1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHÈO ĐÓI
1.1. Khái niệm nghèo đói 1
1.2. Các phương pháp xác đònh đối tượng nghèo hiện nay 3
1.3. Nguyên nhân của nghèo đói 6
1.4. Những nét chính về tình hình nghèo đói trên thế giới và ở Việt Nam 13
Chương 2: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐIỀU TRA VỀ THỰC TRẠNG NGHÈO
ĐÓI VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH
THUẬN
2.1. Đặc điểm đòa bàn nghiên cứu 26
2.2. Phương pháp phân tích 28
2.3. Mô hình kinh tế lượng 30
2.4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 35
2.4.1. Mô tả dữ liệu điều tra ở Ninh Thuận, 2004 35
2.4.2. Đặc điểm của người nghèo và nguyên nhân nghèo ở Ninh Thuận 37
2.4.3. Tình trạng nghèo phân theo khu vực 39
2.4.4. Tình trạng nghèo phân theo các nghề nghiệp chính của hộ gia đình 41
2.4.5. Tình trạng nghèo phân theo trình độ học vấn 43
2.4.6. Giới tính của chủ hộ 46
2.4.7. Những đặc điểm về nhân khẩu học ở Ninh Thuận 49
2.4.8. Nghèo phân theo thành phần dân tộc 51
2.4.9. Khả năng tiếp cận các điều kiện sinh sống cơ bản 53
2.4.10. Khả năng tiếp cận các nguồn lực 59
2.4.11. Kết quả mô hình kinh tế lượng 66
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÀ NÂNG CAO MỨC
SỐNG DÂN CƯ Ở NINH THUẬN
3.1. Việc làm 71
nghiên cứu “Thực trạng và những yếu tố tác động đến nghèo ở tỉnh Ninh Thuận”
ra đời.
Mục tiêu của nghiên cứu bao gồm ba phần: Phần thứ nhất là đánh giá tình trạng
nghèo thông qua các đặc điểm của hộ như nghề nghiệp, học vấn, dân tộc… đồng
thời phải chỉ ra được mức độ nghèo của các hộ gia đình ở Ninh Thuận thông qua
các chỉ tiêu chuẩn về mức sống như nhà ở, nguồn nước, điện, nhà vệ sinh... Phần
thứ hai là xác đònh được những yếu tố có tác động đến nghèo và đònh lượng tác
động độc lập của từng yếu tố đó. Cuối cùng là cung cấp một số gợi ý cho chính
sách từ kết quả phân tích. Riêng về mặt ứng dụng, nghiên cứu này ngoài việc
cung cấp những gợi ý làm cơ sở cho việc lựa chọn chiến lược phát triển, nó còn
tổng hợp lại phương pháp dùng để đònh lượng nghèo. Đồng thời nghiên cứu cũng
gián tiếp chỉ ra các hướng nghiên cứu kế tiếp để những nghiên cứu sau lựa chọn
nhằm đạt được hiệu quả ứng dụng cao.
Trong nghiên cứu này, tác giả dùng phương pháp mô tả thống kê và lập mô hình
kinh tế lượng để phân tích nghèo. Bộ số liệu dùng trong nghiên cứu được điều
tra lấy mẫu trực tiếp ở Ninh Thuận. Phần mềm SPSS11.5 và Eview3.0 được sử
dụng để lập bảng biểu và chạy mô hình.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
Nghiên cứu gồm có ba chương. Chương 1 trình bày những nét tổng quan về
nghèo đói. Trong phần này, ngoài những khái niệm, còn có điểm qua thực trạng
nghèo khổ của các nước trên thế giới và Việt Nam. Chương 2 là phần quan trọng
nhất của luận văn, phần này giới thiệu phương pháp nghiên cứu và trình bày kết
quả nghiên cứu. Trong đó, mô hình hồi quy bội được sử dụng để ước lượng tác
động của nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu của hộ gia đình ở Ninh Thuận;
mô hình logistic được dùng để phân tích tác động độc lập của các yếu tố đến xác
suất nghèo của một hộ gia đình ở Ninh Thuận. Chương 3 là phần kết của luận
văn, nêu ra một số gợi ý để lựa chọn cho chiến lược giảm nghèo ở đòa phương.
Phần này tuy được xem như kết của luận văn này nhưng mở ra những hướng
nước sông, suối làm người nước chính. Một đặc điểm khá ngộ nghónh là có rất
nhiều hộ gia đình ở Ninh Thuận không có nhà vệ sinh mà không phân biệt giàu
nghèo, con số 59,8% đã cho thấy điều này. Về nguồn điện, có 92,4% hộ được sử
dụng điện. Đây là con số tương đối khả quan nhưng chưa phản ánh được tổng thể
do thiếu các hộ ở vùng sâu, vùng cao.
Có ít hơn một nửa hộ nghèo có đất. Mà nếu có thì diện tích cũng rất nhỏ và
thường là cho thuê hoặc không canh tác. Nhiều hộ nghèo được vay vốn nhưng số
vốn nhỏ và không dùng cho sản xuất nên hầu như không trả được nợ. Theo đánh
giá của chính các hộ thì ít đất và thiếu vốn là hai khó khăn lớn nhất đối với quá
trình canh tác cũng như làm ăn của họ.
Kết của cả hai mô hình kinh tế lượng đều cho thấy tình trạng đói nghèo ở Ninh
Thuận chòu ảnh hưởng nhiều nhất từ năm yếu tố là: việc làm, sở hữu đất đai, khả
năng tiếp cận vốn chính thức, vấn đề dân tộc thiểu số, quy mô hộ và giới tính
của chủ hộ. Mô hình hồi quy những yếu tố tác động đến chi tiêu cho thấy một hộ
có việc làm sẽ có chi tiêu bình quân đầu người cao hơn 50% so với hộ không có
việc làm. Một hộ có đất canh tác sẽ có chi tiêu bình quân cao hơn khoảng 27%
so với hộ không có đất. Hộ được vay vốn sẽ có cơ hội tăng chi tiêu của mình lên
khoảng 13%. Hộ có chủ hộ là nam giới thì chi tiêu bình quân sẽ cao hơn hộ có
chủ hộ là nữ khoảng 22%. Tương tự, mô hình logistic cho thấy xác suất nghèo
của những hộ có việc làm, có đất, có vay vốn sẽ có khả năng nghèo thấp hơn so
với trường hợp ngược lại; những hộ là dân tộc thiểu số, quy mô gia đình lớn, chủ
hộ là nữ sẽ có nhiều khả năng nghèo. Ví dụ, xác suất nghèo ban đầu của một hộ
gia đình ở Ninh Thuận là 30%, khi các yếu tố khác không thay đổi, nếu hộ có
việc làm thì xác suất nghèo sẽ chỉ còn 7,8%. Còn nếu quy mô hộ tăng thêm một
người thì xác suất rơi vào cảnh nghèo của hộ này sẽ lên đến 39%.
Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi gợi ý rằng những chính sách nhằm vào người
nghèo nên có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp để làm tăng cơ hội có việc làm,
tăng cơ hội được sử dụng đất để canh tác, tăng khả năng tiếp cận với nguồn vốn
chính thức, giảm những khác biệt giữa người dân tộc thiểu số và người Kinh,
giảm quy mô hộ và giảm những gánh nặng bất công dành cho phụ nữ. Việc lựa
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Chương 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG VỀ NGHÈO
ĐÓI
1.1. Khái niệm nghèo đói:
Khái niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia
hay từng vùng, từng nhóm dân cư nhìn chung không có sự phân biệt đáng kể.
Tiêu chí chung nhất để xác đònh nghèo đói là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa
mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa,
đi lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau chung nhất thường là ở chỗ thỏa mãn ở
mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế -
xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Ở Việt Nam, một khái niệm về đói nghèo thường được sử dụng là khái
niệm được đưa ra tại hội nghò về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu
vực châu Á - Thái Bình Dương tổ chức ở Thái Lan năm 1993 và được các quốc
gia trong khu vực thống nhất. Khái niệm này cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng
một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con
người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội,
phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa
kể khả năng này của người nghèo.
Tuy nhiên, quan niệm của chính người nghèo ở nước ta cũng như một số
quốc gia khác trên thế giới về nghèo đói thì lại đơn giản hơn, trực diện hơn rất
nhiều. Những đoạn trích từ Báo cáo phát triển thế giới 2001 của WB dưới đây
cho thấy cái mà người nghèo nhận thức về cuộc sống trong cảnh đói nghèo của
mình:
“
Đừng hỏi tôi đói nghèo là gì vì ông đã thấy nó ngay từ bên ngoài nhà tôi. Hãy quan sát
ngôi nhà và xem nó có bao nhiêu lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ đạc trong nhà và
những quần áo tôi đang mang trên người. Hãy quan sát tất cả và ghi lại những gì ông
thấy. Cái mà ông thấy chính là đói nghèo đó.
”
Một người nghèo ở Kênia
“
Nghèo đói là sự hổ thẹn, cảm giác phải phụ thuộc vào người khác và buộc phải chấp
nhận sự bạo hành, sỉ nhục, thái độ thờ ơ khi tìm kiếm sự giúp đỡ.
”
Một người nghèo ở Latvia
“
Nghèo đói đồng nghóa với nhà ở bằng tranh, tre, nứa, lá tạm bợ, xiêu vẹo, dột nát;
không đủ đất đai sản xuất, không có trâu bò, không có Tivi, con cái thất học, ốm đau
không có tiền đi khám chữa bệnh…
“
Một người nghèo ở Việt Nam
Tóm lại, tất cả những quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba
khía cạnh chủ yếu của người nghèo:
• Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
ĐTMSHGD sẽ thu thập thông tin không chỉ về chi tiêu của hộ, mà còn cả một
loạt các biến khác như quy mô, thành phần của hộ, trình độ học vấn của các
thành viên trong hộ, nghề nghiệp và tài sản của họ… Còn tổng điều tra dân số
không hỏi về chi tiêu, nhưng lại bao gồm những thông tin về nhiều biến số kể
trên.
Phương pháp vẽ bản đồ nghèo là gắn hai công cụ thống kê này thông qua
ba bước chính. Bước thứ nhất là xác đònh một loạt các biến số chung giữa cuộc
điều tra chi tiết và cuộc tổng điều tra dân số cùng thời kỳ. Thứ hai, tiến hành
phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi tiêu bình quân đầu
người với những biến số này. Bước thứ ba là dùng những kết quả phân tích để
“dự báo” chi tiêu của hộ có trong tổng điều tra dân số. Mức chi tiêu dự báo này
dùng để đánh giá xem một hộ có nghèo hay không. Về mặt này, vẽ bản đồ vẫn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
là một phương pháp dựa vào chi tiêu, nhưng nó dựa vào mức chi tiêu dự báo, chứ
không phải là chi tiêu thực tế của hộ. Phương pháp vẽ bản đồ nghèo cho phép
tính được tỷ lệ nghèo ở cấp thấp, được đo bằng tỷ lệ hộ nghèo trong tổng điều
tra dân số của mỗi tỉnh, huyện, thậm chí cả xã. Nhưng phương pháp này cũng
không thực sự là hoàn hảo bởi lẽ chi tiêu dự báo chỉ có thể ước tính với sai số.
• Phương pháp dựa vào thu nhập
Việc áp dụng nghiêm ngặt phương pháp tính theo thu nhập do Bộ
LĐTBXH đưa ra để đo mức nghèo có thể xếp vào loại này. Trên nguyên tắc,
phương pháp của Bộ LĐTBXH dựa trên điều tra gồm những câu hỏi về tài sản
và về thu nhập từ các nguồn khác nhau. Thu nhập từ tất cả các nguồn này được
cộng lại, chia cho số người trong hộ, và so sánh với một trong ba chuẩn nghèo
tùy theo xã đó thuộc vùng nào. Ở thành thò, chuẩn nghèo hiện nay là 150.000
đồng một tháng. Ở nông thôn vùng đồng bằng, chuẩn nghèo là 100.000 đồng, ở
miền núi, vùng sâu và hải đảo là 80.000. Những hộ có thu nhập hàng tháng thấp
hơn 50.000 đồng được xếp vào hộ đói ở mọi vùng. Tỷ lệ nghèo có thể được tính
về thu nhập. Phương pháp của Bộ LĐTBXH chỉ được sử dụng mỗi khi không đạt
được sự nhất trí liệu một hộ này hay một hộ khác sẽ được nhận trợ giúp.
Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác
đònh hộ nghèo và liệu việc thảo luận ở cấp thôn có thực sự thành công trong việc
xác đònh ai là người cần trợ giúp nhất hay không vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Một nhược điểm nữa là nó hoàn toàn loại bỏ một số hộ ra khỏi việc xem xét
phân loại. Những hộ bò coi là không chòu chăm chỉ lao động hoặc không có trách
nhiệm xã hội hiếm khi nhận được trợ giúp, và thậm chí còn không được liệt vào
danh sách các hộ nghèo. Trên thực tế, việc không trợ giúp những hộ này có thể
gây thiệt thòi cho con cái của họ, những người hoàn toàn không có lỗi trong việc
cha mẹ chúng nghiện rượu hay không chòu làm việc.
• Xếp hạng giàu nghèo
Phương pháp này thường được sử dụng nhiều nhất trong các PPA
(Participatory Poverty Assessment), bao gồm một tập hợp những nhận xét về
hiện trạng của tất cả các hộ trong một cộng đồng. Ở Việt Nam, cộng đồng tiêu
biểu nhất là thôn. Một tỷ lệ đáng kể các hộ trong cộng đồng sẽ tập hợp nhau lại
để xếp thứ tự, hoặc thường là phân loại các hộ trong số đó. Trong những PPA
được thực hiện, những người tham dự được chọn sao cho có đủ nam, nữ, người
già, trẻ em, người nghèo và không nghèo. Đại diện của chính quyền đòa phương,
thường có cả trưởng thôn cũng tham gia. Những cán bộ xã hội từ những tổ chức
phi chính phủ, hoặc các tổ chức nghiên cứu trong nước, đã làm quen với xã và
những vấn đề chính ảnh hưởng đến đời sống của các hộ trong đó, đứng ra làm
đầu mối liên hệ.
Việc phân loại hộ thường được thực hiện thông qua thảo luận nhóm nhằm
chỉ ra những đặc tính của người nghèo. Sau đó, những tờ phiếu có ghi tên tất cả
các hộ trong thôn được phân phát cho các đại biểu tham dự để họ phân loại hộ
vào các nhóm. Cuối cùng, trường hợp những hộ được phân loại khác nhau bởi ít
nhất hai thành viên sẽ được đem ra thảo luận trong cả nhóm. Việc thảo luận
nhằm tìm hiểu nguyên nhân của việc khác nhau, và tìm kiếm sự nhất trí liên
quan đến phân loại phù hợp cho mỗi trường hợp. Do vậy, công tác xếp hạng giàu
lệ nghèo cao nhất (48%), chiếm 79% tổng số người nghèo.
Trong những năm gần đây, tuy tỷ trọng những hộ có chủ hộ làm việc
trong các ngành nông nghiệp có giảm đi và tỷ trọng các hộ có chủ hộ làm việc
trong các văn phòng hay dòch vụ bán hàng tăng lên nhưng không đáng kể. Mức
nghèo ở Việt Nam giảm chủ yếu là do tỷ lệ người nghèo trong từng nhóm nghề
nghiệp giảm chứ không phải do có sự chuyển dòch trong cơ cấu nghề nghiệp.
Những hộ mà có một nguồn thu nhập ổn đònh nào đó, chẳng hạn như tiền
lương từ công ăn việc làm thường xuyên hay từ các khoản chuyển nhượng phúc
lợi của xã hội thường được xếp vào nhóm các hộ sung túc hơn. Thường thì các
nguồn thu này không lớn nhưng điều quan trọng nhất của nó là tính ổn đònh và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
đảm bảo. Những hộ sống nhờ vào những nguồn thu thất thường như làm thuê
theo ngày luôn cảm thấy thiếu an toàn kinh tế. Những hộ nghèo là những hộ có
đặc điểm này. Có thể nói rằng, thu nhập thấp và thất thường có thể làm cho một
hộ trở nên nghèo hơn.
• Trình độ học vấn thấp, thiếu kỹ năng làm việc và thông tin
Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội
kiếm được việc làm tốt, ổn đònh. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đủ để ăn và
do vậy không có điều kiện để học tập nâng cao trình độ nhằm vươn lên thoát
nghèo. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp còn ảnh hưởng đến các quyết đònh có
liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái…Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ
em và trẻ sơ sinh cao, khả năng đến trường của trẻ em gia đình nghèo thấp sẽ
làm cho các giải pháp thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn.
Bảng 1.1: Trình độ học vấn của người nghèo ở Việt Nam 1998
Trình độ học vấn cao nhất Tỷ lệ nghèo (%)
Tỷ lệ tính trong tổng
số người nghèo (%)
Tỷ lệ trong tổng dân
ĐTMSDC98 cho thấy khoảng 90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông
cơ sở hoặc thấp hơn. Kết quả điều tra mức sống cho thấy, trong số người nghèo,
tỷ lệ người chưa bao giờ đi học chiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; phổ
thông cơ sở chiếm 37%. Chi phí cho giáo dục đối với người nghèo còn lớn gây
không ít khó khăn cho họ trong việc tiếp cận với giáo dục nhiều hơn. Học vấn
thấp buộc chặt người nghèo với những công việc có thu nhập thấp trong nông
nghiệp và hạn chế khả năng tìm được việc trong các ngành phi nông nghiệp,
những công việc mang lại thu nhập cao hơn hay ít ra là ổn đònh hơn.
Trình độ học vấn đóng vai trò quan trọng trong quá trình giảm nghèo đói.
Cụ thể là tạo ra khả năng tiếp cận những vấn đề liên quan tới việc tiếp thu các
kiến thức kỹ thuật, kỹ năng làm việc và nắm bắt thông tin. Các nghiên cứu đói
nghèo có sự tham gia của người dân (PPA) trước đây đã cho thấy rằng những hộ
thuộc nhóm khá giả là những hộ thường xuyên tiếp xúc với cán bộ khuyến nông,
quan hệ với những người ở ngoài cộng đồng, tiếp cận với thông tin và với các
phương tiện truyền thông đại chúng.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
1.3.2. Thiếu khả năng tiếp cận các nguồn lực
Người nghèo thường thiếu nguồn lực nhưng không có khả năng tiếp cận
nguồn lực. Không có nguồn lực để đầu tư, người nghèo lại càng nghèo hơn. Do
đó, họ thường rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực.
• Thiếu đất
Hầu hết người dân Việt Nam sống bằng nông nghiệp cho nên diện tích và
chất lượng đất đóng vai trò quyết đònh đến mức sống của hộ. Không có đất,
thiếu đất, đất đai xấu hoặc không có quyền canh tác trên đất sẽ ngăn các hộ
phát triển các hoạt động nông nghiệp và đó là lý do khiến cho nhiều hộ nông
dân rơi vào hoàn cảnh không thể sản xuất đủ lương thực hoặc tạo ra thu nhập đủ
để nuôi sống gia đình họ.
Theo Waheed (1996), thiếu vốn đầu tư dẫn đến năng suất thấp, kéo theo
thu nhập hộ gia đình thấp. Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp. Tiết kiệm thấp
lại là nguyên nhân của sự thiếu hụt vốn đầu tư, và lại dẫn đến thu nhập thấp.
Không đủ vốn, người nghèo không thể làm gì được; từ việc cơ bản nhất là mua
giống cây trồng vật nuôi hay phân thuốc chứ đừng nói đến việc cải tiến sản xuất
hay áp dụng khoa học kỹ thuật mới. Muốn thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này
cần phải có nguồn vốn từ bên ngoài, trong trường hợp này là nguồn vốn vay hay
vốn tín dụng từ các tổ chức tín dụng chính thức và phi chính thức, hay từ các dự
án cấp tín dụng cho người nghèo của chính phủ.
Tuy nhiên, qua các nghiên cứu cho thấy
1
, ở Việt Nam, người nghèo
thường bò hạn chế trong việc tiếp cận được với các nguồn tín dụng chính thức
của chính phủ trong lúc các nguồn phi chính thức có ít khả năng giúp hộ gia đình
thoát nghèo. Mặc dù hiện nay có rất nhiều nguồn, nhiều dự án cung cấp tín dụng
cho người nghèo thông qua các chương trình quốc gia về XĐGN nhưng vẫn còn
rất nhiều người rất nghèo không thể tiếp cận được các nguồn tín dụng này.Có
nhiều nguyên nhân, loại trừ sự nhũng nhiễu của người có quyền quyết đònh thì
nguyên nhân còn lại là do người nghèo thiếu hiểu biết, thiếu hiểu biết, không có
khả năng thế chấp, không biết cách làm ăn dẫn đến không có khả năng trả nợ.
Và rồi họ tiếp tục nghèo hơn.
“Nợ nần làm cho chúng tôi thức trắng đêm - cảm giác nợ nần thật là khủng
khiếp. Tôi cảm thấy khiếp sợ mỗi khi có chủ nợ đến nhà đòi tiền còn bản thân
thì không thể trả được. Tôi cảm thấy xấu hổ vì lúc đó họ rất coi thường tôi.”
(PPA tại Trà Vinh, Oxfam Anh).
1.3.3. Những đặc điểm về nhân khẩu học
• Bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ
em
Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng đói nghèo trên tất cả các
người ăn theo tăng cao. Tỷ lệ người ăn theo của nhóm nghèo nhất là 0,95 so với
0,37 của nhóm giàu nhất. Do đó, những hộ này không những có ít lao động, đồng
nghóa với việc có nhiều người ăn theo hơn mà còn phải chòu những chi phí lớn
hơn như chi cho việc đi học hay chi cho việc khám chữa bệnh, những khoản chi
thường gây bất ổn cho đời sống kinh tế gia đình.
Số liệu của ĐTMSDC98 cũng cho thấy rằng một hộ thuộc nhóm nghèo
nhất với một em học tiểu học và hai em học trung học cơ sở sẽ phải dành 7,3%
tổng chi tiêu gia đình cho việc học hành (năm 1993 con số này là 6,5%). Chi phí
học hành này thường chiếm khoảng 23% các chi tiêu ngoài lương thực thực
phẩm. Cho nên cũng dễ hiểu khi các PPA cho thấy các hộ nghèo thường cho con
thôi học trong những lúc gia đình gặp khó khăn hay lâm vào khủng hoảng.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo
là do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức
khỏe sinh sản. Tỷ lệ phụ nữ cũng như nam giới sử dụng biện pháp tránh thai
chưa cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình
dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia
tăng nhân khẩu còn hạn chế.
Cũng theo chu kỳ của đời sống gia đình thì những hộ mới tách riêng có
khả năng nghèo nhiều hơn, đặc biệt là những hộ sinh sống bằng nông nghiệp.
Ban đầu các hộ này thường phải nhờ vào sự giúp đỡ của gia đình để sử dụng đất
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
16
nông nghiệp nhưng thường là diện tích đất nhỏ hoặc kém chất lượng. Trong khi
đó cơ hội làm ăn phi nông nghiệp lại ít. Mức tăng thu nhập dưới dạng tiền công
làm thuê thường rất thấp và không ổn đònh. Điều này không cho phép họ có đủ
khả năng trang trải cho nhu cầu tiêu dùng tối thiểu.
Những hộ bò mất đi lao động chính do bò chết, bỏ gia đình đi hay tách hộ
cũng thường được xếp vào nhóm hộ nghèo nhất (Báo cáo phát triển Việt Nam
2000, tr.24). Số liệu của ĐTMSDC 1998 cho thấy những hộ này thường là có chủ
17
này sống ở vùng cao, vùng sâu (trừ người Hoa chủ yếu sống ở các khu đô thò). Ở
những vùng này, sự xa xôi cách trở, thiếu cơ sở hạ tầng, sự cô lập về đòa lý và
xã hội càng trầm trọng hơn rất nhiều. Đó là chưa kể đến sự khác biệt về văn
hóa, ngôn ngữ hay đònh kiến của người dân đối với người dân tộc. Do đó, họ dễ
bò tách biệt khỏi xã hội nhiều hơn người Kinh, dẫn đến tỷ lệ học sinh đi học và
biết chữ thấp, đặc biệt là an ninh lương thực không đảm bảo bởi thời tiết thất
thường cộng với năng suất sản xuất thấp do thiếu kỹ năng canh tác. Chính vì thế,
những hộ thuộc nhóm dân tộc ít người nghèo hơn rất nhiều so với đa số người
Kinh.
Hình 1.1: Tỷ lệ nghèo theo thành phần dân tộc (%)
54
86
31
75
23
69
0
20
40
60
80
100
Người Kinh Dân tộc thiểu số
chỉ số đếm đầu người (%)
1993
1998
2002
quân đầu người. Nhưng sự phân chia thành quả toàn cầu này lại hết sức bất
công. 20% dân giàu tiêu dùng 87-90% giá trò sản phẩm của toàn thế giới; 6% số
người giàu nhất đã tiêu dùng 35-40% sản phẩm của thế giới.
Ở một cách nhìn khác, nếu coi toàn bộ thế giới theo từng chỉ tiêu như
GNP, thương mại thế giới, tích lũy và đầu tư là 100% thì ta có thể thấy 20% dân
số giàu nhất thế giới chiếm dụng 87,5% GNP; 84,2% thương mại thế giới; 85%
tích lũy; 85% đầu tư. 20% dân số nghèo nhất chiếm các chỉ tiêu tương ứng là
1,4%; 0,9%; 0,7% và 0,9% (Lê Xuân Bá, 2001). Sự phân cực giàu nghèo rõ ràng
rất nghiệt ngã, một nhóm người thì có tất cả còn một nhóm người thì lại hầu như
không có gì.
Không chỉ có ở các nước nghèo, nghèo đói cũng tồn tại ở những nước
giàu. Tại các nước công nghiệp phát triển tính đến năm 1998 vẫn còn hơn 100
triệu người nghèo và hơn 100 triệu người không có nhà ở. Tuy nhiên, cái nghèo
ở những nước này là nằm trong sự so sánh với tầng lớp thượng lưu, nghóa là
nghèo tương đối. Tại Liên minh châu Âu (EU), có 57 triệu người (chiếm 17%
dân số) phải sống trong cảnh nghèo khổ, cứ 6 người dân thì có 1 người sống
trong một gia đình nghèo khó. Châu Mỹ cũng có 364 triệu người nghèo (chiếm
13,3% dân số châu lục này)…
Trên thực tế, nghèo đói và quá trình giảm nghèo đói ở những phần khác
nhau của thế giới thì khác nhau rất xa (Bảng 1.3). Ở Đông Á, số dân sống dưới
mức 1 USD một ngày đã giảm từ khoảng 420 triệu người xuống còn khoảng 280
triệu người từ năm 1987 đến 1998. Nhưng ở Mỹ Latinh, Nam Á và Nam Sahara
châu Phi, số người nghèo đang tăng lên. Tại các nước châu Âu và Trung Á đang
chuyển sang nền kinh tế thò trường, số người sống dưới mức 1 USD một ngày đã
tăng hơn 20 lần.
5,7
495,1
242,3
1.276,4
915,9
431,9
83,5
18,3
70,8
5,0
505,1
273,3
1.304,3
955,9
265,1
55,1
23,8
76,0
5,0
531,7
289,0
1,190,6
980,5
287,3
65,1
24,0
78,2
5,5
522,0
290,9
47,7
29,0
28,1
25,2
15,9
4,0
15,3
1,9
42,4
49,7
28,1
27,7
14,9
10,0
5,1
15,6
1,8
42,3
48,6
24,5
27,0
15,3
11,3
5,1
15,6
1,9
40,0
46,3
24,0
26,2
Các chỉ số xã hội ở các nước đang phát triển nói chung đều đã được cải
thiện trong ba thập kỷ qua. Ví dụ như tỷ lệ tử vong ở trẻ em đã giảm từ 107 trẻ
trên 1.000 ca sinh năm 1970 xuống còn 59 năm 1998. Nhưng mức giảm từ năm
1990 đến năm 1998 chỉ còn 10%, trong khi muốn đạt được mục tiêu phát triển
quốc tế thì con số này phải là 30%.
Những con số tổng hợp này cũng khác nhau ở mỗi vùng trên thế giới.
Tuổi thọ bình quân ở Nam Sahara châu Phi vẫn chỉ ở mức 52 năm, ít hơn 13 năm
so với mức trung bình của các nước đang phát triển, ít hơn 25 năm so với mức
trung bình của OECD. Một trong những nguyên nhân chính là tỷ lệ tử vong cao
đến mức không chấp nhận được ở vùng này, 90 trên 1000 dân. Tỷ lệ này ở Nam
Á cũng rất cao (77). Các con số này đều vượt quá mức trung bình của OECD là 6
trên 1000 dân. Đại dòch AIDS càng làm vấn đề trầm trọng hơn, khiến tỷ lệ tử
vong trẻ em tăng mạnh ở nhiều nước châu Phi. Từ năm 1990 đến năm 1997, tỷ
lệ tử vong trẻ em đã tăng từ 62 lên đến 74 ở Kênia và từ 52 lên đến 69 ở
Dimbabuê. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh trong khu vực này cũng cao bất thường,
trong số 12 nước trên thế giới có tỷ lệ này vượt quá 1.000 ca trên 100.000 ca sinh
thì 10 nước là ở Nam Sahara châu Phi.
Sự chênh lệch cũng diễn ra tương tự trong các chỉ số về giáo dục. Nam Á
đã tăng được tỷ trọng số học sinh học tiểu học từ 77% lên trên 100% trong giai
Năm 1987
Nam Á
40,1%
Trung
Đông và
Bắc Phi
0,8%
Đông Á
và Thái
Bình
Dương
23,2%
Trung
Đông và
Bắc Phi
0,5%
Nam Á
43,5%
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
21
đoạn 1982-1996. Nhưng tỷ lệ này của Nam Sahara châu Phi vẫn dừng ở mức
74% (từ năm 1982 đến 1993 thậm chí còn giảm). Các chỉ số khác về giáo dục đã
khẳng đònh mức độ nghiêm trọng của sự chênh lệch theo vùng. Gần như thành
tích giảm được tỷ lệ mù chữ trong các nước đang phát triển đều tập trung ở Đông
Á. Trái lại, số người mù chữ đã tăng thêm 17 triệu người ở Nam Á và 3 triệu
người ở Nam Sahara châu Phi. Đây cũng là vùng có tỷ lệ học sinh học tiểu học
ròng thấp nhất.
1.4.2. Kinh nghiệm của một số tổ chức quốc tế và một số nước về xóa đói
giảm nghèo
1.4.2.1. Kinh nghiệm của một số tổ chức quốc tế
Đấu tranh chống nghèo đói hiện đang là vấn đề rất cấp bách không chỉ
của riêng một vùng hay một quốc gia nào mà còn là của toàn thế giới. Điều này
xảy ra vì hai nhu cầu bức thiết chính: Một là, nghèo đói ở từng vùng, từng quốc
gia đang ngày ngày đe dọa đến sự ổn đònh và an toàn xã hội. Muốn tránh được
xung đột xã hội có thể xảy ra, mỗi vùng hay mỗi quốc gia phải quan tâm đến
việc giảm nghèo khổ, điều hòa lợi ích giữa các nhóm dân cư không để khoảng
cách giàu nghèo quá lớn, quá sức chòu đựng của xã hội. Hai là, xu thế toàn cầu
hóa đang buộc các quốc gia phải mở rộng tính dân chủ. Khẩu hiệu chung về một
xã hội công bằng có trật tự kinh tế và phân phối tiến bộ khiến cho các quốc gia
của khoảng 20 nước nghèo nhất trên thế giới, và đến những năm gần đây con số
giảm nợ đã lên đến hàng chục tỷ USD.
Các biện pháp thường tập trung vào giải quyết những vấn đề phát sinh
lớn, như trong lónh vực bảo hiểm, thiết lập một hệ thống can thiệp của các công
ty bảo hiểm và nhà nước vào những thiệt hại lớn do thiên tai gây ra… Ngoài ra,
còn có các hoạt động của những tổ chức nhân đạo, như Hội chữ thập đỏ quốc tế,
UNICEF… cũng thường tổ chức các hỗ trợ nhân đạo, tiêm chủng mở rộng, cung
cấp nước sạch, tóm lại là hướng vào các hoạt động hỗ trợ người nghèo, lấy người
nghèo đói làm trung tâm, đối tượng để triển khai các dự án hỗ trợ và giúp đỡ.
Tuy vậy trên thực tế, hiệu quả đích thực của các biện pháp mà các nước
giàu, cũng như các tổ chức quốc tế đưa ra để giúp đỡ các nước nghèo thường rất
hạn chế và rất không cơ bản. Chẳng hạn các biện pháp đầu tư phát triển và hỗ
trợ thương mại cho các nước nghèo rút cuộc thường làm cho các nước nghèo chòu
nhiều thua thiệt trong “các luật chơi” của thò trường thế giới. Theo BBC ngày
20/5/2001, một báo cáo do Oxfam đưa ra cho thấy, những biện pháp hạn chế về
thương mại mà các nước giàu áp dụng đã làm cho các nước nghèo nhất thế giới
thiệt hại một khoản thu ngoại tệ lớn là 2,5 tỷ USD/năm. Ví dụ, ở Bangladesh, cứ
1 USD nhận được từ viện trợ của Mỹ thì trên thực tế lại bò thiệt hại 7 USD do
những hạn chế thương mại mà Mỹ áp đặt, và còn bò thiệt hại gấp 5 lần như thế
nếu so với 1 USD viện trợ nhận được từ Canada.
Có thể nói rằng, thời gian qua các nước công nghiệp phát triển nhất chỉ
toàn đưa ra những lời hứa hão với các nước nghèo của thế giới thứ ba về viện
trợ, giảm nợ và thương mại. Lời nói còn cách quá xa so với việc làm cụ thể.
Khoảng 11% hàng hóa xuất khẩu của các nước nghèo (LDC) phải chòu mức thuế
quan trên 15%, cao gấp ba lần thuế quan đánh vào hàng hóa cùng loại nhập từ
các nước khác. Các nước công nghiệp phát triển thuộc tổ chức hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) hứa tăng hỗ trợ phát triển cho các nước LDC lên 0,2%
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
23
• Hàn Quốc
Trước những năm 60, Hàn Quốc có xuất phát điểm là rất nghèo nàn về tài
nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ khi thực hiện chính sách và chiến lược phát
triển kinh tế theo hướng xuất khẩu. Các chính sách và chiến lược ấy đã hứa hẹn
rằng nghèo đói sẽ được loại bỏ trong quá trình tăng trưởng GNP. Kết quả là Hàn
Quốc đã đạt tốc độ tăng trưởng GNP cao kỷ lục khoảng 9%/năm trong suốt thời kỳ
1962-1988. Và nếu căn cứ vào chuẩn nghèo tuyệt đối của năm 1988 được áp dụng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
24
cho các hộ nông dân là 5525 USD/năm/hộ thì tỷ lệ số hộ nghèo đói năm đó đã giảm
xuống còn 6,5% so với 33,7% năm 1967.
Thế nhưng do phát triển kinh tế quá nhanh nên bức tranh nghèo đói tương
đối lại hoàn toàn khác. Chuẩn nghèo đói tương đối áp dụng cho các hộ nông dân
năm 1988 ở Hàn Quốc là 7324 USD/năm/hộ. Tỷ lệ nghèo đói tương đối trong
nông thôn tính cho năm 1988 là 17,9% so với 36,1% năm 1967 và 31,6% năm
1970. Điều đó chứng tỏ tăng trưởng kinh tế thực sự đã làm giảm tỷ lệ số hộ
thuộc diện nghèo đói ở nông thôn. Tuy vậy, chuẩn nghèo ở Hàn Quốc lại phân
biệt khá rõ giữa các vùng thành phố lớn, thành phố vừa và nhỏ và vùng nông
thôn. Chuẩn nghèo ở vùng nông thôn chỉ bằng 80% chuẩn nghèo ở thành phố lớn
và bằng 90% chuẩn nghèo ở thành phố vừa và nhỏ. Nhìn chung, tỷ lệ các hộ
nghèo tương đối vùng nông thôn tuy có giảm nhưng vẫn còn chậm hơn so với tỷ
lệ số hộ nghèo tuyệt đối, hố ngăn cách giàu nghèo có dãn ra nhanh chóng nhưng
nhìn chung cho đến năm 1993 thì hệ số Gini vẫn không quá lớn, chỉ khoảng trên
0,31.
Trong những năm 90, Hàn Quốc đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong
công cuộc giảm đói nghèo: tỷ lệ đói nghèo ở thành thò đã giảm trung bình xuống
còn 20% một năm trong giai đoạn 1990-1997 và không có sự gia tăng bất bình
đẳng. Nhưng khi khủng hoảng nổ ra thì thất nghiệp và đói nghèo đã tăng lên
nhanh chóng. Diện đói nghèo ở khu vực thành thò đã tăng gấp đôi từ 9% năm
tín nhiệm nhau và liên đới chòu trách nhiệm tập thể giữa các người nghèo. Đồng
thời, Grameen Bank cũng chứng minh được rằng người nghèo có khả năng chi
trả và vi tín dụng cùng có hiệu quả ở hai phía người đi vay và người cho vay.
Nhận xét chung của những người nghiên cứu ngân hàng này là nó rất kiên
trì mục tiêu phục vụ người nghèo và khai thác triệt để những đặc điểm của người
nghèo, khơi dậy mặt tích cực của họ. Nhờ đó số hộ nghèo tự vươn lên thoát
nghèo bằng các khoản vay nhỏ từ Grameen Bank đang tăng lên ngày một
nhiều.
• Trung quốc
Trong số các nước chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thò trường,
Trung Quốc là một thành công điển hình. Từ những năm sau cuộc cải cách 1978,
Trung Quốc đã giảm tỷ lệ nghèo một cách ngoạn mục thông qua những chính
sách cải cách đặc biệt và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Theo chuẩn nghèo của
quốc gia thì số người nghèo đã giảm từ 200 triệu vào năm 1981 xuống còn 28
triệu vào năm 2002. Mặt khác, dùng chuẩn nghèo theo thu nhập 1 USD/ngày
của Ngân hàng thế giới, số người nghèo đã giảm từ khoảng 490 triệu người
xuống còn 88 triệu người trong cùng giai đoạn. Tỷ lệ nghèo đã giảm từ 49% năm
1981 còn 6,9% năm 2002.
Trung Quốc đã đạt được thành quả giảm nghèo thần tốc như vậy chủ yếu
là nhờ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. GDP thực tăng trung bình 9,4% trong
giai đoạn 1979-2003. Sự tăng trưởng nhanh này là kết quả của những cải cách
liên tục và sự thay đổi cơ cấu chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế
thò trường, từ nông nghiệp sang dòch vụ, mở cửa thương mại quốc tế và trao đổi
công nghệ. Nghèo đói ở Trung Quốc là một hiện tượng ở nông thôn (vào đầu
những năm 80, nghèo tuyệt đối ở thành thò chỉ có 0,3% trong khi nghèo tuyệt đối
ở nông thôn là 28%). Do sự di cư nông thôn ra thành thò bò hạn chế cho nên việc
phát triển nông thôn là yếu tố quan trọng nhất để giảm nghèo. Vào những năm
đầu của thập niên 80, khi mà tăng trưởng khu vực nông thôn nở rộ do những cải
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN