TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA MÁC - LÊNIN
NGUYỄN NGỌC ÁNH
LỚP DH5CT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGÀNH GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ.
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN
CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY.
Giảng viên hướng dẫn:
Th.s. Nguyễn Thị Vân
Long Xuyên, 5/2008
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã
nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ của:
- Quý thầy cô trường Đại học An Giang. Đặc biệt là quý
thầy cô trong khoa Mác – Lênin đã vun đắp thêm kiến thức và
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em nghiên cứu khóa luận này.
- Cô Nguyễn Thị Vân, người đã tận tình quan tâm, giúp
đỡ, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt
nghiệp.
- Quý cô, chú đang công tác ở Ủy ban nhân dân huyện Chợ
Mới; Phòng Nội Vụ Lao động Thương binh – Xã hội; Phòng
Thống kê huyện Chợ Mới đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt
quá trình thu thập nguồn tài liệu phục vụ tốt cho khóa luận.
Sinh viên
Nguyễn Ngọc Ánh
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.2.1 Khái quát tình hình hộ nghèo ở huyện Chợ Mới 26
2.2.2 Một số chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng,
Nhà nước tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
27
2.2.2.1 Một số chủ trương xóa đói, giảm nghèo tại huyện Chợ Mới, tỉnh
An Giang 27
2.2.2.2 Các chính sách hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo tại huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang 31
2.2.3 Những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện chính sách xóa
đói, giảm nghèo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến
nay 32
2.2.3.1 Thành tựu 32
2.2.3.2 Hạn chế 37
2.3 Một số giải pháp góp phần vào việc thực hiện tốt chính sách xóa đói,
giảm nghèo của Đảng, Nhà nước tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 38
2.3.1 Phương hướng, mục tiêu và giải pháp thực hiện chính sách xóa
đói, giảm nghèo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang 38
2.3.1.1 Phương hướng 38
2.3.1.2 Mục tiêu giảm nghèo 39
2.3.1.3 Các chỉ tiêu cần đạt được đến năm 2010 39
2.3.1.4 Các giải pháp để thực hiện Chương trình giảm nghèo 39
2.3.2 Một số giải pháp nhằm góp phần vào việc thực hiện tốt chính
sách xóa đói, giảm nghèo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trong
thời gian sắp tới 41
2.3.2.1 Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cần đẩy mạnh việc
tăng năng suất đất canh tác nông nghiệp để góp phần làm tăng nguồn
thu nhập ổn định cho hộ nghèo đói 41
2.3.2.2 Cung cấp vốn cho những hộ nghèo đói để họ có điều kiện tham
gia vào các hoạt động sản xuất 42
2.3.2.3 Các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương cần phát huy vai
Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách xóa
đói, giảm nghèo. Đó là một trong những mục tiêu chiến lược của phát triển
bền vững đất nước. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Đảng ta đã khẳng định: xóa đói, giảm nghèo là một trong những giải pháp cơ
bản để kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Đồng thời đẩy
mạnh việc thực hiện xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ chủ yếu
để phát triển kinh tế - xã hội trong kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 mà Đảng Cộng
sản Việt Nam đã nêu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.
Trang 1
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
Do đó, để thực hiện tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo theo tinh thần của Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX và X, tỉnh An Giang nói chung và huyện Chợ Mới nói riêng
đã ra sức đẩy mạnh thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo và đạt được
nhiều thành tựu đáng kể: năm 2005 tỷ lệ hộ nghèo ở huyện là 8,66% đến năm
2007 giảm xuống còn 6,95% ( tính theo chuẩn mới), Chợ Mới là một trong
bốn huyện của tỉnh An Giang công bố là đã hoàn thành xong việc cấp nhà đại
đoàn kết và xóa xong “nhà tre lá dột nát, nhà tạm bợ cho người nghèo”. Tuy
nhiên, việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo tại huyện chưa đáp ứng
yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và xu thế toàn
cầu hóa nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO đó là tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn
khá cao. Vì vậy, mục tiêu phấn đấu của huyện là đến năm 2010 sẽ giảm tỉ lệ
hộ nghèo xuống còn 3%. Để hoàn thành mục tiêu này và đồng thời đáp ứng
được yêu cầu đổi mới của đất nước, đòi hỏi các cấp lãnh đạo ở huyện nhà Chợ
Mới có những biện pháp cụ thể để khắc phục những mặt hạn chế và thực hiện
có hiệu quả nhất chính sách xóa đói, giảm nghèo tại địa phương.
