những em học kém sẽ rất chậm hiểu, tiếp thu kiến
thức rất kém cỏi. Trong trường hợp này nếu như một người giáo viên không có
lương tâm chắc hẳn sẽ bỏ qua không màng đến. Nhưng một giáo viên đòi hỏi
phải có lương tâm, phải dạy bảo tận tình, giúp đỡ những em học kém làm sao
để hiểu được bài. Về mặt giáo dục đạo đức, người giáo viên chủ nhiệm phải
Trang 10
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
chiếm vị trí chủ đạo trong quá trình sản xuất, những người lao động trí óc sẽ là
chủ thể lao động xã hội. Vậy lao động trí óc hình thành từ đâu? Chỉ có trong
môi trường giáo dục và đào tạo mới hình thành nên những con người có trí óc,
những con người được xem là nguồn nhân lực, nhân tài của đất nước. Nhận
thức được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, Đảng ta khẳng định: “Giáo
Trang 11
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” [35; 95]. Và đề ra nhiều phương hướng
cơ bản để phát triển giáo dục và đào tạo. Mặt khác, Hồ Chí Minh lại nói: “Nếu
không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Câu nói của Người đã khẳng định
được vị trí, vai trò rất quan trọng của đội ngũ giáo viên, trong đó, phải kể đến
đội ngũ giáo viên phổ thông.
Như vậy, giáo dục và đào tạo có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp
phát triển của đất nước. Còn đội ngũ giáo viên lại có vai trò rất quan trọng
trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo. Những vai trò quan trọng của
đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên phổ thông có thể được khái quát thành
những nội dung.
1.2.1. Đội ngũ giáo viên phổ thông là nguồn nhân lực quan trọng
trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Nguồn lực con người là rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển của đất
nước. Cũng tương tự như vậy, đội ngũ giáo viên phổ thông được xem là nguồn
nhân lực quan trọng trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo. Mục tiêu
của giáo dục và đào tạo là hình thành và phát triển nhân cách con người. Do
đó, trong giáo dục và đào tạo trước hết cần phải có đội ngũ giáo viên là những
con người có nhân cách (có năng lực và phẩm chất đạo đức) để giáo dục rèn
luyện hình thành những mầm mống nhân cách mới. Trên cơ sở đó, phát triển
giáo dục nhằm thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài hay nói cách khác là nhằm phát triển con người bền vững để phát triển
kinh tế - xã hội. Như vậy, toàn bộ sự nghiệp giáo dục và đào tạo là nhằm phát
triển con người, trong đó tri thức phải thành kĩ năng, thái độ, trí tuệ phải thành
dục và đào tạo của nước ta trong quá khứ, ở hiện tại và còn đóng góp nhiều
hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo của đất nước trong tương lai. Do
đó, Đảng và Nhà nước ta cần phải chú trọng nhiều hơn nữa vấn đề nâng cao cả
về số lựơng và chất lượng đội ngũ giáo viên. Để làm sao phát huy tối đa nguồn
nhân lực đó, làm cho sự nghiệp giáo dục nước nhà càng phát triển, đất nước
càng giàu mạnh “sánh vai với các cường quốc năm châu” như lời Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khuyên dạy dân tộc ta.
1.2.2. Đội ngũ giáo viên phổ thông góp phần quyết định chất lượng
giáo dục và đào tạo.
Xưa nay, đâu đâu người ta cũng thừa nhận vai trò của người thầy giáo,
có ý nghĩa chủ chốt, quyết định chất lượng quá trình dạy học. Người thầy giáo
là người thay mặt cho xã hội điều khiển quá trình dạy học, họ là nguồn thông
tin, là nguồn tri thức cơ bản, dễ hiểu và lí thú, họ là những tấm gương về đạo lí,
tác phong cho các em học sinh… Như vậy, chất lượng giáo dục và đào tạo có
được nâng lên hay không, phải kể đến một phần lớn ở vai trò của người thầy
giáo.
Ngày 28 tháng 12 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
định số 201/2001/QĐ – TTg về Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo
2001- 2010, trong phần mục tiêu chung có ghi: “Tạo bước chuyển biến cơ bản
Trang 13
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ, tiến trình của thế giới
phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước, của từng vùng, từng địa phương, hướng tới một xã hội
học tập. Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên
một số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực” [16; 234]. Mặt khác,
Chính phủ cũng đã định ra các danh hiệu cao quý do Chủ tịch nước kí tặng các
nhà giáo như “Nhà giáo ưu tú” và “Nhà giáo nhân dân”; Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo kí tặng các nhà giáo có nhiều thành tích đóng góp nhiều năm
cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo huy hiệu “Vì sự nghiệp giáo dục và đào
viên Trung học cơ sở và Quyết định số 1732/QĐ – GD – ĐT ngày 27 tháng 05
năm 1997 cho giáo viên Trung học phổ thông [15; 255 - 256].
Nhờ có vai trò của người thầy giáo, nên chất lượng học tập của học sinh
nước ta đã được nâng lên khá cao. Theo số liệu của Vụ Giáo dục Trung học,
Bộ Giáo dục và Đào tạo thì từ năm 1976 đến năm 2001 nước ta có tổng số 383
học sinh dự thi Olympic Quốc tế, trong đó có 327 em đạt giải (chiếm tỉ lệ 85%
tổng số học sinh dự thi đạt giải) [15; 161].
Trong những năm gần đây thành quả giáo dục nước ta tiếp tục được
nâng lên. Đối với giáo dục phổ thông, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra mục tiêu
phấn đấu đến năm 2010. Cụ thể: “Tăng tỉ lệ huy động học sinh trong độ tuổi
đến trường từ 95% năm 2000 lên 97% năm 2005 và 99% năm 2010. Đạt chuẩn
quốc gia phổ cập Trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, vùng kinh tế phát
triển vào năm 2005, trong cả nước vào năm 2010. Tăng tỉ lệ học sinh Trung
học cơ sở trong độ tuổi từ 74% năm 2000 lên 80% năm 2005 và 90% năm
2010. Đối với Trung học phổ thông, thực hiện chương trình phân ban hợp lí,
đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông cơ bản theo chuẩn thống nhất,
đồng thời tạo điều kiện cho sự phát huy năng lực của mỗi học sinh giúp cho
các em có những hiểu biết kĩ thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc phân luồng học sinh sau Trung học phổ thông để học sinh
vào đời hoặc chọn nghề tiếp sau khi tốt nghiệp. Tăng tỉ lệ học sinh trong độ
tuổi vào trường Trung học phổ thông từ 38% năm 2000 lên 45% năm 2005 và
50% năm 2010” [dẫn theo 15; 235 - 236].
Tóm lại, không thể nào có được một thành quả tốt cho lĩnh vực giáo dục
và đào tạo, nếu ở đó không có vai trò của đội ngũ giáo viên hoặc đội ngũ giáo
viên quá ít về số lượng, kém về chất lượng. Vai trò của đội ngũ giáo viên là rất
lớn trong việc nâng cao chất lượng sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Chính vì thế
mà tài năng và phẩm giá của họ luôn được lớp lớp học sinh ca ngợi, xã hội trân
trọng và ngưỡng mộ.
1.2.3. Đội ngũ giáo viên phổ thông góp phần đào tạo nhiều thế hệ
tương lai của đất nước.
hệ công dân, cán bộ có tài cho xã hội.
Những thành tựu về giáo dục và đào tạo là mục tiêu cần thiết mà Đảng
và Nhà nước ta cần đạt được. Để thực hiện được những mục tiêu trong giáo
dục và đào tạo đều phải tính đến công lao to lớn của các thầy, cô giáo. Những
thành tựu đạt được trong giáo dục và đào tạo cũng chính là tâm nguyện của các
thầy, cô giáo, bởi họ là những con người phải thực hiện những mục tiêu của
giáo dục và đào tạo. Không những thế, đội ngũ giáo viên còn phải giáo dục học
sinh trở thành những con người tốt, người giáo viên phải biết quan tâm giáo
dục học sinh trong lao động học tập, lao động khoa học. Vấn đề không phải chỉ
đơn giản là khuyên học sinh chăm học mà phải đi sâu vào tâm lí, tình cảm, tư
duy, tư tưởng của một con người trong quá trình học tập của học sinh.
Trang 16
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
* *
*
Tóm lại, đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên phổ thông nói
riêng có vai trò vô cùng to lớn trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Đó chính là
một nguồn nhân lực đặc biệt, những con người ngày càng được phát triển cao
về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, giàu có về tinh thần, trong sáng về đạo đức,
linh hoạt và văn minh. Họ chính là nguồn nhân lực không thể thiếu, là đội ngũ
góp phần quyết định chất lượng, nâng cao hiệu quả giáo dục và đào tạo, là
người đào tạo ra những thế hệ tương lai cho đất nước. Chính vì thế mà trong số
các phương hướng cần thực hiện để góp phần triển khai thắng lợi chiến lược
phát triển giáo dục mà Đại hội lần IX của Đảng ta đã thông qua có phương
hướng rất quan trọng đế cập đến đội ngũ giáo viên: “Tăng cường đào tạo giáo
viên đáp ứng nhu cầu của các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập. Kết
hợp giữa đào tạo với các chính sách thu hút, tuyển dụng những giáo viên đủ
tiêu chuẩn, sàng lọc những giáo viên không đủ tiêu chuẩn để đảm bảo đủ giáo
viên phổ thông theo định mức, cơ cấu và chất lượng. Tăng cường công tác bồi
dưỡng những sinh viên giỏi trở thành những giảng viên đại học”. [34; 244].
phát triển kinh tế biên giới, mở rộng giao lưu kinh tế với thị trường Cămpuchia
và khu vực.
Địa hình chung của huyện An Phú tương đối bằng phẳng. Phần lớn đất
nằm trong diện tích đất phù sa, bãi bồi, một phần thuộc đất trầm tích lâu năm.
Khí hậu mang tính chất của khí hậu ẩm gió mùa, chia làm hai mùa rõ
rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm
Trang 18
Khoá luận tốt nghiệp đại học sư phạm SVTH: Danh Thị Mỹ Hạnh
sau. Nhiệt độ trung bình cả năm là 27
o
C, sự chênh lệch giữa các tháng là không
cao (2 đến 3
o
C). Do địa hình là đồng bằng nên chế độ gió khá đồng nhất, gió
Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10 gây mưa (chiếm 90% lượng nước),
gió Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, làm cho thời tiết khô và
không mưa, lượng mưa trung bình là 1.500 mm. Mùa mưa thường trùng với
mùa lũ, do đó mà lượng nước giữa hai mùa có sự chênh lệch khá lớn. Hằng
năm, vào mùa nước nổi, nước trong đồng ruộng ngập sâu từ 1 đến 3 mét. Do
nằm đầu nguồn sông Cửu Long nên hàng năm nước lũ về sớm hơn các huyện
khác, vì vậy phải thường xuyên tu bổ hệ thống đê bao bảo vệ sản xuất vụ hè
thu.
(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang – An Phú
tiềm năng và cơ hội đầu tư, năm 2005).
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội.
2.1.2.1. Điều kiện kinh tế.
Huyện có diện tích nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản lớn, có nhiều
cửa khẩu biên giới nên thuận lợi trong giao lưu kinh tế quốc tế, đặc biệt với
Cămpuchia và vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Kinh tế nông nghiệp chiếm 49% trong cơ cấu kinh tế của huyện. Đất đai
tiềm năng và cơ hội đầu tư, năm 2005).
2.1.2.2. Điều kiện xã hội.
Giáo dục và đào tạo: Ngày càng được quan tâm đầu tư để phát triển
nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế. Chất lượng dạy và học ngày
càng được nâng cao. Toàn huyện có 4 trường Trung học phổ thông: Quốc thái,
An Phú, bán công An Phú và Vĩnh Lộc; Có 14 trường Trung học cơ sở trên 14
xã – thị trấn; Có trên 30 trường Tiểu học. Năm 2006 toàn huyện có 31.068 học
sinh, trong đó Mẫu giáo 2.984 học sinh, Tiểu học 15.144 học sinh, Trung học
cơ sở 9.386 học sinh, Trung học phổ thông 3.554 học sinh. Điều kiện về cơ sở
vật chất và giáo viên cơ bản đã đáp ứng tốt nhu cầu dạy và học. Huyện có một
trung tâm giáo dục thường xuyên đào tạo các lớp chứng chỉ A Tin học và Anh
văn, liên kết với trường đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, mở một lớp đại
học Kinh tế Luật có 229 học viên; Một trung tâm dạy nghề ngắn hạn: May
công nghiệp, dệt len, dệt chiếu, kỹ thuật nuôi cá nước ngọt…góp phần giải
quyết việc làm trên địa bàn.
Về y tế: Công tác khám và điều trị bệnh thực hiện tốt, công tác chăm
sóc sức khỏe người dân được nâng cao, làm tốt công tác phòng chống dịch
bệnh, giảm tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 25% xuống còn 23%. Toàn huyện có
14 trạm y tế, một trung tâm y tế dự phòng và bệnh viện đa khoa An Phú.
Huyện có 370 ca bị nhiễm HIV, chuyển sang AIDS 15 ca, tử vong 10 ca.
Về văn hóa – xã hội: Hội chợ giao thương cửa khẩu Khánh Bình, liên
hoan văn hóa mùa nước nổi Búng Bình Thiên, ngày Hội văn hóa – thể thao
truyền thống huyện An Phú, Hội thi thể thao dân tộc Chăm với các hoạt động
Trang 20