Luận văn tốt nghiệp
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KINH TẾ LAO ĐỘNG & DÂN SỐ
--------------------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở HUYỆN VĨNH BẢO - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Giáo viên hướng dẫn : TS. Vũ Hoàng Ngân
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thị Xuân Thuỷ
Lớp : Kinh tế lao động
Khoá : 44
Hà Nội -2006
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
--------
1. Lý do chọn đề tài
Sau 20 năm đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành
tựu lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc phòng.
Nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh chóng, đời sống của đại bộ phận dân cư
được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều
đến tất cả các vùng, các nhóm dân cư. Vì vậy, một bộ phận dân cư do các
nguyên nhân khác nhau chưa bắt kịp với sự thay đổi, gặp những khó khăn
trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo. Xác định rõ tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trường, để thực hiện thành
công mục tiêu đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020,
Đảng và Nhà nước ta cần làm là đưa nước ta thoát khỏi nước nghèo và kém
phát triển. Vì vậy vấn đề xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là một chủ trương lớn, là
và những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Trên cơ sở đó đưa ra những quan điểm,
phương hướng, mục tiêu và các giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện XĐGN của
huyện Vĩnh Bảo trong giai đoạn 2006 – 2010.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là công tác xóa đói giảm nghèo của huyện Vĩnh
Bảo – thành phố Hải Phòng.
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình nghèo của các xã, thị
trấn thuộc huyện Vĩnh Bảo trong thời gian từ năm 1995 – 2004.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, em sử dụng tổng hợp các
phương pháp nghiên cứu kết hợp với các phương pháp phân tích tổng hợp
số liệu thống kê, so sánh xử lý biểu đồ, bảng biểu.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận cơ bản về xóa đói giảm nghèo
Chương 2: Thực trạng đói nghèo và xóa đói giảm nghèo ở huyện Vĩnh
Bảo – thành phố Hải Phòng
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản để xóa đói giảm
nghèo ở huyện Vĩnh Bảo – thành phố Hải Phòng
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
-------------------
1.1. NHỮNG QUAN NIỆM CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO
1.1.1. Quan niệm chung
- Khái niệm về đói nghèo
một chuẩn nghèo chung cho tất cả các quốc gia và các khu vực, vì nó phụ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia và phong tục tập quán
của từng vùng, đó là sự thay đổi theo không gian.
- Chỉ tiêu đánh giá đói nghèo của thế giới
Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá đói nghèo trên thế giới, chủ yếu là sử dụng
chỉ tiêu thu nhập quốc dân đầu người (GDP/người) .
Nhưng chỉ dựa vào chỉ tiêu này thì chưa đủ điều kiện đánh giá toàn
diện được đói nghèo. Gần đây, để đánh gía đói nghèo của một số quốc gia,
UNDP đã đưa ra chỉ số nghèo đói tổng hợp HPI ( Human Poverty Index) với
4 chỉ tiêu chính là:
- Tỷ lệ thất học.
- Tỷ lệ những người chết dưới 40 tuổi.
- Tỷ lệ người không được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản (nước sạch,
chăm sóc y tế, dinh dưỡng).
- GDP bình quân tính theo đầu người (tính theo phương pháp PPP).
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
- HPI như là một công cụ để tham khảo đánh giá tình trạng nghèo đói
của một quốc gia.
- Chuẩn mực xác định đói nghèo của thế giới.
Chuẩn nghèo là một đại lượng thay đổi theo thời gian chứ không phải
là đại lượng bất biến. Tháng 9/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh về phát triển xã
hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch), vấn đề về mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế và xã hội đã đưa ra chuẩn đói nghèo: Những ai sống dưới mức 01
USD (tính theo sức mua tương đương) một ngày, được coi là nghèo khổ và
kêu gọi các quốc gia hãy tấn công vào đói nghèo để giảm bớt số người nghèo
trên thế giới. Cùng thời gian này, Ngân hàng thế giới (WB) cũng đưa ra 3
định hướng cơ bản cho giảm nghèo là tạo cơ hội cho người nghèo tăng thu
nhập, tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội, giảm tính dễ bị
tổn thương cho người nghèo. Nhằm giúp các quốc gia xây dựng chiến lược
“Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức tối thiểu
không thỏa mãn nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, …“
“ Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống nhỏ hơn
mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống”.
Đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn một số tháng trong năm, phải
vay nợ và thiếu khả năng chi trả.
Ngoài khái niệm về hộ nghèo, hộ đói, Việt Nam còn sử dụng khái niệm
vùng nghèo, xã nghèo là nơi tỷ lệ hộ nghèo cao hơn nhiều và mức sống dân
cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước. Tình trạng đó phổ
biến ở các vùng nghèo có điều kiện tự nhiên không thuận lợi (đất xấu, thiên
tai thường xuyên), kết cấu hạ tầng kém phát triển.
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
- Các chỉ tiêu đánh giá đói nghèo
Chỉ tiêu chính là thu nhập bình quân đầu người/ tháng (hoặc năm),
được đo bằng chỉ tiêu giá trị hiện vật quy đổi, thường lấy lương hay gạo để
đánh giá. Ngoài ra còn có các chỉ tiêu phụ: Dinh dưỡng bữa ăn, nhà ở, mặc và
các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại…
Để đánh giá một cách cụ thể về đói nghèo, Việt Nam còn đưa ra những
chỉ tiêu sau:
+ Chỉ tiêu thu nhập quốc dân đầu người (GDP/người).
+ Tuổi thọ.
+ Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh.
+ Tỷ lệ xoá mù chữ.
+ Tỷ lệ thất học.
- Chuẩn mực xác định nghèo đói của Việt Nam.
Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã
hội ai thuộc diện nghèo và ai không nghèo, để từ đó có chính sách trợ giúp
cho những người nghèo tiếp cận với thành quả của sự phát triển kinh tế – xã
hội và đảm bảo công bằng xã hội giữa các nhóm dân cư. Vì thực tiễn và lý
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người / tháng:
+/ Dưới 15 kg gạo, tương ứng với 55.000
đ
đối với miền núi, nông thôn, hải
đảo.
+/ Dưới 20 kg gạo, tương ứng với 70.000
đ
đối với vùng nông thôn, đồng bằng
và trung du.
+/ Dưới 25 kg gạo, tương ứng với 90.000đ đối với thành thị.
- Chuẩn nghèo năm 2000
Trước những thành tích của công cuộc giảm nghèo cũng như tốc độ tăng
trưởng kinh tế và mức sống, từ năm 2001 đã công bố chuẩn nghèo đói mới để áp
dụng cho thời kì (2001- 2005), theo đó không tách riêng chuẩn đói nghèo (do
đã căn bản xóa được hộ đói).
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
Ngày 02/11/2000 Nhà nước đưa ra chuẩn mực nghèo mới được xác
định ở mức đói khác nhau tùy từng vùng, cụ thể bình quân đầu người / tháng.
+ 80.000
đ
/ tháng ở vùng hải đảo, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
+ 100.000
đ
/tháng ở vùng nông thôn đồng bằng.
+ 150.000
đ
/tháng ở thành thị.
Những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người dưới mức quy định
nêu trên được xác định là hộ nghèo.
- Người nghèo chủ yếu là người nông dân với trình độ học vấn thấp và
khả năng tiếp cận thông tin, kỹ năng chuyên môn bị hạn chế.
- Nhà ở tạm, siêu vẹo, dột nát, không đảm bảo an toàn trong mùa mưa
bão, bản thân gia đình không có khả năng tự làm mới hoặc sửa chữa.
- Các hộ có nhiều con hoặc có ít lao động, con cái đến tuổi đi học
không được đến trường, ốm đau không được khám chữa bệnh, nợ nần không
có khả năng chi trả.
- Thiếu đất hoặc không có đất canh tác; thiếu vốn, kiến thức sản xuất.
1.2.2. Nguyên nhân của đói nghèo
* Nguyên nhân khách quan
- Nguyên nhân khách quan về mặt tự nhiên
+ Đất đai: Đất canh tác ít, đất cằn cỗi ít màu mỡ, canh tác khó dẫn đến
năng suất thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân. Đặc biệt đối
với những người nông dân đất đai là tư liệu sản xuất chính, việc tích luỹ tái
sản xuất mở rộng bị hạn chế. Vì vậy tỉ lệ nghèo đói ở nông thôn thường có xu
hướng cao hơn thành thị.
+ Đặc điểm tự nhiên khắc nghiệt, không thuận lợi cho sản xuất nông
nghiệp, bão lũ, hạn hán, sâu bệnh… ảnh hưởng đến mùa màng giao thông liên
lạc.