Từ những lí do trên nên tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng xóa đói,
giảm nghèo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.” để làm
khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Giáo dục Chính trị.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
Chương 1: VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM VÀ
CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
TA.
1.1 Cơ sở lý luận về xóa đói, giảm nghèo.
1.1.1 Đói nghèo – cách tiếp cận.
1.1.2 Tiêu chí đánh giá và chuẩn đói nghèo ở Việt Nam.
1.1.3 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo.
1.2 Khái quát tình hình thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam và
chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.
1.2.1 Quan điểm chỉ đạo và chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng và
Nhà nước ta.
1.2.2 Khái quát tình hình thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.
Chương 2: THỰC TRẠNG XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN
CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY.
2.1 Sơ lược về vị trí địa lý, tình hình kinh tế - xã hội tại huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang .
2.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên .
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang hiện
nay.
2.2 Những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện chính sách xóa đói,
giảm nghèo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
2.2.1 Khái quát tình hình hộ nghèo ở huyện Chợ Mới
2.2.2 Một số chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo của Đảng, Nhà
nước tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang từ năm 2001 đến nay.
Trang 3
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
2.2.3 Những thành tựu và hạn chế của việc thực hiện chính sách xóa đói,
giảm nghèo tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
2.3 Một số giải pháp góp phần vào việc thực hiện tốt chính sách xóa đói,
giảm nghèo của Đảng, Nhà nước tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trong
Tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do
ESCAP tổ chức tại Băng Kốc - Thái Lan ( 9/1993) đã đưa ra định nghĩa chung
như sau: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã
hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập
quán của địa phương và phong tục ấy được xã hội thừa nhận. Định nghĩa này
hiện nay đang được nhiều quốc gia sử dụng trong đó có Việt Nam.
Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại
Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về
nghèo đói như sau: Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới
1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những
sản phẩm thiết yếu để tồn tại.
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith quan niệm về đói nghèo như sau:
Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ rơi xuống rõ rệt dưới
mức thu nhập của cộng đồng. Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong
cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức.
Trang 5
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
Liên Hiệp Quốc đã phân chia đói nghèo thành hai loại: đói nghèo tuyệt
đối và đói nghèo tương đối.
Đói nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thỏa mãn đầy đủ những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống như ăn mặc,
ở, đi lại, y tế, giáo dục…
Đói nghèo tương đối: đó là sự thiếu hụt so với mức sống hiện thời. Nói
cách khác, đói nghèo tương đối là mức thu nhập của một người hoặc hộ gia
đình thấp hơn so với mức thu nhập của một nước nơi người đó hoặc hộ đó
sinh sống. Đói nghèo tương đối được coi là tiêu chuẩn đánh giá sự công bằng
của Chính phủ với một bộ phận dân cư có thu nhập thấp.
Như vậy, đói nghèo tuyệt đối là hệ quả của thu nhập thấp, còn đói
nghèo tương đối là kết quả của việc so sánh mức thu nhập giữa các nhóm dân
ốm đau không có tiền đi khám chữa bệnh…Như vậy, quan niệm về nghèo đói
hay nhận dạng về nghèo đói từng vùng, từng nhóm dân cư nhìn chung không
có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói là những
nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và
giao tiếp xã hội không được thỏa mãn. Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở
mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế -
xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng.
Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2004 – Nghèo thì đói nghèo được
hiểu và nhìn nhận ở những khía cạnh sau:
Đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diện:
- Thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập.
- Thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn.
- Dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi.
- Ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và khó khăn tới những người có
khả năng giải quyết.
- Ít được tham gia vào quá trình ra quyết định.
- Cảm giác bị xỉ nhục, không được người khác tôn trọng v.v…
Như vậy, đói nghèo được định nghĩa trên nhiều khía cạnh khác nhau.
Việc đo lường được từng khía cạnh đó một cách nhất quán là điều rất khó, còn
gộp tất cả những khía cạnh đó vào một chỉ số nghèo đói hay thước đo nghèo
đói duy nhất là không thể.
