trờng đại học kinh tế quốc dân
KHOA Kế HOạCH Và PHáT TRIểN
chuyên đề tốt nghiệp
Đề t ài:
Giải pháp xóa đói giảm nghèo tại huyện Quỳ Châu
tỉnh Ngệ An 2006-2010
Sinh viên thực hiện : HOàNG TUấN ANH
Chuyên ngành : KINH Tế PHáT TRIểN
Lớp : KINH Tế PHáT TRIểN 47B QN
Khóa : 47
Hệ : chính quy
Giáo viên hớng dẫn : GS.TS. Vũ THị NGọC PHùNG
Hà Nội - 2009
MỤC LỤC
BẢNG BIỂU...................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................2
PHẦN I: MỘT SỐ QUAN NIÊM CHUNG VỀ XĐGN………………….4
I. CÁC QUAN ĐIỂM VỀ ĐÓI NGHÈO…………………………………. 4
1. Quan niệm chung…………………………………………...................... 4
2. Quan niệm đói nghèo ở Việt Nam………………………........................9
II. CÁC QUAN NIỆM VỀ XÓA ĐÓI,GIẢM NGHÈO………............... 10
1.Nguyên nhân của đói nghèo……………………………………….........10
2. Khái niệm về xóa đói,giảm nghèo…………………………….............. 12
2.1. khái niệm về xóa đói……………………………………………………........12
2.2.khái niệm về giảm nghèo……………………………………………….........12
3. XĐGN đối với các vấn đề trong đời sống xã hội……………………...13
3.1.đối với sự phát triển kinh tếi…………………………………......................13
3.2.đối với vấn đề chính trị xã hội………………………………………............13
3.3. đối với các vấn đề văn hóa…………………………………………….........15
3.4.đối với một số vấn đề khác có lien quan……………………………...........16
2.2.6-Hỗ trợ khám và chữa bệnh cho người nghèo…………………...............43
2.2.7- Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng cho những xã nghèo……….................44
2.2.8- Xây dựng trung tâm cụm xã………………………………………...........45
2.3- Những tồn tại và hạn chế trong công tác XĐGN
huyện Quỳ châu…………………………………………………………….........45.
2.3.1- Về nhận thức trách nhiệm đối với công tác XĐGN……………............45
2.3.2- Về việc thực hiện các chương trình dự án, cơ chế chính sách............46.
2.4- Nguyên nhân của những tồn tại……………………………………............47
PHẦN III: PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP XĐGN
HUYỆN QUỲ CHÂU TRONG NHỮNG NĂM TỚI…………………... 48
I- MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUNG CHO VẤN ĐỀ XĐGN HUYỆN QUỲ
CHÂU……………………………………………………………………... 48
1- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến , nâng cao nhận thức các cấp,
các ngành và người dân về XĐGN.................................................................48
2. Đẩy mạnh phát triển kinh tế- xã hội với tốc độ cao, toàn diện và bền vững;
lồng ghép các chương trình, tận dụng các nguồn lực để đầu tư cho mục tiêu
phát triển cộng đồng và XĐGN……………………………..............................49
3. Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn để xoá đói giảm
Nghèo……………………………………………………………………...............50
3.1. Nâng cao hiệu quả và đa dạng hoá sản xuất nông
nghiệp………………………………………………………………......................50
3.1.1. Các giải pháp về đất đai và thuỷ lợi…………………………….............50
3.1.2 Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật……………………............................50
3.1.3 Về công tác đào tạo nghề………………………………………….............51
3.1.4. Thực hiện chính sách tín dụng…………………………………...............51
3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đa dạng hoá thu nhập ở nông thôn.........52
4. Phát triển công nghiệp tạo việc làm và nâng cao
mức sống cho người nghèo…………………………………………..................53
5. Phát triển cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo, người
nghèo tiếp cận dịch vụ công...........................................................................53
Thế giới bước sang thế kỷ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng
cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính chất toàn cầu. Nó chứa
đựng trong mình cả niềm vui nỗi bất hạnh, cả nụ cười và nước mắt, nỗi đau
nhân loại là nghèo đói vẫn còn trầm trọng trên một phạm vi vô cùng rộng
lớn. Nghèo, đói luôn là nỗi bất hạnh của loài người, là một nghịch lý trên
con đường phát triển. Trong khi thế giới đã đạt được những thành tựu to lớn
về tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm tăng đáng kể của cải vật chất xã hội, tăng
vượt bậc sự giàu có của con người, thì thảm cảnh đeo đẳng mãi trên lưng
con người lại chính là sự nghèo đói. Thực tế hiện nay trong hơn 7 tỷ người
của thế giới, thường xuyên có khoảng 3 tỷ người sống dưới mức sống
2USD/ngày, đặc biệt có 1,2 tỷ người sống dưới mức 1USD/ngày.
Ở nước ta, sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế đang từng bước khởi
sắc và đã đạt được những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh khối dân cư
giàu có và trung lưu ngày một gia tăng, vẫn còn một bộ phận lớn dân cư
nghèo đói. Tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam còn rất cao (11% năm 2000) đang là
một thách thức lớn đối với sự phát triển và trở thành mối quan tâm chung,
vấn đề cấp bách phải giải quyết của toàn xã hội. Do đó giải quyết vấn đề
giảm nghèo tạo tiền đề cho phát triển kinh tế – xã hội, chuyển nước ta từ một
nước nghèo trở thành một nước giàu có, văn minh.
Quán triệt qua điểm của Đảng huyện Quỳ Châu đã luôn quan tâm đến
công tác xoá đói giảm nghèo trong suốt quá trình phát triển. Tuy đã đạt được
những thành tựu tốc độ tăng trưởng khá trong nhiều năm vẫn có một khoảng
cách về thu nhập khá lớn. Mục tiêu của huyện Quỳ Châu là đến năm 2010
giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 26,5 % ( theo chuẩn mới). Đây là một việc
- -
7
hết sức khó khăn đòi hỏi phải có sự phối hợp nỗ lực của toàn thể cộng đồng
cũng như ý trí vươn lên của chính người nghèo.
Qua quá trình học tập tại trường và qua một thời gian nghiên cứu thực
tế em đã nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xoá đói
Trong thời kỳ tiền sử mông muội, loài người trong khi bức ra, tách khỏi
thế giới động vật trong giới tự nhiên để trở thành người và tổ chức thành đời
sống xã hội thì cùng với bước ngoặc vĩ đại ấy, con người đã phải thường
xuyên đối mặt với đói nghèo. ở đây, nghèo đói là hệ quả trực tiếp của lạc
hậu, mông muội là điển hình của sự thống trị của tự nhiên đối với con người.
Trong đời sống thực tế cũng như trong nghiên cứu khoa học các vấn đề
KTXH, chúng ta thấy khái niệm đói, nghèo hay nghèo khổ, giàu nghèo, phân
hoá giàu nghèo. Ngay khái niệm đói nghèo nếu tách riêng để phân tích và
nhận dạng cũng thấy giữa đói và nghèo, trong cặp đôi này vừa có quan hệ
mật thiết với nhau, vừa có khác biệt về mức độ và cấp độ. Đã lâm vào tình
trạng đói (mà ý nghĩa trực tiếp của nó là đói ăn, thiếu lương thực thực phẩm
để duy trì sự tồn tại của sinh vật và con người) thì đương nhiên là nghèo.
Đây vẫn thuần tuý là đói ăn, nằm trọn trong phạm trù kinh tế- vật chất. Nó
- -
9
khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hoá thuộc phạm trù đời sống tinh
thần. Quan niệm về nghèo thì có nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Tất
nhiên dù ở dạng nào thì nghèo vẫn có quan hệ mật thiết với đói. Nghèo là
một kiểu đói tiềm tàng và đói là tình trạng hiểu nhiên của nghèo. Sự nghèo
và nghèo khổ kéo dài, nếu không ra khỏi cái vòng luẩn quẩn của cảnh trì trệ,
túng thiếu thì chỉ cần xảy ra những biến cố đột xuất của hoàn cảnh (thiên tai,
đau ốm, bệnh tật, rủi ro…) là con người dễ dàng rơi vào cảnh đói (đói khổ,
đói rách). Ở đây ta xem xét hiện tượng đói nghèo ở góc độ đời sống vật chất,
góc độ kinh tế tức tính vật chất của nó.
Cần thấy rằng, tuy đói nghèo và phân hoá giàu nghèo biểu đạt nội
dung kinh tế, có nguồn gốc, căn nguyên kinh tế của nó, song với tư cách là
một hiện tưọng tồn tại phổ biến ở tất cả quốc gia dân tộc trong tiến trình phát
triển, đói nghèo và phân hoá giàu nghèo không bao giờ là hiện tượng kinh tế
thuần tuý mà thực chất là hiện tượng kinh tế- xã hội. Nhưng nó có những nội
dung vật chất, gốc rễ kinh tế bên trong và có quan hệ biện chứng với xã hội
chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng.
- Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về
giáo dục và y tế.
- Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức khả năng một hộ gia
đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập và về sức khoẻ.
- Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói và quyền lực của người
nghèo.
Để phân biệt rõ hơn nữa quan niệm về đói nghèo, các nước đã phân
làm hai loại: “Nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.
Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng
thoả mãn các nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống.
- -
11
Nghèo tương đối: là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống
dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương.
Theo đó sự thiếu thốn “của cải” trong mối quan hệ với nhu cầu thiết
yếu của con người được xem xét là nghèo khổ tuyệt đối. Còn khi xem xét
thực trạng mức sống và vị trí (về kinh tế và xã hội) các nhóm hoặc các cá
nhân khác ở phương diện mức độ tiêu thụ và thu nhập của họ (quan hệ so
sánh bằng phương pháp phân tích so sánh) ta sẽ hình dung được nghèo khổ
tương đối. Từ cách hiểu chung này cần thấy sự khác biệt về mức độ nghèo
khổ có tính chất địa phương và khu vực (trong vùng trong một quốc gia,
giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa các quốc gia trong khu vực này
với quốc gia thuộc khu vực khác…).
Tóm lại, khi xem xét tình trạng hoặc mức độ đói nghèo chúng ta cần
chú ý mấy điểm:
Một là, xem xét hiện tượng đói nghèo trước hết phải xem xét ở lĩnh vực
kinh tế, đặc biệt chú ý những biểu hiện về mức sống, thông qua các nhu cầu
cơ bản, tối thiểu về đời sống vật chất.
Hai là, xác định tiêu chí mức độ đói nghèo dựa vào thu nhập bình quân
Nếu điểm xuất phát tới chủ nghĩa xã hội lại quá thấp và sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội còn là mới mẻ, đang từng bước phải tìm tòi về con
đường, cách đi, mô hình, cách làm ... như ở nước ta thì vấn đề nghèo đói vẫn
còn tồn tại là vấn đề khó tránh khỏi.
Đối với Việt Nam để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa hơn so
với các nước trên thế giới và trong khu vực, con đường phải đi của chúng ta
là phát triển rút ngắn đồng thời gắn liền với việc giảm tối đa cái giá phải trả -
- -
13
trong đó có việc phải xoá đói giảm nghèo. ở Việt Nam,đó là nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2- Quan niệm đói nghèo ở Việt Nam
Do đặc thù của một nước đang phát triển có xuất phát điểm thấp, đồng thời
qua nhiều cuộc điều tra, khảo sát, nghiên cứu của các Bộ, Ngành đã đi đến
thống nhất cần tách riêng đói nghèo thành hai khái niệm riêng (Giáo trình
kinh tế lao động):
2.1Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức
tối thiểu và thu nhập không đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc
sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn đứt bữa từ 1 đến 2 tháng,
thường vay nợ của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả.
Đói là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức
tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc
sống. Hay có thể nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo.
Tài liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phân loại đói làm
hai dạng (theo mốc đánh giá năm 1993):
Thiếu đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có thu nhập dưới mức
thu nhập là 12 kg gạo/người/tháng. Hay là tình trạng của một bộ phận dân cư
ở nông thôn có thu nhập dưới mức 20.400 đồng/người/tháng và ở thành thị
là 24.500 đồng/người/tháng.
Đói gay gắt: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức thu nhập
có công cụ sản xuất từ đơn sơ đến hiện đại. Song do môi trường và điều kiện
- -
15
kinh tế xã hội khác nhau nên hiện nay trên toàn cầu có 1,5 tỷ người đang
phải sống trong tình trạng nghèo đói. Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở
nước ta thì có nhiều, song qua nghiên cứu tổng kết chúng ta có thể đưa ra
được 6 nguyên nhân chính (bao gồm cả khách quan và chủ quan) sau:
Do trình độ sản xuất: hiện nay ở nước ta, tỷ lệ lao động có chuyên môn
kỹ thuật rất thấp 14% trong khi đó khu vực thành thị chiếm từ 40 – 60%.
Việc đào tạo lao động dó chuyên môn kỹ thuật còn nhiều hận chế như: giáo
dục xuống cấp, kinh tế nhiều vùng thấp kém không có điều kiện để theo học.
Nhà nước chưa có chính sách quan tâm đào tạo, phân phối sức lao động kỹ
thuật cho nông thôn.
Do bản thân người nghèo: người nghèo là người thiếu hầu hết các yếu
tố để tạo lập lên một cuộc sống bình thường. Hộ thiếu vốn thiếu kỹ năng lao
động, thiếu trình độ họ vấn và thiếu cả ý thức vươn lên thoát khỏi cảnh
nghèo đói.
Do thất nghiệp: Việt Nam là một nước đang phát triển có cung lao động
lớn do dân số tăng nhanh, cầu lao động thấp do trình độ kinh tế kém phát
triển thường gây lên tình trạng thất nghiệp cao làm cho các vấn đề xã hội
càng trở lên phức tạp kết cục là lại tăng thêm người nghèo.
Do điều kiện tự nhiên và môi trường: là một nước nông nghiệp nghèo
bởi điều kiện tự nhiên ít thuận lợi thường bị thiên tai và khả năng hạn chế
thiên tai là rất hạn chế. Theo ước tính mỗi năm ngân sách tăng khoảng 4000
tỷ trong khi thiệt hại do thiên tai trung bình là 6000 tỷ.
Do cơ chế chính sách: hệ thống cơ chế chính ở nước ta hiện nay còn
đang khập khễnh chưa đồng bộ chưa thoả đáng. Gần 80% dân số ở nông
- -
16
thôn trong khi đầu tư ngân sách nhà nước vào khu vức này chỉ chiếm 10%
3.Xóa đói,giảm nghèo đối với các vấn đề trong đời sống xã hội
Đói nghèo là vấn đề mang tính chất toàn cầu, tất cả các quốc gia trên
thế giới đều phải quan tâm đến vấn đề xoá đói giảm nghèo trong quá trình
phát triển kinh tế xã hội. Chính vì vậy xoá đói giảm nghèo là một bộ phận
trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tất cả các nước, đó cũng là một
trong những mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
Việt Nam. Chính vì lẽ đó xoá đói giảm nghèo và các vấn đề trong đời sống
xã hội có quan hệ mật thiết với nhau. Cụ thể trong quá trình phát triển kinh
tế, xoá đói giảm nghèo có mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế, giải quyết
các vấn đề văn hoá củng cố an ninh chính trị xã hội và một số chính sách
khác có liên quan.
3.1-Xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế
Nghèo đói đi liền với lạc hậu, chậm phát triển là trở ngại lớn đối với
phát triển. Nói cách khác, xoá đói giảm nghèo là tiền đề của phát triển.
Ngược lại sự phát triển kinh tế - xã hội vững chắc gắn với tăng trưởng kinh
tế với công bằng xã hội là nhân tố đảm bảo thành công trong công tác xoá
đói giảm nghèo. Thông qua hiện trạng nghèo, đói người ta thường nhận thấy
sự phát triển chậm của lực lượng sản xuất, sự lạc hậu của kỹ thuật, trình độ
thấp kém của phân công lao động xã hội. Nó dẫn tới năng xuất lao động xã
hội mức tăng trưởng kinh tế luôn ở những chỉ số thấp. Thất nghiệp gia tăng,
thu nhập không đủ cho chi dùng vật phẩm tối thiểu, do đó càng không thể có
điều kiện chi dùng cho những nhu cầu văn hoá tinh thần để vượt qua ngưỡng
- -
18
tồn tại sinh học, vươn tới việc thoả mãn nhu cầu phát triển chất lượng con
người. Đó là hiện trạng nghèo đói về kinh tế của dân cư.
Nhìn từ góc độ xã hội, nghèo đói của dân cư biểu hiện qua tỷ lệ lao
động thất nghiệp (tuyệt đối và tương đối), chỉ số về tổng số sản phẩm quốc
nội, thu nhập bình quân theo đầu người, mức độ thấp kém của đầu tư cho
phát triển kinh tế - xã hội, kể cả phát triển giáo dục, khoa học - kỹ thuật, văn
) đang là lực cản kinh tế - xã hội lớn nhất đối với các nước nghèo hiện nay
trong quá trình phát triển. Và không có khuôn mẫu duy nhất nào có thể sao
chép, áp dụng hệt như nhau cho việc giải quyết bài toán kinh tế - xã hội này.
Như vậy, nghèo đói và lạc hậu sóng đôi với nhau, là xiềng xích trói
buộc các nước nghèo, là một trong những vấn dề bức xúc nhất hiện nay mà
mỗi quốc gia dân tộc và cộng đồng quốc tế phải cùng hợp tác giải quyết.
3.3-Đối với các vấn đề về văn hoá.
Từ nghèo đói về kinh tế dẫn tới nghèo đói văn hoá. Nguy cơ này rất
tiềm tàng và thực sự là một chướng ngại vật đối với sự phát triển không chỉ
ở từng người, từng hộ gia đình mà còn cả cộng đồng, kìm hãm sự phát triển
xã hội.
ở một trình độ phát triển thấp, nghèo đói về kinh tế là sự nổi trội gay
gắt nhất. Do đó mục tiêu phấn đấu là đạt được sự giàu có. Nhưng sự giàu có
chỉ thuần về vật chất, kinh tế mà vắng bóng sự phát triển văn hoá, tinh thần,
sự định hướng giá trị sẽ chỉ kích thích tính thiển cận, chủ nghĩa thực dụng,
sự thiếu hụt hoặc lệch chuẩn về mặt nhân văn, nhân cách con người .… Đi
vào lối sống, sự sùng bái giàu có vật chất có nguy cơ phát triển cái xấu, cái
ác, làm nghèo nàn biến dạng cái chân thiện mỹ. Nếu tình trạng đó xảy ra ở
- -
20
lớp trẻ sẽ càng nguy hại, đẩy tới sự nghèo nàn, cằn cỗi, về văn hoá nhân
cách. Nó kìm hãm sự phát triển không kém gì lực cản đói nghèo về kinh tế,
thậm chí còn tệ hại hơn vì nó thẩm lậu vào những yếu tố phản phát triển,
chứa chấp các mầm mống của bệnh hoạn, suy thoái.
“Nghèo đói về kinh tế dễ nhận thấy và ít ai dám coi thường nó. Cũng
do đó, giàu về kinh tế dễ trở thành một khát vọng đam mê thậm chí cực
đoan, làm giàu bằng mọi giá, bất chấp mọi thủ. Nghèo đói về văn hoá khó
nhận thấy hơn và rễ rơi vào sự nhận thức muộn màng, có khi phải trả giá”.
Do đó trong khi tập trung mọi nỗ lực chống đói nghèo về kinh tế, cần
sớm cảnh báo xã hội những nguy cơ tác hại của đói nghèo văn hoá. Không
hệ thống ba mục tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ người lớn, thu nhập bình
quân trên đầu người trong năm.
Tiêu thức về chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng: Tính mức tiêu dùng quy ra
kilocalo cho một người trong một ngày.
Tiêu thức về thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người: đây là
chỉ tiêu chính mà hiện nay nhiều nước và tổ chức quốc tế đang dùng để xác
định giàu nghèo.
Tóm lại, sự kết hợp chỉ tiêu GDP, HDI, và PQLI cho phép nhìn nhận
các nước giàu, nghèo chính xác và khách quan hơn. Bởi nó cho phép đánh
giá khách qua, toàn diện của con người trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội.
- -
22
2.2- Mức chuẩn đánh giá nghèo đói.
a- Mức chuẩn nghèo đói đối với quốc tế (đánh giá nước giàu, nước
nghèo).
ở một khía cạnh khác nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế -
xã hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu
vực, một vùng, một miền. Các chỉ số xác định thế nào là nghèo cho biết trình
độ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và trình độ lực lượng sản xuất nói
riêng ở vùng, miền, quốc gia đó ở tại một thời điểm nhất định.
Ví dụ: với chỉ số nghèo là 400 USD/người/ năm cho biết đây là nước
đang phát triển. Với chỉ số nghèo là 13.000 USD/người/năm cho biết đây là
nước phát triển.
Như vậy trên thế giới tương đương với ba nhóm nước có ba dạng nghèo
khác nhau: Nghèo ở các nước có trình độ kinh tế phát triển cao; nghèo ở các
nước có trình độ phát triển kinh tế chậm và nghèo ở các nước có trình độ
phát triển kinh tế trung bình. Việc phân định ba dạng nghèo như vậy có ý
nghĩa rất lớn trong việc xem xét đánh giá nghèo ở mỗi nước thuộc dạng nào,
tương ứng với trình độ phát triển kinh tế – xã hội nào để có cách nhìn tổng
quát trong quá trình giải quyết vấn đề xoá đói giảm nghèo.
nhà nước giao trách nhiệm nghiên cứu và công bố chuẩn nghèo của cả nước
qua từng thời kỳ.
- -
24
Tiêu chuẩn nghèo đói năm 1997 là :
- Hộ đói: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 13 kg/tháng,
(tương đương 45.000đ).
- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân quy ra gạo:
+ Vùng nông thôn miền núi. hải đảo: dưới 15kg/người/tháng(tương
đương 55.000đ)
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương
đương 70.000đ)
+ Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng(tương đương 90.000đ)
- Xã nghèo: là xã có tỷ lệ hộ đói nghèo từ 40% trở lên và thiếu cơ sở hạ
tầng (điện, đường, trường, trạm, nước sạch, chợ).
Chuẩn nghèo mới được điều chỉnh năm 2000 như sau:
- Hộ nghèo : Là hộ có thu nhập bình quân
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 80.000đ/người/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng: dưới 50.000đ/người/tháng.
+ Vùng thành thị:dưới 150.000đ/người/tháng.
- Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên và chưa đủ cơ sở hạ
tầng thiết yếu (điện, đường, trường, trạm, nước sạch, chợ).
Ngân hàng thế giới dựa theo mức nhu cầu calo tiêu thụ hàng ngày là
2.100 calo/ người/ ngày và đồng thời cũng tính đến việc thay đổi giá cả theo
từng vùng của một số nhóm hàng hoá lương thực, thực phẩm thiết yếu đã
đưa ra một tiêu chuẩn để đánh giá nghèo đói tại Việt Nam là:
Tính bình quân: 1.090.000 đồng/ người/ năm
- -
25