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
+ Vị trí địa lý ở vùng sâu, vùng xa hẻo lánh các cơ sở hạ tầng chưa
được đầu tư xây dựng hoặc có nhưng chất lượng kém và nhỏ bé. Do điều kiện
địa lý họ bị bó buộc trong không gian mà ở đó mọi thứ đều kém phát triển,
hạn chế tầm hiểu biết và nhận thức về tiến bộ xã hội, những thành tựu khoa
học… một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Nguyên nhân về mặt tự nhiên này cho thấy rõ nguyên nhân đói nghèo ở
nông thôn cao hơn thành thị. Vì vậy lao động trong nông nghiệp gặp nhiều
khó khăn, sản xuất phi nông nghiệp không thuận lợi vì họ bị rơi vào thế cô lập
với bên ngoài khó tiếp cận được với các nguồn lực phát triển như tín dụng,
- Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn
Người nghèo thường thiếu nguồn lực, họ rơi vào vòng luẩn quẩn của
nghèo đói và thiếu nguồn lực. Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ
không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ. Các hộ nghèo có rất ít đất
đai và tình trạng không có đất có xu hướng gia tăng, vì vậy ảnh hưởng đến
khả năng đa dạng hóa sản xuất, họ vẫn sản xuất theo phương thức tự cung tự
cấp nên năng suất thấp, giá trị không cao. Người nghèo không có cơ hội tiếp
cận với các dịch vụ sản xuất như khuyến nông, phòng dịch bệnh, giống mới,
thị trường…Người nghèo thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng. Sự hạn
chế của nguồn vốn là một trong những yếu tố rất quan trọng đối với sản xuất,
đưa công nghệ, thay đổi giống chất lượng cao.
- Nguyên nhân về dân số
Một trong những nguyên nhân của đói nghèo là do hộ nghèo thường
đông con, sinh đẻ nhiều, sức khoẻ yếu, bố mẹ không đủ khả năng làm kinh tế
vì vậy họ không có điều kiện cho con cái học tập, tiếp cận tiến bộ xã hội.
Đông con vừa là nguyên nhân, vừa là hệ quả của đói nghèo. Tỷ lệ sinh trong
các hộ gia đình nghèo còn rất cao vì họ không có kiến thức cũng như điều
kiện tiếp cận với các biện phấp sức khỏe sinh sản, biện pháp kế hoạch hoá gia
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
đình. Do đông con nên thiếu nguồn lực về lao động, số con còn nhỏ nên tình
trạng người làm thì ít, người ăn thì nhiều. Thiếu lao động nên nguồn thu nhập
không đáp ứng được những nhu cầu hàng ngày của số nhân khẩu trong gia
đình nên họ dễ rơi vào tình trạng nghèo đói.
- Rủi ro ốm đau, tai nạn
Gặp những bất thường trong cuộc sống: Ốm đau bệnh tật, hỏa hoạn…
cần một khoản kinh phí lớn. Bị rủi ro có thể xảy ra trong làm kinh tế, trong
đời sống xã hội, gánh nặng chi phí, bảo vệ sức khoẻ đối với người nghèo cũng
là cái bẫy đẩy họ vào vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo. Họ phải chịu hai gánh
nặng, một là mất đi nguồn thu nhập, hai là chi phí thuốc thang chữa bệnh cho
sao đối với người nghèo. Mở rộng và tạo điều kiện thông thoáng trong việc vay
vốn tín dụng để có vốn làm ăn sản xuất kinh doanh, cần tăng nguồn vốn bằng việc
kêu gọi sự hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân.
Hai là các cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo
Đảng và Nhà nước đưa ra những chủ trương chính sách là ở tầm vĩ mô
còn việc tiến hành, thực hiện lại phụ thuộc vào các địa phương, mà việc đó
phụ thuộc lớn vào các cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương.
Các cán bộ nếu được đào tạo đầy đủ, có khả năng chuyên môn giỏi và kinh
nghiệm thực tiễn sẽ dễ dàng tiếp xúc với người dân để tuyên truyền, đưa các
chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến từng gia đình giúp họ nắm
bắt kịp thời. Thực tế hiện nay cho thấy, số cán bộ được đào tạo làm việc
chuyên môn về công tác xoá đói giảm nghèo còn ít, chủ yếu là đảm nhiệm
thêm. Do vậy những chính sách chủ trương của Nhà nước vẫn chưa được phổ
biến cụ thể sâu sát đến người nghèo.
Ba là bản thân người nghèo
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
Sự cố gắng vươn lên của chính người nghèo, hộ nghèo là nhân tố tạo
nên sự thành công hay thất bại của chương trình xóa đói giảm nghèo. Nhưng
bản thân họ lại là những cản trở việc thoát nghèo vì:
- Bản thân họ không tự nâng cao trình độ dân trí, không ứng dụng các
tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, không năng động giải quyết việc làm,
lười lao động, một số cờ bạc rượu chè. Tư tưởng ỷ lại trông chờ vào sự trợ
giúp, hỗ trợ của Nhà nước.
- Do chưa nhận thức được vai trò của các dự án, chương trình xoá đói
giảm nghèo nên nhiều người nghèo, hộ nghèo còn từ chối sự giúp đỡ, đầu tư
của chương trình.
Tư tưởng lạc hậu trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày. Sinh nhiều con,
trọng nam khinh nữ. Các hộ nghèo thường dễ bị tổn thương, bởi những khó
khăn hàng ngày và những biến động thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay
ghép các chương trình dự án tiến tới xoá đói giảm nghèo.
- Xã hội hoá công tác xoá đói giảm nghèo
Xoá đói giảm nghèo là trách nhiệm của các cấp các ngành của toàn xã
hội và của chính bản thân người nghèo. Đối tượng phải biết tự vươn lên cùng
với sự trợ giúp tạo điều kiện thuận lợi của cộng đồng. Xoá đói giảm nghèo
mang tính nhân văn nhân đạo sâu sắc. Là nhiệm vụ cấp bách của Đảng Nhà
nước ta. Nó là động lực thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế của đất nước
thể hiện bản chất tốt đẹp của CNXH, đảm bảo công bằng ổn định xã hội.
Chính vì vậy cần có sự tham gia tích cực của cả cộng đồng.
- Ý nghĩa của công tác xoá đói giảm nghèo
Đi sâu nghiên cứu vấn đề này thấy được sự bất bình đẳng trong việc
đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người. Trong xã hội vẫn còn tồn tại một
bộ phận lớn cư không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu cuộc sống ở mức tối
thiểu. Từ vấn đề này ta phải tìm được các giải pháp giảm thiểu tối đa sự bất
bình đẳng này trong xã hội đảm bảo công bằng xã hội. Làm cho toàn thể nhân
dân có thể đáp ứng được nhu cầu cơ bản của mình ở mức thấp nhất. Góp phần
vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội chung của cả nước.
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
Các mối quan hệ được thể hiện qua sơ đồ sau:
1.4. CÁC CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA VỀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
Giảm đói nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản được
Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm. Cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng
phải tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, hạn
chế sự phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng.
Giảm tình trạng nghèo khổ của dân cư là một vấn đề cực kì phức tạp
bởi nghèo khổ thường kéo theo sự trì trệ lạc hậu, chậm tiến về phát triển kinh
tế gây ra tình trạng nợ nần, lạm phát, thất nghiệp. Do vậy, chống đói nghèo là
một yêu cầu đặt ra cho tất cả các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Trong những
năm qua Đảng và Nhà nước đã cụ thể hóa từng chính sách, cơ chế, chương
mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và chương trình 135 có trùng nhau về
địa lý và công tác điều phối, lồng ghép cả hai chương trình được thực hiện
thông qua công tác lập kế hoạch hàng năm tại các địa phương, đặc biệt là cấp
tỉnh.
1.4.2. Chương trình 143
Mục tiêu của chương trình 143 đó là :
- Giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%, sử dụng chuẩn nghèo mới của
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tức là trung bình 1,5 – 2% mỗi năm và
xóa hoàn toàn nạn đói kinh niên.
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
- Bảo đảm các xã nghèo có các công trình hạ tầng cơ sở cơ bản như
thủy lợi nhỏ, trường học, trạm xá, đường, điện, nước và chợ.
- Tạo 1,4 – 1,5 triệu việc làm mỗi năm.
- Giảm tỷ lệ thất nghiệp tại thành thị xuống dưới 6% và nâng cao tỷ lệ
sử dụng thời gian lao động lên 80% vào năm 2005.
Phạm vi và đối tượng:
Chương trình được thực hiện trong cả nước vào tất cả các hộ nghèo
được xác định theo chuẩn nghèo của Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội
Nội dung của chương trình 143:
Chương trình được thực hiện với các chính sách và dự án như sau:
Các chính sách
1. Chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế.
2. Chính sách hỗ trợ người nghèo về giáo dục.
3. Chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn.
4. Chính sách an sinh xã hội trợ giúp các đối tượng yếu thế.
5. Hỗ trợ người nghèo về nhà ở.
6. Hỗ trợ công cụ và đất sản xuất cho người nghèo .
7. Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Nhóm các dự án xóa đói giảm nghèo chung:
hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế đất nước đã có sự phát triển tăng trưởng
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44
Luận văn tốt nghiệp
đáng kể, đời sống nhân dân được từng bước thay đổi nhưng tỉ lệ đói nghèo
vẫn cao. Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: Xoá đói giảm nghèo là một trong
những chương trình vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài. Mục tiêu xoá
đói giảm nghèo do Đại hội VIII đề ra là: giảm tỉ lệ người nghèo xuống dưới
còn khoảng 10% năm 2000, bình quân giảm 300 ngàn hộ/năm. Sau quá trình
thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà
nước, năm 2004 tỉ lệ nghèo đói của cả nước là 8% giảm gần 10% so với năm
2000. Công tác xoá đói giảm nghèo của Việt Nam được các nước đánh giá là
sự thành công nhất trong phát triển kinh tế.
Hiện nay, nước ta đứng trước một thời cơ lớn hay vận hội phát triển
kinh tế thuận lợi. Song đồng thời cũng phải đối mặt với những thách thức gay
gắt. Vấn đề xóa đói nghèo là một trong những nội dung cần thiết và cần được
giải quyết trong quá trình công nghiệp hóa đất nước. Qua thực tiễn 10 năm
xóa đói giảm nghèo có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Trước hết là nhận thức về trách nhiệm và quyết tâm cao xóa đói giảm
nghèo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và chính người
nghèo.
- Chủ động phát huy sáng tạo thu hút được các nguồn lực tại chỗ. Đồng
thời tập trung nguồn lực cho các mục tiêu trọng điểm là xóa các hộ đói kinh
niên, xây dựng cơ sở hạ tầng, tín dụng, y tế, giáo dục…
- Tổ chức tốt việc điều tra, khảo sát, phân tích đúng nguyên nhân để
xây dựng kế hoạch hóa, biện pháp cụ thể …như mô hình xã hội hóa nhà ở cho
người nghèo, Nhà nước tạo cơ chế hỗ trợ một phần nguồn lực, kêu gọi sự ủng
hộ của xã hội và sự nỗ lực của chính người nghèo. Xây dựng mô hình liên kết
giữa doanh nghiệp, xã và nông dân xây dựng vùng nguyên liệu bao tiêu sản phẩm.
- Nhà nước thực hiện chính sách mở rộng hợp tác quốc tế về xóa đói
giảm nghèo để tranh thủ kinh nghiệm, nguồn lực, kĩ thuật và thông tin về xóa
Luận văn tốt nghiệp
- Đầu tư đồng bộ, dứt điểm các cơ sở hạ tầng thiết yếu là nhân tố rất
quan trọng làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo điều kiện để tuyên truyền
những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đưa tiến bộ văn minh
vào vùng đồng bào dân tộc, góp phần phát triển sản xuất, nâng cao đời sống mọi
mặt của dân cư.
- Phải kết hợp chặt chẽ giữa việc ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật,
hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, thực hiện khuyến nông với việc hỗ trợ
vay vốn tín dụng. Kinh nghiệm cho thấy rằng người nghèo thường không biết
cách làm ăn, nên họ không có khả năng tiếp nhận nguồn vốn tín dụng. Chính
vì thế, nhiều địa phương người nghèo không sử dụng hết vốn vay, do không
biết để làm gì, sử dụng nguồn vốn này ra sao.
- Công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức điều hành ở cấp xã có vai trò
quyết định việc thực hiện có hiệu qủa các giải pháp xóa đói giảm nghèo. Cấp
ủy, chính quyền địa phương có nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của
công tác xóa đói giảm nghèo, coi đây là sự nghiệp của toàn xã hội.
SV: Hoàng Thị Xuân Thuỷ Lớp: Kinh tế Lao động 44