Ở Việt Nam, đói nghèo là kết quả của nhiều nguyên nhân. Tuy nhiên,
để dễ dàng hơn trong việc đưa ra các biện pháp đúng đắn và phù hợp nhằm
khắc phục các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, người ta thường phân nguyên
nhân dẫn đến đói nghèo thành nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ
quan.
Nguyên nhân khách quan: Do Việt Nam xuất phát điểm là một nền kinh
tế nông nghiệp lạc hậu, đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nguồn lực của
Nhà nước chưa đáp ứng ngay được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các
địa phương; do điều kiện tự nhiên không thuận lợi ở một số vùng; do tác động
calo/người/ngày. Ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm
(nghèo đói ở mức thấp). Vì mức chi tiêu này chỉ đảm bảo mức chuẩn về cung cấp
năng lượng mà không đủ chi tiêu cho những hàng hóa phi lương thực. Những
người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được 2.100 calo/người/ngày
gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm.
Ở Việt Nam hiện nay, có phương pháp tiếp cận với ngưỡng nghèo như sau:
- Phương pháp dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người (phương
pháp của Tổng cục Thống kê). Phương pháp này đã xác định hai ngưỡng nghèo:
Ngưỡng nghèo thứ nhất: là số tiền cần thiết để mua được một số lương
thực hàng ngày để đảm bảo mức độ dinh dưỡng.
Ngưỡng nghèo thứ hai: thường được gọi là ngưỡng nghèo chung, ngưỡng
này bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực.
Trang 8
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
- Phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình (phương pháp của Bộ Lao
động Thương binh - Xã hội). Phương pháp này hiện đang được sử dụng để xác
định chuẩn nghèo đói của chương trình xóa đói, giảm nghèo quốc gia.
1.1.2 Tiêu chí đánh giá và chuẩn đói nghèo ở Việt Nam.
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử gắn với điều kiện cụ thể và trình độ phát
triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Vì vậy, khó
có thể đưa ra được những tiêu chí và chuẩn mực chung xác định để đánh giá đói
nghèo cho mọi quốc gia. Tuy nhiên, để có thể hoạch định được một chính sách xóa
đói, giảm nghèo phù hợp trên phạm vi thế giới và từng quốc gia, cần phải xác định
được các tiêu chí đánh giá và chuẩn đói nghèo cụ thể.
1.1.2.1 Tiêu chí đánh giá đói nghèo ở Việt Nam.
Hiện nay, Liên Hiệp Quốc sử dụng các tiêu chí sau để đánh giá đói nghèo:
Thứ nhất, tổng sản phẩm quốc dân bình quân đầu người trong một năm
(GNP/người/năm) hay tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người trong một
năm (GDP/người/năm).
Thứ hai, chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI).
1.650 kcalo/người/ngày.
Ở Việt Nam, việc xây dựng chuẩn đói nghèo mới thực sự quan tâm gần
đây. Từ 1993, chuẩn đói nghèo mới được xây dựng lần đầu và được điều chỉnh
nhiều lần trong các năm tiếp theo do sự biến động của nền kinh tế. Có nhiều cơ
quan quốc tế và trong nước cùng tham gia vào xác định chuẩn nghèo đói. Các cơ
quan có vai trò to lớn trong nghiên cứu và xây dựng chuẩn nghèo ở Việt Nam là
Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổng cục thống kê,
Bộ Lao động Thương binh - Xã hội.
Chuẩn đói nghèo do Bộ Lao động Thương binh - Xã hội đưa ra cũng đã
được thay đổi nhiều lần vào các năm 1993, 1995, 1997 dựa trên thu nhập bình
quân đầu người trong hộ gia đình.
Giai đoạn 1993 – 1995:
Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người 13kg gạo/tháng đối với khu vực
thành thị và dưới 8kg gạo/1 tháng đối với khu vực nông thôn.
Hộ nghèo: bình quân thu nhập đầu người 20kg gạo/1 tháng đối với khu vực
thành thị và dưới 15kg gạo/1 tháng đối với khu vực nông thôn.
Giai đoạn 1995 – 1997: Năm 1995, chuẩn đói nghèo được thay đổi với các mức
như sau:
Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân một người/tháng quy ra gạo dưới
13kg tính cho mọi vùng
Hộ nghèo là hộ có thu nhập tùy theo các vùng: Vùng nông thôn miền núi,
hải đảo: dưới 15kg/người/tháng; Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới
20kg/người/tháng; Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng.
Giai đoạn 1997 – 2000: Năm 1997, theo Công văn số 1751/LĐTB - XH đã quy
định việc tiếp tục thay đổi chuẩn nghèo, với các mức:
Hộ đói: là hộ có mức thu nhập/người trong một tháng quy ra gạo dưới 13
kg, tương đương 45 ngàn đồng (giá năm 1997) tính cho mọi vùng.
Hộ nghèo: là hộ có thu nhập với những mức tương ứng như sau: Vùng nông
thôn miền núi hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 35 ngàn đồng). Vùng
Trang 10
những khó khăn.
1.1.3 Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết tinh giữa những giá trị truyền thống của dân
tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin
cùng với thực tiễn cách mạng của dân tộc và thời đại. Trong cuộc cách mạng dân
tộc dân chủ, tư tưởng của Người chính là ngọn đuốc sáng soi rọi đường lối cách
mạng Việt Nam và đã đưa cách mạng Việt Nam đi đến bờ bến vinh quang. Ngày
nay, trong công cuộc xây dựng đất nước từ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội thì tư
Trang 11
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
tưởng của Người vẫn tiếp tục soi sáng để định hướng con đường đi cho nhân dân
ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Hệ thống tư tưởng của Người được được đại tướng Võ Nguyên Giáp khái
quát: “Tư tưởng Hồ Chí minh là hệ thống lí luận về đường lối chiến lược, sách
lược của cách mạng Việt Nam…Đó là tư tưởng cách mạng không ngừng, từ cách
mạng dân tộc dân chủ tiến lên chủ nghĩa xã hội, nội dung cốt lõi là giải phóng dân
tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người. Nói ngắn gọn là độc lập
dân tộc, dân chủ, chủ nghĩa xã hội; hay nói gọn hơn: độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội” [10;98].
Trong hệ thống tư tưởng của Người, vấn đề xóa đói, giảm nghèo không
được người trình bày một cách trực tiếp nhưng thông qua tư tưởng của Người về
chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội; qua các bài báo, bài
nói chuyện, thư gửi cho đồng bào thì vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã được thể hiện
một cách cụ thể. Người từng nói: “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì?. Nói một
cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động” [12; 161]. Có khi Người còn cụ thể
hóa mục đích tổng quát này thành các tiêu chí cụ thể như làm cho nhân dân đủ ăn,
đủ mặc, ngày càng sung sướng…Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là
làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học,
ốm đau có thuốc, già không lao động được nghỉ…Tóm lại, xã hội ngày càng tiến,
tiền ra làm. Chính phủ chỉ giúp kế hoạch, cổ động. Vì vậy, những kế hoạch địa
phương có thể tự thực hành được, cứ giúp cho đồng bào làm dần dần, như hợp tác
xã, v.v…
Việc gì cũng phải từ việc dễ đến việc khó, từ việc gấp đến việc hoãn, từ
việc ít tốn tiền đến việc tốn nhiều tiền. Nói tóm lại: kế hoạch phải thiết thực, phải
làm được. Chớ làm kế hoạch đẹp mắt, to tát, kể hàng triệu nhưng không thực hiện
được”. [12; 288 - 289]
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói, Người nói: “…,chính
sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân.
Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu
dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Vì
vậy, cán bộ đảng và chính quyền từ trên xuống dưới đều phải hết sức quan tâm đến
đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức, giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất
và tiết kiệm. Dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa
ra sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay
mấy cũng không thực hiện được”. [13; 572].
Người còn khẳng định: “Phải biết giáo dục, lãnh đạo, giúp đỡ nhân dân tăng
gia sản xuất và tiết kiệm. Phải biết tiết kiệm là vì nếu được bữa nào xào bữa ấy thì
sẽ thiếu thốn. Nếu cán bộ khéo lãnh đạo và thiết thực giúp đỡ đồng bào và đồng
bào tập trung tăng gia sản xuất và tiết kiệm thì dân sẽ no ấm, mọi việc trôi chảy,
thuế khóa dễ thu, tài chính dồi dào, dân no thì nước giàu, vì nước ta là nước nông
nghiệp, mọi việc đều dựa vào nông nghiệp. Nếu cán bộ không biết lãnh đạo và
thiết thực giúp đỡ dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm, nếu đảng viên không xung
phong gương mẫu thì việc gì cũng sẽ khó làm. Cho nên, chính sách tăng gia sản
xuất và tiết kiệm là chính sách căn bản của chúng ta. Tăng gia sản xuất và tiết
Trang 13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
kiệm để nâng cao đời sống của nhân dân, khôi phục kinh tế, mở mang văn hóa và
đề phòng đói, chống nghèo” [13; 572].
Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh thì xóa đói, giảm nghèo là sự nghiệp mang
Thứ ba, xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu quan trọng của phát triển kinh tế -
xã hội bền vững, tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo đảm bảo
công bằng và tiến bộ xã hội, hạn chế tốc độ gia tăng tốc độ khoảng cách giàu
nghèo.
Trang 14
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
Thứ tư, xã hội hóa công tác giảm nghèo. Nhà nước tạo cơ chế, chính sách
hỗ trợ, cộng đồng chia sẻ góp sức và nhất là bản thân người nghèo phải tự lực
vươn lên thoát nghèo, phấn đấu trở thành khá giả, không trông chờ ỷ lại vào Nhà
nước và xã hội.
Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (1/1994)
đã chỉ rõ: “ tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong
từng bước phát triển khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm
nghèo. Coi việc một bộ phận dân cư giàu trước là cần thiết cho sự phát triển. Đồng
thời có chính sách ưu đãi hợp lí về tín dụng, về thuế, đào tạo nghề nghiệp để tạo
điều kiên cho người nghèo có thể tự mình vươn lên làm đủ sống và phấn đấu trở
thành khá giả”. [7; 47]
Thứ năm, thực hiện chương trình xóa đói, giảm nghèo phải thông qua
những biện pháp cụ thể, sát với tình hình địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn
hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001 – 2010), Đảng
ta chủ trương: “Bằng nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội, tăng đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng, cho vay vốn trợ giúp đào tạo nghề, cung cấp thông tin,
chuyển giao công nghệ, giúp đỡ tiêu thụ sản phẩm… đối với những vùng nghèo,
xã nghèo và nhóm dân cư nghèo. Chủ động di dời một bộ phận nhân dân không có
đất canh tác và điều kiện sản xuất đến lập nghiệp ở những vùng có tiềm năng. Nhà
nước tạo môi trường thuận lợi, khuyến khích mọi người dân vươn lên làm giàu
chính đáng và giúp đỡ người nghèo. Thực hiện trợ cấp xã hội đối với người có
hoàn cảnh đặc biệt không thể tự lao động, không có người bảo trợ, nuôi dưỡng.
Phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo, thường xuyên củng cố
- Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo
- Hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn
- Định canh, định cư, di dân kinh tế mới
- Hướng dẫn người nghèo cách làm ăn
- Hỗ trợ tín dụng
- Y tế cho người nghèo
- Giáo dục cho người nghèo
- Hỗ trợ phát triển sản xuất, ngành nghề
- Đào tạo cán bộ làm xóa đói, giảm nghèo, cán bộ chính quyền các xã
nghèo.
Ngày 31 tháng 07 năm 1998 Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát
triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi vùng sâu, vùng xa (Quyết
định số 135/1998/QĐ – TTg, ngày 31/07/1998), theo đó Chính phủ sẽ tập trung
đầu tư cho 1.715 xã đặc biệt khó khăn (gồm 1658 xã miền núi, 147 xã vùng đồng
bằng sông Cửu Long, thuộc 267 huyện của 46/61 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Có 2 mục tiêu lớn là đầu tư xây dựng cơ bản và đầu tư phát triển sản xuất.
Ngày 26 tháng 03 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ lại có Quyết định số
42/2001/QĐ – TTg về việc bổ sung các xã đặc biệt khó khăn của chương trình
135. Theo Quyết định này, cả nước bổ sung thêm 447 xã thuộc 192 huyện của 33
tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương vào diện xã đặc biệt khó khăn và được
hưởng các chính sách dành cho chương trình từ kế hoạch năm 2001, đưa tổng số
xã đặc biệt khó khăn của cả nước lên 2.162 xã.
