Thực trạng và một số giải pháp xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh Bảo – thành phố Hải Phóng - Pdf 11

Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC BẢNG BIỂU, TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Những năm gần
đây, nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước
ta đã có những bước chuyển mình rất quan trọng. Đặc biệt là vào năm 2006
nước ta đã chính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất
thế giới WTO. Những nhân tố đó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng
trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống nhân dân đã được nâng lên một cách rõ
rệt. Song, một bộ phận không nhỏ dân cư đặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùng
sâu, vùng xa... đang chịu cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được những điều
kiện tối thiểu của cuộc sống như ăn, ở, mặc, đi lại... Chính vì vậy, sự phân
hoá giàu nghèo ở nước ta ngày càng diễn ra mạnh mẽ. Nó không chỉ là mối
quan tâm hàng đầu của những nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới, mà
đối với nước ta khi nền kinh tế đang có sự chuyển mình thì vấn đề phân hoá
giàu nghèo càng được chú trọng hàng đầu. Để có thể hoàn thành mục tiêu
quốc gia là Xoá đói giảm nghèo thì thì trước tiên phải rút ngắn sự phân hoá
giàu nghèo. Đây không chỉ là nhiệm vụ của bộ máy lãnh đạo mà còn là nhiệm
vụ của toàn thể nhân dân. Phải phát huy truyền thống tinh hoa văn hoá người
Việt trong nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo.
Như Thanh - Thanh Hoá là một huyện miền núi thuộc tỉnh Thanh Hoá,
huyện cũng có một nét chung đối với tất cả các địa phương khác đó là tình
trạng nghèo đói vẫn còn tồn tại. Đời sống một bộ phận nhân dân vẫn đang rất
khó khăn yếu kém. Điều này cũng là một tất yếu đối với một huyện miền núi
mà nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.Huyện mới được thành lập từ
năm 1997 từ việc chia tách từ huyện Như Xuân. Do đó, công tác xoá đói giảm

phòng Nội vụ- LĐTB&XH huyện Như Thanh - Thanh Hoá- đã hướng dẫn em
trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
Phần 1: Sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo.
1. Khái niệm.
1.1. Khái niệm nghèo, đói:
1.1.1. Theo quan niệm của Quốc tế.
- Theo Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
(ESCAP): Nghèo đói là trạng thái môt bộ phận dân cư không được hưởng và
thão mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã
được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục
tập quán của địa phương.
Khái niệm nghèo đói có thể chia theo hai cách khác nhau: Nghèo tuyệt
đối và nghèo tương đối.
Nghèo tương đối là sự thõa mãn chưa đầy đủ nhu cầu cuộc sống của
con người như: cơm ăn chưa ngon, quần áo chưa mặc đẹp, nhà ở chưa k hang
trang... hay nói cách khác là có sự so sánh về thoã mãn các nhu cầu cuộc sống
giữa người này với người khác, vùng này với vùng khác.
Hộ nghèo tương đối không phải là đối tượng chủ yếu của chương
trình. Để giải quyết nghèo tương đối có chương trình, giải pháp khác tác động
đến như: Chương trình cho vay vốn giải quyết việc làm, phát triển kinh tế
trang trại, cho vay của ngân hàng chính sách, ngân hàng Nông nghiệp.
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa
dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như
là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những
người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội
đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ
thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo
tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ

trung bình khi tất cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế những người đó
vẫn còn là nghèo tương đối. Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của
thì sẽ giảm trung bình của thu nhập đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương
đối trong một nước. Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người
không nghèo có thể tăng được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập
khác vẫn không có thay đổi. Người ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn
vấn đề nghèo với vấn đề phân bố thu nhập. Vì một sự phân chia rõ ràng giữa
nghèo và giàu trên thực tế không có nên khái niệm ranh giới nguy cơ nghèo
cũng hay được dùng cho ranh giới nghèo tương đối.
Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương án tính toán ranh
giới nghèo tuyệt đối đã đứng vững. Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính
toán một cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để có thể
tham gia vào cuộc sống xã hội.
Các ranh giới nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối đều không có thể xác
định được nếu như không có trị số tiêu chuẩn cho trước. Việc chọn lựa một
con số phần trăm nhất định từ thu nhập trung bình và ngay cả việc xác định
một giỏ hàng đều không thể nào có thể được giải thích bằng các giá trị tự do.
Vì thế mà chúng được quyết định qua những quá trình chính trị.
1.1.2. Quan niệm đói nghèo của Việt Nam (Theo Chương trình Quốc gia
Xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005 và phương hướng từ năm 2006-2010
của Thủ tướng Chính phủ năm 2000).
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thõa mãn
một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với
mức sống tối thiểu của cộng động xét trên mọi phương diện.
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối
thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống.
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
- Xóa đói giảm nghèo là một chiến lược của Chính Phủ Việt Nam
nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam. Đói
nghèo là vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững, đồng thời là vấn đề xã

giao thông, trường học, trạm y tế, điện sinh hoạt, nước sạch, chợ). Cụ thể là:
• Dưới 30% số hộ sử dụng nước sạch.
• Dưới 50% số hộ sử dụng điện sinh hoạt.
• Chưa có đường ô tô đến trung tâm xã hoặc ô tô không đi lại
được cả năm.
• Số phòng học( Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo)
chỉ đáp ứng được dưới 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng
học tạm bợ bằng tranh tre, nứa, lá.
• Chưa có trạm y tế xã hoặc có nhưng là nhà tạm.
• Chưa có chợ hoặc chợ tạm bợ.
- Hộ vượt nghèo hay hộ thoát nghèo: Là những hộ mà sau một qúa trình
thực hiện chương trình Xoá đói giảm nghèo cuộc sống đã khá lên và mức thu
nhập đã ở trên chuẩn mực nghèo đói. Hiện nay, ở một số địa phương có sử
dụng khái niệm hộ thoát(hoặc vượt) đói và họ thoát nghèo. Hộ thoát nghèo
đương nhiên không còn là hộ đói nghèo nữa. Trong khi đó, hộ thoát nghèo đói
có thể đồng thời thoát hẳn nghèo(ở trên chuẩn nghèo), nhưng đa số trường
hợp thoát đói(rất nghèo) nhưng vẫn ở trong tình trạng nghèo.
- Số hộ nghèo giảm hay tăng trong một khoảng thời gian: Là hiếu số
giữa tổng số hộ nghèo ở thời điểm đầu và cuối. Như vậy, giảm số hộ đói
nghèo khác với khái niệm số hộ vượt nghèo và thoát nghèo. Số hộ thoát
nghèo là số hộ ở đầu kỳ nhưng đến cuối kỳ vượt ra khỏi ngưỡng nghèo. Trong
khi đó, số hộ nghèo giảm đi trong kỳ chỉ phản ánh đơn thuần chênh lệch về
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
mặt số lượng hộ nghèo, chưa phản ánh thật chính xác kết quả của việc thực
hiện chương trình.
- Hộ tái nghèo: Là hộ vốn dĩ trước đây thuộc hộ nghèo và đã vượt
nghèo nhưng do nguyên nhân nào đó lại rơi vào cảnh đói nghèo. Ý nghĩa của
khái niệm này là phản ánh tính vững chắc hay tính bền vững của các giải pháp
xoá đói giảm nghèo. Thực tế cho thấy, hầu hết các hộ tái nghèo chính là do
gặp thiên tai bất khả kháng.

hay 1.200.000đồng/người/năm được coi là nghèo.
Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 150.000đồng/người/tháng, hay
1.800.000đồng/người/năm được coi là nghèo.
Giai đoạn 2006-2010:
Chuẩn nghèo chỉ áp dụng cho 2 khu vực là:
Khu vực Nông thôn: Thu nhập bình quân 200.000đồng/người/tháng,
được coi là nghèo.
Khu vực thành thị: Thu nhập bình quân 260.000đồng/người/tháng,
được coi là nghèo.
1.1.5. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo.
- T ăng trưởng kinh tế có vai trò vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc
gia. Nó là điều kiện cần thiết đầu tiên để khác phục tình trạng nghèo đói, lạc
hậu, để cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho dân cư.
- Xoá đói giảm nghèo gắn với tăng trưởng kinh tế. Bất cứ quốc gia nào
cũng phải lấy nền quan tọng nhất của nó là phát triển tăng trưởng kinnh tế để
xoá đói giảm nghèo, chỉ có tăng trưởng kinh tế mới cho phép các quốc gia
tích luỹ để đầu tư cho xoá đói giảm nghèo vì xoá đói giảm nghèo cần rất
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
nhiều nguồn lực và trong nhiều năm. Mặt khác tăng trưởng kinh tế phải vì
người nghèo, vùng nghèo thì mới lam fcho khoảng cách giầu nghèo một cách
hợp lý với tiến trình phát triển của xã hội. Nếu tăng trưởng kinh tế không vì
người nghèo thì chính nó lại làm cho kh oảng cách giầu nghèo tăng thêm và
điều này không phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên trong
phân bố ngân sáchchúng ta không được thiên lệch về một hướng nào. Nếu
tăng trưởng kinh tế quá nhanh thì nguồn ngân sách cho xoá đói giảm nghèo sẽ
ít và người nghèo không theo kịp tiến trình phát triển kinh tế và ngược lại nếu
chú trọng và công tác xoá đói giảm nghèo mà không quan tâm đến tăng
trưởng kinh tế thì càng làm cho người nghèo càng nghèo thêm.
Vì vậy, xoá đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng và
tăng trưởng bền vững vào tăng trưởng kinh tế trên diện rộng được coi là một

nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đói nghèo. Trong đó phải kể đến một số yếu tố cơ
bản có ảnh hưởng đến đói nghèo của huyện như sau:
2.1.Yếu tố khách quan.
• Yếu tố tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp thuần
tuý của huyện. Trong những năm gần đây sản xuất nông nghiệp luôn bị rơi
vào tình cảnh mất mùa, có năm mất trắng ở một số xã đối với diện tích lúa
nước (năm 2005). Đây không chỉ là do thiên nhiên ngày càng biến đổi phức
tạp khó lường mà nó còn do một phần bàn tay con người gây ra. Việc thiếu ý
thức trong bảo vệ rừng là một nguyên nhân điển hình gây ra nhiều lũ quét và
lốc xoáy. Do tàn pha rừng và môi trường thiên nhiên nên tự nhiên không còn
tuân theo quy luật vốn có của nó nữa. Chính việc này gây ra hiệu quả sản xuất
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
nông nghiệp tụt giảm đáng kể. Không ai khác gánh chịu hậu quả này đó chính
là người nông dân. Khi rơi vào cảnh mất mùa thì người nghèo lại càng nghèo
hơn. Bên cạnh đó, ngoài sản xuất nông nghiệp họ rất khó chuyển đổi canh tác.
Một phần là vì địa hình phức tạp, và một phần là do khí hậu hạn chế khả năng
canh tác của họ. Chính vì vậy nghèo đói vẫn còn tồn tại và một phần là điều
kiện tự nhiên gây nên.
• Yếu tố kinh tế- xã hội.
Nền kinh tế non trẻ do việc huyện mới được thành lập không lâu, sự ổn
định cần thiết của nó cũng chỉ mới là bước đầu. Để có thể tạo cơ hội cho
người dân có nhiều việc làm hơn, có thu nhập cao hơn là từ nông nghiệp
thuần tuý vẫn phải có thời gian. Chính vì vậy khó có thể tránh khỏi sự chênh
lệch về kinh tế cũng như là thu nhập của ngưòi dân so với các địa phương
khác. Thực tế cho thấy, khi kinh tế chưa thực sự ổn đinh, tác động của nó đến
đời sống người dân là rất lơn. Nó không chỉ gây ra tình trạng thiếu việc, thiếu
cơ sở vật chất… mà còn kìm hãm chính sự phát triển của con người. Như vậy,
người dân rơi vào cảnh nghèo đói là một điều khó thể tránh khỏi. Hiện tượng
này không chỉ xảy ra với huyện Như Thanh - Thanh Hoá mà còn xảy ra trên

Đói nghèo chỉ có thể xoá được khi có sự nỗ lực từ chính bản thân người
nghèo.
Trên đây chỉ là một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến vấn đề nghèo đói.
Thực tế cho thấy nạn nghèo đói không thể giải quyết trong thời gian ngắn,
chính vì vạy mà những yếu tố ảnh hưởng đến nó cũng sẽ thay đổi theo thực
trạng nghèo đói của từng nơi.
3. Ảnh hưởng của đói nghèo đến đời sống xã hội.
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
Vấn đề nghèo đói không chỉ gây ra những hậu quả cho bản thân người
nghèo mà còn gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển chung của toàn
xã hội. Ta có thể thấy được tác động của nghéo đói đến bản thân người nghèo
và ảnh hưởng đến toàn xã hội thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1: Ảnh hưởng của nghèo đói đến đời sống xã
hôi.
Nghèo đói dẫn đến
Bệnh tật Gia tăng dân số
Môi trường sống Suy dinh dưỡng
Tệ nạn xã hội Thất học
Nghèo đói
Cản trở sự tăng trưởng kinh tế Kìm hãm sự phát triển con
người
Bất bình đẳng xã hội Phá huỷ môi trường
( Nguồn:Tài liệu tập huấn Cán bộ Xoá đói giảm nghèo cấp huyện và
xă-2006)
Như vậy, muốn kinh tế phát triển được thì phải giải quyết được vấn đề
nghèo đói.
Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản
hướng vào phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham
gia vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, để cho người nghèo
có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vươn

giảm nghèo tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia, những bài học đó chỉ
là cơ sở để nghiên cứu, việc áp dụng được hay không còn phả xem xét rất
nhiều ở từng khía cạnh và thời kỳ cụ thể của nước ta.
4.2. Kinh nghiệm Xoá đói giảm nghèo của một số địa phương trong nước.
- Kinh nghiệm góp phần xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Đồng Nai : Đưa
"những cái thiếu" về nông thôn, đến tận tay người nghèo.
Đồng Nai được xem là một trong những địa phương thành công nhất trong
việc thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo. Bài học kinh nghiệm của
tỉnh thì nhiều, nhưng dưới góc nhìn của Ban chỉ đạo xóa đói giảm nghèo
Chính phủ, thì các chính sách "đem cái chữ đến cho người nghèo", "gắn chế
biến nông sản với vùng nguyên liệu" và "đưa ngân hàng về cơ sở" của Đồng
Nai là những nét nổi bật.
+)Dạy chữ, dạy nghề cho người nghèo
Trước khi triển khai thực hiện giải pháp nâng cao dân trí cho người nghèo,
tỉnh đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về xây dựng trường lớp ở nông thôn, các
vùng khó khăn và tiến đến kiên cố hóa. Có cái nền vững chắc như vậy cùng
với phong trào xã hội hóa giáo dục của tỉnh diễn ra mạnh mẽ đã tác động đến
ý thức của người dân, đặc biệt là nông dân trong việc chăm lo cho sự nghiệp
giáo dục và đào tạo. Nhờ vậy, đến nay hầu hết các em tuổi từ 18 trở xuống
đều có trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở.
Tỉnh cũng chủ trương bên cạnh với công tác dạy chữ cần quan tâm đến
dạy nghề để giúp người dân có việc làm, thu nhập ổn định, thoát nghèo bền
vững. Sở Lao động, thương binh và xã hội cùng ngành giáo dục - đào tạo đã
tổ chức được nhiều trường, khóa, lớp đào tạo nghề ngay tại các doanh nghiệp,
tại các xã vùng sâu, vùng xa để người dân nghèo, trình độ văn hóa chưa cao
được học những ngành nghề phù hợp. Hiện nay, ngoài các trung tâm học tập
cộng đồng có dạy nghề thì ở tất cả các huyện, thị xã trong tỉnh đều có nhiều
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
trường, lớp dạy nghề trên các lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp. Tỉnh
cũng tiến hành nhiều chương trình tài trợ, hỗ trợ dạy nghề và giới thiệu việc

