Phân tích và đánh giá thực trạng xoá đói giảm nghèo ở huyện Bình Liêu - tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2000-2010 - Pdf 12

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nghèo đói là một trong những vấn đề xã hội mang tính toàn cầu đối với
mọi quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển cũng như các nước đang phát triển và
kém phát triển, ở Việt Nam, đói nghèo là vấn đề được Đảng và Nhà nước đặc
biệt quan tâm. Sau gần 20 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế -
xã hội nước ta nói chung và khu vực nông thôn nói riêng đã có những biến đổi
sâu sắc. Nhịp độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế cao và tương đối ổn định từ
7% - 10% tỷ lệ lạm phát giảm, sản lượng lương thực liên tục tăng trong nhiều
năm qua, cuộc sống nhân dân ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã có
những thay đổi, tiến bộ .
Từ thực tế sản xuất cùng với việc thực hiện các chủ trương, chính sách của
Đảng , nhà nước, các hộ nông dân biết sở dụng có hiệu quả về lao động, đất đai,
tiền vốn cho nên ngày càng có nhiều những hội kinh doanh giỏi . Mặt khác, số
hộ nông dân không biết bắt nhịp thời cơ, tiếp cận những tri thức sản xuất hay
không đủ điều kiện đã trở thành hộ nghèo đói . Ranh giới giàu nghèo ngày càng
trở nên rõ nét hơn , khi nền kinh tế thị trường ngày càng mở cửa , điều đó đã dẫn
tới sự phân hoá sâu sắc về đời sống và thu nhập của nhóm người giàu và người
nghèo trong xã hội, giữa thành thị và nông thôn . Thực trạng này nếu không
được giải quyết sẽ nẩy sinh ra những mâu thuẫn trong xã hội , là nguy cơ làm
mất ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội .
Mặc dù được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm , ưu đãi trong công cuộc
xoá đói giảm nghèo. Nhưng Bình Liêu vẫn còn có hộ nghèo, cụ thể tổng số hộ
nghèo đầu năm 2006 là 254 hộ = 49,46% hộ ở Huyện.
Đây là một mối quan tâm lớn của cấp uỷ, các ban, ngành đoàn thể từ huyện
đến cơ sở . Vì vậy việc xoá đói giảm nghèo trong nông thôn ở đây được đặt ra
như một yêu cầu cấp bách cần giải quyết với nhiều phương pháp tiếp cận cả trên
bình diện vĩ mô và vi mô .
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36

Sinh viờn:Trn Th Lý
Lp Kinh T Lao ng K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đề tài sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu kết hợp với các phương
pháp phân tích tổng hợp số liệu, thống kê, so sánh xử lý, bảng biểu.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về xóa đói giảm nghèo.
Chương II: Phân tích và đánh giá thực trạng nghèo đói ở huyện Bình
Liêu giai đoạn 2000-2006.
Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị thực hiện tốt việc XĐGN ở
huyện Bình Liêu giai đoạn 2007-2010
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
I. Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực xác định đói nghèo của thế giới
I.1.Khái niệm
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nghiên cứu
vấn đề nghèo đói ở thành thị và nông thôn. Vậy như thế nào là nghèo đói? Xác
định và đánh giá như thế nào? Những câu hỏi đang đặt ra cho giới nghiên cứu
cũng như những nhà hoạch định ở mọi quốc gia. Vào cuối thập kỷ 80 và đầu
những năm 90 nền kinh tế của các vùng châu Á- Thái Bình Dương đã có những
chuyển biến rõ rệt, các nước cùng khu vực đã hỗ trợ liên doanh, liên kết với
nhau xây dựng, phát triển nền kinh tế, nhiều quốc gia đã cơ bản giải quyết được
vấn đề kinh tế, nhiều quốc gia khác đã có sự hồi phục lại nền kinh tế một cách
đầy ấn tượng.Tuy đã đạt được những thành quả to lớn đó, nhưng không có nghĩa