Trang 16
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
Ngày 18 tháng 11 năm 2003 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình
ghi nợ lệ phí trước bạ nhà ở, đất ở đối với hộ gia đình cá nhân ở các xã thuộc
chương trình 135 và hộ gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
(QĐ số 245/2003/QĐ – TTg).
Ngày 20 tháng 07 năm 2004 Chính phủ đã phê duyệt một số chính sách hỗ
trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số
tiếp người nghèo các chi phí giáo dục, dạy nghề (miễn giảm học phí, cấp trực tiếp
Trang 17
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
cho người nghèo hoặc cơ sở), chi phí y tế (cấp thẻ bảo hiểm y tế) và tiếp tục
nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích hộ, xã vượt
nghèo.
Tạo điều kiện để người dân tham gia quá trình xây dựng, triển khai thực
hiện chương trình bảo đảm tính dân chủ, công khai và minh bạch. Tiếp tục phân
cấp quản lý cho địa phương, đặc biệt là cấp xã trong việc công nhận, quản lý hộ
nghèo và triển khai thực hiện chương trình.
Thực hiện giám sát và đánh giá trên cơ sở thiết lập hệ thống chỉ tiêu phù
hợp ở các cấp với nhiều hình thức khác nhau.
Về tổ chức chỉ đạo thực hiện: Thành lập Ban chỉ đạo chung của Chính phủ
để chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006
-2010 và chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn với sự
tham gia của các bộ ngành, các tổ chức đoàn thể có liên quan. Thành lập văn
phòng điều phối chương trình giúp Ban chỉ đạo Trung ương đặt tại Bộ Lao động
Thương binh - Xã hội, ở địa phương, Sở Lao đông Thương binh - Xã hội là cơ
quan trực tiếp điều phối thực hiện chương trình trên địa bàn.
Tăng cường sự tham gia của các cơ quan thông tin tuyên truyền trong quá
trình thực hiện công tác giảm nghèo, đây được coi là giải pháp quan trọng để nâng
cao nhận thức, năng lực của người nghèo và cộng đồng
Chính phủ cũng giao cho Bộ Lao động Thương binh - Xã hội xây dựng và
trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích hỗ trợ hộ, xã mới thoát
nghèo; giao cho Bộ Nội vụ chỉ đạo thực hiện việc bố trí cán bộ làm công tác giảm
nghèo ở các cấp và giao trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành trong quá trình tổ
chức thực hiện chương trình.
Ngoài các Quyết định trên, Chính phủ còn thực hiện hỗ trợ đối với những
hộ nghèo trước tác động của việc tăng giá trong năm 2008 như sau:
Hỗ trợ học sinh Mẫu giáo và phổ thông học bán trú con hộ nghèo ở các xã
còn các vùng Bắc Trung Bộ; Nam Trung Bộ; Tây Nguyên có tỷ lệ giảm hộ đói
nghèo hơn 10%. Trong khi đó, vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng
bằng Sông Cửu Long có mức giảm từ 3,63% đến 6,78%. Cụ thể: Năm 2001, tỉ lệ
hộ nghèo Đồng bằng Sông Hồng: 9,76%; Đông Nam Bộ: 8,88%; Đồng Bằng Sông
Cửu Long: 14,18% nhưng đến năm 2004 tỉ lệ hộ nghèo ở các vùng này giảm
xuống, lần lượt là: Đồng bằng Sông Hồng: 6,13%; Đông Nam Bộ: 2,25%; Đồng
bằng Sông Cửu Long: 7,4% [23].