giống mới cho hộ nghèo như: Lúa vụ mùa là 5.000đ/kg, lúa vụ chiêm là
3.000đ/kg, Ngô vụ đông là 3.000đ/kg... Trợ giá, trợ cước cho các sản phẩm
thếit yếu như : muối, dầu hoả, phân bón, giấy vở học sinh, than đá trong 5
năm là 3 tỷ đồng.
Đã cấp 30.000 thẻ KCB cho người nghèo theo Quyết định 139 của
Chính phủ. Hàng năm có trên 15.000 lượt người nghèo được KCB miễn giảm
phí tại cơ sơ y tế cấp huyện và gần 1000 lượt người được KCB miễn giảm phí
ở các tuyến y tế cấp trên. Số trẻ em được đúng độ tuổi là 8.479 em = 95,4%.
Trong thời gian qua huyện đã tiếp nhận hỗ trợ cho 535 hôộổn định dân cư
thuộc diện di dân từ các huyện và tỉnh khác.Huyện đã tổ chức được 12 lớp tập
huấn nâng cao năng lực Xoá đói giảm nghèo cho trưởng thôn với 450 học
viên, hàng năm tập huấn cho cán bộ làm công tác Xoá đói giảm nghèo của 34
xã, thị trấn.
Thực hiện cuộc vận động toàn dân hỗ trợ giúp đỡ hộ nghèo về nhà ở,
trong 2 năm 2004-2005 đã hỗ trợ xây dựng được 1290 ngôi nhà cho hộ nghèo.
Kết quả sau thời gian thực hiện mục tiêu giảm nghèo đã giảm được 18.08%
hộ = 2.775 hộ thoát nghèo, nhưng cũng có 156 hộ thoát nghèo. Đến cuối năm
2005 còn 15% hộ nghèo = 2.630 hộ đạt 100% kế hoạch
Có được kết quả trên là do có sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ
Đảng- HĐND-UBND-MTTQ và các đoàn thể, sự nổ lực cố gắng của các ban
chỉ đạo, tập thể, các nhân, các phòng, ban ngành, cơ quan đơn vị đã góp phần
không nhỏ giảm tỷ lệ hộ nghèo theo đúng chỉ tiêu hàng năm đã đặt ra như: Xã
Minh thọ, thị trấn Chuối, Xã Vạn Hoà, Xã Thăng long...Trong đó, những đơn
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
vị tiêu biểu xuất sắc là Hội nông dân, Phòng nông nghiệp, Phong Nội vụ-
LĐTB&XH và mốt số cơ quan đoàn thể khác.
5. Sự cần thiết phải xoá đói giảm nghèo ở huyện Như Thanh - Thanh Hoá.
Nhìn nhận thực tế những tổn thất mà nghèo đói gây ra đối với Việt nam
nói chung và địa phương nói riêng, chúng ta có thể khẳng định tầm quan
trọng của công tác Xoá đói giảm nghèo.Một quy luật tất yếu đó là khi vấn đề

luôn thấy được sự cần thiết của công tác Xoá đói giảm nghèo. Nó không chỉ
mang lại cho người nghèo một cuộc sống tốt đẹp hơn, bên cạnh đó nó có tác
động tích cực đến mọi mặt của đời sống xã hội.
Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng công tác Xoá đói giảm
nghèo rất quan trọng và thực sự cần thiết. Sự phát triển của toàn bộ nền kinh
tế cũng như toàn bộ đời sống của nhân dân trong huyện phụ thuộc vào hiệu
quả của chương trình quốc gia Xoá đói giảm nghèo. Nhìn chung, trong những
năm vừa qua đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Điều này
càng làm cho vai trò của Xoá đói giảm nghèo trong huyện quan trọng hơn về
mọi mặt.
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
Phần 2: Đánh giá thực trạng đói nghèo ở huyện Như Thanh - tỉnh Thanh
hoá giai đoạn 2001-2005.
I. Đặc điểm của huyện Như Thanh - Thanh Hoá.
1. Đặc điểm tự nhiên.
Như Thanh - Thanh Hoá là huyện miền núi, nằm ở phía tây nam của
tỉnh Thanh Hoá. Được thành lập theo Nghị Định 72/CP, ngày 18/11/1996 của
Chính Phủ. Huyện mới chính thức đi vào hoạt động theo đơn vị hành chính từ
tháng 01 năm 1997. Toàn huyện có 16 xã và 1 thị trấn. Trong đó có 5 xã
thuộc chương trình 135. Tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện là 58.733,42
ha, trong đó đất nông nghiệp là 42.116,30 ha, đất phi nông nghiệp là 6.847,56
ha, còn lại là đất chưa sử dụng 9.769,56 ha. Dân số của huyện theo số liệu
thống kê vào ngày 01/2006 là 85.227 người, trong đó có 40.669 người trong
độ tuổi lao động. Với 4 dân tộc anh em là Kinh, Thái, Mường, Thổ. Như
Thanh - Thanh Hoá còn có một số di tích lịch sử và khu du lịch sinh thái nổi
tiếng như: Lò cao kháng chiến, chùa thờ bà Triệu Thị Trinh, vườn Quốc gia
Bến En.
Với điều kiên như vậy thì đời sống của nhân dân trong huyện chủ yếu
dựa vào sản xuất Nông- Lâm nghiệp. Bên cạnh đó Huyện cũng đang tích cực
tận dụng thế mạnh tự nhiên của mình để phát triển thêm nhiều ngành kinh tế

có điện thoại.
3. Đặc điểm văn hoá, xã hội.
Kinh tế phát triển là nhân tố phát triển văn hoá, giáo dục. Thực hiện
Nghị Quyết Trung ương khóa XII và khoá XIII và các Nghị Quyết văn hoá,
giáo dục các cấp. Năm 1997 huyện đã công nhận và hoàn thành phổ cập tiểu
Chuyên đề thực tập tôt nghiệp
học chồn mù chữ. Đến nay, toàn huyện có 84 trường tiểu học, 912 lớp và
28.756 học sinh. Số trường lớp cơ bản đã được kiên cố hoá, số trường tranh
tre nứa còn 3%, không có tìng trạng học ca 3. Có 9 xã hoàn thành phổ cập cơ
bản và 3 trường đạt chuẩn quốc gia. Toàn huyện có 174 thôn bản, trong đó có
169 làng bản khai trương, xây dựng làng văn hoá. Đã có 25 làng được công
nhận làng văn hoá cấp huyện, 3 làng được công nhận cấp tỉnh.
Công tác chăm lo sức khoẻ cho nhân dân được chú trọng, cơ bản đã đẩy lùi
được bệnh sốt rét, tỷ lê giường bệnh trên 1 vạn dân là 20, 10 trên 6 trạm xá
cấp xã đã có bác sỹ, chất lượng khám, chữa bệnh được đảm bảo, làm tốt công
tác y tế dự phòng , vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện tốt chương trình mở
rộng, 85% gia đình gia đình được sử dụng nước sạch, số trẻ em suy dinh
dưỡng còn 27%.
Với kết quả trên, huyện nhà 4 năm liền được Chính phủ tặng cờ thi đua
đơn vị dẫn đầu các huyện miền núi(1998-2001) và được tặng thưởng Huân
chương Lao động hạng nhì. Kế thừa và phát huy thành tựu kinh tế xã hội luôn
giữ mức tăng trên 10%. Vì vậy đời sống của nhân dân trong huyện luôn được
nâng cao, an ninh chính trị ngày càng được giữ vững.
II. Đánh giá thực trạng đói nghèo ở huyện Như Thanh - Thanh Hoá.
1. Quy mô đói nghèo giai đoạn 2002-2006.
1.1. Giai đoạn 1997-2004.
Đây là giai đoạn khó khăn nhất của chương trình xóa đói giảm nghèo.
Lý do quan trọng nhất là việc huyện vùă được hình thành, bản chất của đời
sống kinh tế xã hội chủ yếu dựa vào nông nghiệp là chính. Ta có thể thấy quy
mô đói nghèo thông qua bảng tổng hợp hộ nghèo đói từ năm 1997 đến năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status