căn nguyên của nó, song với tư cách là một hiện tượng tồn tại phổ biến ở tất cả
các quốc gia, dân tộc trong tiến trình phát triển đói nghèo và phân hoá giàu
nghèo không bao giờ là hiện tượng kinh tế xã hội.Nhưng nó có những nội dung
vật chất, gốc rễ kinh tế ở bên trong và có quan hệ rất biện chứng với xã hội
chính trị và văn hoá.Như vậy, nghèo đói và phân hoá giàu nghèo là khái niệm
kép vừa có mặt kinh tế, vừa có mặt xã hội trong nội dung của nó, trong sự phát
sinh diễn biến ấy, nhân tố chính trị và văn hóa cũng có phần tác động, gây ảnh
hưởng tới hiện trạng, xu hướng và cách thức giải quyết. Điều này thật rõ trong
sự vận động của nền kinh tế thị trường, của bước chuyển đổi mô hình, cơ chế
chính sách quản lý, kể cả những biến đổi của cơ cấu kinh tế - xã hội trong thời
kỳ quá độ ở nước ta.
Đặc điểm này có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn vì đây là cơ sở của việc
tìm kiếm đồng bộ các giải pháp, biện pháp xoá đói giảm nghèo ở nước ta, nhất
là những vùng dân cư nông nghiệp trong nông thôn.
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Để đánh giá tình trạng nghèo đói của một quốc gia, nhận dạng được hộ
nghèo, hộ đói cũng như địa bàn cư trú của hộ, từ đó có những chính sách, giải
pháp hỗ trợ phù hợp đòi hỏi phải có những đúng đắn về vấn đề nghèo đói mà
trước hết là khái niệm, thước đo, chỉ tiêu chuẩn mực các hiện tượng kinh tế xã
hội này.
Hội nghị Quốc tế bàn về xoá đói giảm nghèo trong khu vực CHÂU Á-
THÁI BÌNH DƯƠNG do ESCAP tổ chức ở Băng Cốc năm 1993 đã đưa ra khái
niệm về nghèo đói như sau:
“Nghèo đói là tình trạng ,một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả
mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo
trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”.
Có thể coi đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, một định nghĩa có

nghèo đói HPI với bồn chỉ tiêu chính là:
- Tỷ lệ thất học.
- Tỷ lệ những người chết dưới 40 tuổi.
- Tỷ lệ người không được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản (nước sạch,
chăm sóc y tế, dinh dưỡng…)
- GDP bình quân đầu người tính theo phương pháp PPP ( ngang giá sức
mua ).
- HPI như là một công cụ để tham khảo đánh giá tình trạng nghèo đói của
một quốc gia.
I.3.Chuẩn mực xác định đói nghèo của thế giới.
Nghèo đói về lương thực thực phẩm : là những người có thu nhập không
đảm bảo cho lượng dinh dưỡng tối thiểu ( bù đắp 2100calo ri/người/ngày đêm).
Đường nghèo đói chung : được xác định trên cơ sở người nghèo lương thực thực
phẩm va coi đó là tương ứng với 70% nhu cầu cơ bản tối thiểu , còn 30% còn lại
là các nhu cầu cơ bản tối thiểu khác. Nghèo đói chung là những người không
đảm bảo thu nhập để đáp ứng 2 nhu cầu trên.
II. Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực xác định nghèo đói của Việt Nam.
II.1.Khái niệm về nghèo đói của Việt Nam.
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Việt Nam là một nước nghèo, thu nhập bình quân đầu người thấp, đầu
những năm 90 mức thu nhập chỉ đạt trên dưới 200 USD/người/năm. Đến đầu
năm 1997 mới đạt 320 USD/người/năm. ( 2006 trên 600 USD), tuy nhiên so với
thế giới và khu vực thì vẫn còn quá thấp. Chính vì vậy, qua nhiều cuộc điều tra,
khảo sát, nghiên cứu các nhà nghiên cứu quản lý ở các Bộ, ngành đã đi đến
thống nhất cần có khái niệm riêng, chuẩn mực riêng cho nghèo đói như sau:
Hộ nghèo: Là tình trạng một bộ phận hộ gia đình có mức sống dưới mức
trung bình của cộng đồng (thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không lành,

sánh được mức thu nhập của người dân theo không gian và thời gian.
II.3.Chuẩn mực xác định đói nghèo của Việt Nam
Chuẩn mực đói nghèo năm 1997-1998 được xác định :
Hộ đói : là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 13ky gạo/người/tháng ,
tương ứng với 45.000đ , (áp dụng cho mọi vùng).
Hộ nghèo: Phân theo 3 vùng có thu nhập như sau :
+ Vùng nông thôn miền núi , hải đảo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người
dưới 15kg gạo , tương ứng với 55.000đ.
+ Vùng nông thôn đồng bằng , trung du: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người dưới 20kg gạo, tương ứng với 70.000đ
+ Vùng thành thị : là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 25 kg gạo,
tương ứng với 90.000đ .
Bộ lao động TBXH đã đưa ra chuẩn mực chung cho toàn quốc . Các tỉnh ,
thành phố có thể căn cứ tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng nghèo đói ở địa
phương có thể nâng chuẩn mực nghèo đói cao hơn chuẩn chung , nhưng phải
đảm bảo 3 điều kiện :
+ Thu nhập bình quân đầu người cao hơn thu nhập bình quân cả nước .
+ Tỷ lệ nghèo đói thấp hơn tỷ lệ bình quân cả nước .
+ Có đủ nguồn lực cân đối thực hiện các giải pháp hỗ trợ XĐGN
Chuẩn nghèo theo quyết định số:1143/2000/QĐ-LĐTBXH mgày
01/11/2000 của Bộ trưởng Bộ lao động TBXH về việc điều chỉnh hộ nghèo giai
đoạn 2001 – 2005 theo mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng
vùng , cụ thể như sau :
Vùng nông thôn miền núi , hải đảo: 80.000đ/tháng/người - 960.000đ/ năm.
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000đ/tháng/người – 1.200.000đ/năm
- Vùng thành thị : 150.000đ/tháng /người – 1.800.000đ/ năm.

Chính vì vậy, người ta đã đưa thêm giới hạn nghèo đói 2.100
Kcal/người/ngày làm giới hạn nghèo đói. Nếu theo giới hạn này thì Việt Nam
năm 1994 có tới 51% dân số được xếp ở loại nghèo đói.
II.4. Tình hình nghèo đói ở Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam chỉ thực sự có bước chuyển biến khi Đảng và Nhà
nước thực hiện các chính sách mở cửa, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo
hướng phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Trong những
năm này, tình hình kinh tế trong nước đã có những thay đổi lớn. Cụ thể là tốc độ
tăng trưởng GDP cao và tăng đều qua các năm, bình quân thời kỳ 1986-1990
tăng 3% năm; thời kỳ 1991-1995 tăng 8,2% năm; năm 1991 tăng 9,34% … Nhờ
đó mà đời sống nhân dân được cải thiện, lạm phát được kìm chế và giảm dần
trong những năm gần đây: năm 1995 là 12,4%; năm 1996 là 4,5%; năm 1997
còn 3,6% (trong đó có những năm con số này lên đến 774,7% siêu lạm phát
(1986). Tuy đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ như trên, nhưng vào
thập niên 90 Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo trên thế giới, chỉ tiêu
kinh tế bình quân đầu người còn rất thấp, tỷ lệ nghèo đói vẫn còn cao. Có hơn
90% số người nghèo đói ở nông thôn sản xuất thuần nông, qui mô nhỏ và lạc
hậu
II.5. Nguyên nhân và đặc điểm của các hộ nghèo đói
* Nguyên nhân của các hộ nghèo đói
Thứ nhất, do nguồn lực bị hạn chế. Thiếu nguồn lực nên người nghèo bị
rơi vào vòng luẩn quẩn nghèo đói không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực làm
cản trở họ thoát nghèo, các hộ nghèo có ít đất, thiếu khả năng tiếp cận nguồn tín
dụng do không có tài sản thế chấp, sử dụng sai mục đích. Nguồn thu nhập bấp
bênh, tích luỹ kém nên khó chống đỡ với mọi biến cố xảy ra.
Thứ hai, do trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định:
người nghèo trình độ hoc vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt nên mức
thu nhập thấp, không có khả năng để nâng cao trình độ. Từ đó ảnh hưởng đến
các vấn đề giáo dục,sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái,…
Sinh viên:Trần Thị Lý

- Đông con, ít lao động.
- Rủi ro, ốm đau, bệnh tật.
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Thiếu tư liệu sản xuất cần thiết.
- Thiếu việc làm.
- Ăn tiêu không có kế hoạch, lười biếng, mắc tệ nạn xã hội.
Nhóm 2: Thuộc về điều kiện tự nhiên.
- Đất đai dùng cho thâm canh cây lúa, diện tích BQ đầu ngưòi thấp.
- Đất đai cằn cỗi, chưa chủ động hoàn toàn về nước.
- Thời tiết khí hậu khắc nghiệt gây khó khăn cho sản xuất, cụ thể như hạn
hán, bão lụt thường xuyên xảy ra kèm theo gió Lào, mưa phùn kéo dài,…
- Xa trung tâm kinh tế của tỉnh, giao thông đi lại khó khăn cách trở.
Nhóm 3: Gồm những yếu tố xã hội tác động.
- Hậu quả của chiến tranh để lại gây ảnh hưởng đến sản xuất phát triển kinh
tế.
- Nhà nước chưa có biện pháp đầu tư đúng mức để xây dựng cơ sở vật chất hạ
tầng cần thiết phục vụ sản xuất trong khi đó địa phương không có đủ khả năng
để tự làm như cầu đường giao thông.
-Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội chưa có biện pháp hữu hiệu để
chuyển những thông tin cần thiết đến tận người dân, cụ thể như: các biện pháp
lỹ thuật sản xuất, chăn nuôi, cách thức làm ăn, mở rộng ngành nghề mới, các
chủ trương chính sách nhất là chính sách kinh tế…
* Đặc điểm của các hộ nghèo đói
- Người nghèo chủ yếu là người nông dân với trình độ học vấn thấp và khả
năng tiếp cận đến các thông tin và kỹ năng chuyên môn bị hạn chế.
Tình trạng hộ nghèo có ít đất hoặc không có đất đang ngày một phổ biến
hơn. Các hộ không thể sống bằng canh tác trên đất có rất ít cơ hội để có thu nhập

nông nghiệp nhưng không có đất hoặc thiếu đất sản xuất; 43,95% hộ nghèo còn
dùng nước tự nhiên để ăn uống ; 18,28% hộ nghèo chưa sử dụng điện sinh hoạt .
Các huyện vùng cao, miền núi địa bàn rộng , địa hình phức tạp, hệ thống cơ sở
hạ tầng đến các thôn, bản còn thiếu và yếu. Khoảng cách chênh lệch về thu nhập
giữa thành thị và vùng nhiều dân tộc thiểu số vẫn tiếp tục gia tăng. Số hộ đã
thoát nghèo nhưng chưa thật sự bền vững, nguy cơ tái nghèo có khả năng tăng
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khi có thiên tai, dịch bệnh, mất mùa xảy ra. Trình độ dân trí của người nghèo
còn thấp, cơ hội tìm việc làm ngày càng khó khăn hơn.Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG XOÁ ĐÓI
GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN BÌNH LIÊU TỈNH QUẢNG NINH
GIAI ĐOẠN 2000-2006
I. Quá trình hình thành và phát triển của huyện Bình liêu
Bình liêu ngày nay, dưới thời phong kiến Việt nam , khi thực dân pháp
chưa xâm lược gồm hai tổng Bình liêu và Kiến Duyên của Châu Tiên Yên thuộc
phủ Hải Ninh , phủ Hải Ninh gồm có ba châu :Móng Cái, Tiên Yên, Hà Cối
Tỉnh Quảng Yên. Ngày 12 tháng 3 năm 1983, thực dân pháp đánh chiếm Quảng
Yên sau đó chiếm huyện Bình liêu , từng bước củng cố ách thống trị của chúng.
Ngày 10 tháng 12 năm 1906 , phủ toàn quyền pháp ra NĐ tách ba châu : Móng
Cái , Hà Cối , Tiên Yên khỏi tỉnh Quảng Yên , thành lập tỉnh mới Hải Ninh .

thông của huyện duy nhất là giao thông đường bộ có 33km đường nhựa cấp
miền núi với nhiều ngầm qua suối thuộc tuyến quốc lộ 18c, dài 52 km độc đáo
chạy dọc giữa huyện theo hướng Tây Nam – Đông Bắc từ Tiên Yên đến cửa
khẩu Hoành Mô, nối liền huyện Bình Liêu với trục đường 18c cảng mũi Chùa
(Tiên Yên)và các trung tâm kinh tế- xã hội của tỉnh .Ngoài ra có hệ thống cấp
phối và đường liên thôn, liên bản.
1.2 Đặc điểm tự nhiên
Cấu trúc địa hình đa dạng mang tính chất của miền núi , phân dị độ dốc
lún, nên thường bị sói mòn rửa trôi làm giảm độ phì của đất, ảnh hưởng tới sản
xuất nông – lâm nghiệp . Độ cao phổ biến từ 300- 400m có một số đỉnh cao trên
1000m, như núi cao xiêm 1.330m .
Đặc trưng khí hậu miền núi phân hoá theo đỉnh cao tạo ra những vùng tiểu
sinh thái nhiệt đới và á nhiệt đới cho phép phát triển đa dạng các loại cây trồng .
Nhiệt đới trung bình năm dao động từ 18
0
c-28
0
c, nhiệt độ trung bình cao nhất
mùa hạ từ 30
0
c- 34
0
c , nhiệt độ trung bình thấp nhất mùa đông từ 5
0
c- 15
0
c, thỉnh
thoảng có sương muối, băng giá ở vùng núi đồi cao có khi còn có tuyết bao phủ,
lượng mưa hàng năm khá cao nhưng không điều hoà, bình quân từ 2000-
2.400mm/năm, khoảng 70% lượng mưa tập trung vào tháng 6-9 trong năm sườn

+ Loại đất phát triển trên đá me riôlit: phân bố chủ yếu ở phía đông và đông
nam sông tiên yên, ven theo dẫy núi Cao Xiêm và Cao Ba Lanh (dọc từ xã Đồng
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Văn – Hoành Mô đến Tiên Yên). Loại đất này có độ phì cao, tầng đất dầy phù
hợp trồng các loại cây : Hồi, Quế,Trẩu, Sở …
+ Loại đất feralit phát triển trên đá sa phiến thạch : có tầng đất mỏng , độ
phì kém ; độ dốc lớn nên đất rẽ bị bào mòn và rửa trôi, phân bố chủ yếu ở phía
tây và tây bắc sông Tiên Yên . Trên loại đất này có thể trồng thông mã vĩ, cây
keo …
Biểu 1: Tổng hợp tài nguyên đất huyện Bình Liêu
Đơn vị: ha
Loại đất 2000 2003 2005
Tổng diên tích 42.918 47.138 47.306
I. Đất nông nghiệp 2.311 3.234 4.492
Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 5,38 6,86 9,5
Trong đó đất trồng cây hàng năm 1.681 1.955 1.928
Tỷ lệ% so với đất nông nghiệp 72,74 60,46 42,49
Trong đó đất ruộng lúa mầu 1.396 1.644 1.621
II. Đất lâm nghiệp 9.624 17.670 20.094
Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 22,42 37,48 42,48
III. Đất phi nông nghiệp 537 610 5.551
Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 1,25 1,29 3,28
Trong đó:a: đất chuyên dùng 425 495 493
Tỷ lệ% so với diện tích tự nhiên 0,99 1,05 1,04
Trong đó b: đất ở 112 115 132
Tỷ lệ % so với diện tích tự nhiên 0,26 0,24 0,28
IV. Đất chưa sử dụng 30.446 25.625 21.149

1.5. Tài nguyên khoáng sản
Theo điều tra khảo sát địa chất , Bình liêu nghèo khoáng sản cả về số lượng và
chất lượng . Đây hạn chế đối với phát triển kinh tế của huyện .Trên địa bàn
huyện mới chỉ phát hiện hiện đá hoa cương dọc từ Đồng Văn , Húc Động và
xung quanh núi cao xiêm , khai thác một số điểm khoáng sản , sản vật liệu xây
dựng : đá, cát, sỏi, phân bố theo hai bờ sông Tiên yên ; và sản xuất gạch cung
cấp cho xây dựng địa phương
1.6. Kết cấu hạ tầng giao thông:
Các trục đường giao thông liên tỉnh kết nối huyện Bình liêu với bên ngoài
được đầu tư nâng cấp bước đầu tạo điều kiện cho phát triển giao lưu kinh tế
thông suốt và thúc đẩy phát triển khu kinh tế cửa khẩu Hoành Mô - Đồng Văn .
Tuyến trục chình QL 18c cùng với hệ thống cống cầu,cống dài ( dài 52km,
trongđó đoạn tuyến qua huyện là 33km +5 cầu : Pắc hóc, Pắc lặc,Nà Bam, Pắc
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
cậm, Bản pạt 1+2 ,cống hộp khe chát) là trục đường huyết mạch của huyện đã
được mở rộng .
Đường giao thông trên địa bàn huyện, ngoài trục QL18c, có khoảng 314 km,
trong đó đường liên huyện : 53 km, đường liên xã ; 79 km và đường liên thôn
bản . các tuyến chính :
+ Nhựa hoá đường Hoành Mô - Đồnh Văn : dài 8 km
+ Nhựa hoá đường Bình Liêu – Húc Động : dài 10 km
+ Nâng cấp đường Lục Nà – Loòng Vài : dài 10 km
+ Đường Húc Động - Lục Ngù đang được nâng cấp : dài 6 km
+ Đường Bản Chuông- Nà sa
+ Bê tông , nhựa hóa đường nội thị trong khu cửa khẩu Hoành Mô ,
đường mở rộng thị trấn Bình Liêu .
+ Mạng lưới dịch vụ bưu chính - viễn thông : toàn huyện có hai cơ sở bưu

- Tổng sản phẩm nội địa GDP trên địa bàn huyện năm 2004 là 135,4tỷ đồng
( giá so sánh 94) trong đó 83,2 tỷ từ kinh tế địa phương huyện quản lý ( chiếm
61,4% GDP) và khoảng 52,2 tỷ đồng từ thu thuế xuất nhập khẩu ở cửa khẩu
Hoành Mô ( chiếm 38,6% GDP), tăng 22,6% so với năm 2000 . GDP (giáHH)
bình quân đầu người trên địa bàn huyện đạt 7,32 triệu đồng , bằng khoảng 82%
mức bình quân của tỉnh , và 84% mức bình quân cả nước . Nhịp độ tăng trưởng
GDP bình quân năm ( 2000 - 2004) đạt 9,1%
Nếu tính riêng tổng sản phẩm nội địa GDP (giá CĐ94) thuộc kinh tế địa
phương huyện quản lý ( không tính phần thuế xuất nhập khẩu tại cửa khẩu
Hoành Mô- Đồng Văn) đã tăng liên tục từ 59,1 tỷ đồng năm 2000 lên 83,2 tỷ
đồng năm 2004 . GDP bình quân đầu người là 4,45 triệu đồng tương đương
283USD/ người , bằng 48% bình quân của tỉnh và 50,5% cả nước . Nhịp độ tăng
trưởng GDP bình quân hàng năm của giai đoạn 2000- 2004 đạt khoảng 9,12%/
năm, Riêng năm 2004 GDP tăng gần 10% trong đó nông nghiệp tăng 2,22% ,
lâm nghiệp tăng 8,5%, công nghiệp xây dựng tăng 10,4% và dịch vụ tăng 4,5%.
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Biểu2: Tổng sản phẩm nội địa (GDP)
Đơn vị: tỷ đồng
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Tổng sản phẩm nội địa GDP
+ GDP theo kinh tế lãnh thổ 110,5 101,5 99,0 132,4 135,4 144,0
+ GDP theo kinh tế huyện 59,1 67,4 64,1 80,9 83,2 91,5
GDP bình quân/người (tr đ)
+ GDP/ng theo KT lãnh thổ 5,898 5,375 5,318 7,130 7,315 7,818
Quy USD 406 358 350 456 465 495
+ GSP/ng theo KT huyện 3,088 3,518 3,440 4,296 4,446 4,910
Quy USD 212 234 224 275 283 311

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn luôn được gữi vững và
ổn định , an ninh biên giới được đảm bảo , công tác cắm mốc biên giới đúng tiến
độ và đảm bảo an toàn ; an ninh ở vùng sâu, vùng xa và các thôn bản được củng
cố đảm bảo an trật tự trên các lĩnh vực kinh tế,văn hóa xã hội . Trong thời gian
qua đã phát hiện và sử lý 41 vụ bằng 166 đối tượng xuất nhập cảnh trái phép .
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong mọi tầng lớp
nhân dân , nhất là trong thanh thiếu niên, học sinh,thường xuyên chỉ đạo thực
hiện nhiệm vụ chống tham nhũng,chống buôn lậu, gian lận thương mại góp phần
đảo bảo trật tự kỷ cương xã hội ở địa phương.
Bình liêu có 17.700 ha rừng chiếm 7,8% diện tích đất rừng trong tỉnh và
chiếm 37,5% tổng diện tích đất tự nhiên của huyện .
2.5.Y tế-giáo dục
mạng lưới y tế-chăm sóc sức khỏe trên địa bàn huyện tiếp tục được đầu tư cơ
sở vật chất, trang thiết bị, huyện hiện có trung tâm y tế bệnh viện huyện ( qui mô
40 gường ) gồm các khoa, phòng và đội vệ sinh phòng bệnh có khả năng đảm
nhiệm cấp cứu thông thường và có một số trường hợp đặc biệt ngoại-sản; và 7
trạm y tế xã (24 gường) với tổng số gường bệnh 64 gường (2004 )
Tổng số cán bộ,nhân viên y tế hiện có 5/8 trạm y tế, thị trấn có bác sỹ; các thôn
bản đều có bác sỹ chăn sóc sức khỏe cộng đồng.
Những năm gần đây mạng lưỡi cơ sở giáo trường, lớp học được đầu tư
khá, được đưa vào sử dụng: THCS thị trấn Bình Liêu, THCS Hoành Mô, Lục
Hồn, Tình Húc, Húc Động.
Sinh viên:Trần Thị Lý
Lớp Kinh Tế Lao Động K36
27
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tuy nhiên,hiện nay hệ thống trường lớp còn nhiều bất cập, tồn tại phổ thông
cơ sở (Tiểu học + THCS ) các điểm trường nằm rải trên các thôn bản, nên khó
khăn trong việc quản lý vá nâng cao chất lượng giáo dục thường xuyên và trung
tâm dạy nghề.

Trích đoạn Dõn số lao động: Tỡnh hỡnh đúi nghốo của của huyện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status