Xét theo trạng thái các xã nghèo: Bộ mặt các xã nghèo, xã đặc biệt khó
khăn đã có sự thay đổi đáng kể, nhất là về hạ tầng cơ sở phục vụ cho phát triển sản
xuất hàng hóa. Chất lượng cuộc sống người dân ở xã nghèo được nâng cao, nhất là
nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc miền núi, cụ thể: Thu nhập bình quân đầu người
của 20% nhóm nghèo nhất năm 2001 đạt 107.000 đồng/người/tháng và tăng
khoảng 1,45 lần vào năm 2005. Chi tiêu bình quân của 20% nhóm nghèo nhất năm
2001 là 121.000 đồng/người/tháng và tăng khoảng 8% – 9% trong giai đoạn 2002
– 2005. Trong giai đoạn 1993 – 2004, Việt Nam đã giảm được 60% tỷ lệ nghèo
khổ, tạo điều kiện chăm sóc sức khỏe miễn phí cho 88% người nghèo, hoàn thành
giáo dục Tiểu học cho tất cả mọi người dân, xây dựng 400.000 căn hộ mới cho
người nghèo, xóa bỏ tất cả những căn nhà tạm ở 2.000 thôn, xóm và năm tỉnh. [23]
Trang 19
Khóa luận tốt nghiệp Đại học sư phạm. SVTH:Nguyễn Ngọc Ánh
Giảm nghèo ở Việt Nam phản ánh cả trên bình diện gia tăng chi tiêu đầu
người trong hộ gia đình và tăng thu nhập đầu người nhờ có thành tựu 20 năm đổi
mới (1986 – 2006). GDP bình quân đầu người đã tăng nhanh từ 98 USD năm 90
lên 729 USD năm 2006 [19]. Như vậy, Việt Nam vẫn tiếp tục giảm được mức
nghèo đói, đời sống của những hộ nghèo, nhóm nghèo ngày càng được cải thiện rõ
rệt qua các năm.
Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu trên:
Một là, Đảng và Nhà nước ta đã nâng cao nhận thức, năng lực và trách
nhiệm của các cấp, các ngành và toàn thể xã hội về xóa đói, giảm nghèo. Vì vậy,
đã tạo nên sức mạnh tổng hợp trong các hoạt động xóa đói, giảm nghèo.
ra bến cá, 8 chợ cá, 1 trạm bơm cấp nước biển và 179 công trình phục vụ đời sống
dân sinh như trường học, trạm y tế…[23]
Ba là, Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện để người nghèo tiếp cận các dịch
vụ xã hội cơ bản.
Hỗ trợ người nghèo về y tế: Thực hiện theo Quyết định 139/QĐ – TTg của
Thủ tướng Chính phủ về thành lập quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo, năm
2005 có 3,6 triệu người nghèo được cấp thẻ bảo hiểm y tế và 4,1 triệu người nghèo
được cấp giấy khám chữa bệnh miễn phí với tổng kinh phí hỗ trợ là 246 tỷ đồng.
Tổng cộng đã có 7,7 triệu người nghèo được hỗ trợ để tiếp cận với dịch vụ y tế
trong năm 2005. So với 2001 số người được hỗ trợ chữ bệnh tăng thêm 3,2 triệu
người. [23]
Hỗ trợ người nghèo về giáo dục: Hàng năm có trên 3 triệu lượt học sinh
nghèo được miễn giảm học phí và các khoảng đóng góp xây trường; 2,5 triệu học
sinh nghèo dân tộc thiểu số được cấp, mượn sách giáo khoa và hỗ trợ vở viết với
tổng kinh phí hàng năm trên 100 tỷ đồng.
Hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở: Trợ giúp người nghèo về nhà ở được các địa
phương đặc biệt quan tâm. Cuối năm 2004 cả nước đã hỗ trợ cho 293.137 hộ
nghèo về nhà (trong đó sửa chữa 83.551 nhà và làm mới 209.586 nhà) với tổng
kinh phí trên 1.198 tỷ đồng. Ước tính đến hết năm 2005, cả nước hỗ trợ làm mới
và sửa chữa được khoảng 350.000 căn nhà. Vào tháng 6/2005 đã có 7 tỉnh tuyên
bố về cơ bản đã xóa xong nhà tạm (Hà Tĩnh, Tuyên Quang, Hải Dương, Hải
Phòng, Bắc Ninh, Hà Nội và Hưng Yên). [23]
Như vậy, trong 5 năm (2001– 2005) đã huy động được 41.000 tỷ đồng cho
mục tiêu giảm nghèo, riêng Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo
là 21.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương là 3000 tỷ đồng (chiếm
14,28%), ngân sách địa phương 2500 tỷ đồng (chiếm11,90%), huy động từ cộng
đồng1.500 tỷ đồng (chiếm 7,14%), từ lồng ghép các chương trình dự án 2000 tỷ
đồng (chiếm 9,52%) và lớn nhất là nguồn tín dụng 12.000 tỷ đồng (chiếm
57,14%). [23]
1.2.2.2 Hạn chế: