kinh tế - văn hóa của người mông ở huyện nà hang tỉnh tuyên quang từ năm 1986 đến năm 2010 - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN HOA HẬU KINH TẾ - VĂN HOÁ CỦA NGƢỜI MÔNG
Ở HUYỆN NÀ HANG TỈNH TUYÊN QUANG
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Hà Thị Thu Thuỷ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN NÀ HANG TỈNH TUYÊN QUANG 8
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 8
1.2. Khái quát về ngƣời Mông ở huyện Nà Hang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trải qua quá trình dựng nƣớc và giữ nƣớc, dân tộc ta đã xây dựng một
đất nƣớc Việt Nam giàu mạnh và vững bền, "sánh vai với các cường quốc
năm châu". Đó là kết quả của quá trình phát triển mạnh mẽ về chính trị, xã
hội, văn hoá, kinh tế của ngƣời Việt Nam, sức mạnh của 54 dân tộc anh em
trên dải đất hình chữ S.
Kinh tế và văn hoá là những yếu tố quan trọng, có mối quan hệ mật
thiết với nhau trong sự hình thành và phát triển của một dân tộc. Kinh tế là
hoạt động đầu tiên để giải quyết cái ăn, cái mặc và ở cho con ngƣời. Nó xuất
hiện khá sớm trong lịch sử loài ngƣời. Các dân tộc, trong quá trình vận động
và phát triển của mình đều hình thành các loại hình kinh tế đặc trƣng.
Trên thực tế, kinh tế mang tính đa dạng. Tuy nhiên, giữa các nền kinh
tế khác nhau thƣờng có sự giao thoa, đan xen, hỗ trợ, hợp tác để cùng phát
triển. Việc tạo điều kiện cho cái mới phát triển trên cơ sở phát huy cái cũ của
một nền kinh tế là một việc làm cần thiết trong công cuộc xây dựng nông thôn
mới. Đặc biệt trong công cuộc xây dựng kinh tế, nâng cao đời sống cho các
dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa hiện nay. Tại Hội
nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ 7 (khoá XI), Đảng Cộng sản
Việt Nam xác định “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phù
hợp với đặc điểm , điều kiện của từng vùng, bảo đảm cho cộng đồng các dân

kinh tế, những nét văn hoá mang đặc thù của cƣ dân vùng núi cao, rất phù hợp
với đặc điểm tự nhiên, truyền thống sản xuất của tộc ngƣời mình.
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tế cuộc sống, góp phần nhỏ vào
quá trình tìm hiểu những đặc điểm kinh tế, văn hoá của ngƣời Mông ở Việt
Nam nói chung và ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang nói riêng; nâng cao ý
thức trách nhiệm, tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân, bảo tồn những giá
trị văn hóa truyền thống của dân tộc, thực hiện mục tiêu “Phát huy mạnh mẽ
tính đa dạng, bản sắc độc đáo của các dân tộc anh em làm phong phú thêm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
nền văn hóa chung của cả nước” nhƣ Nghị quyết Trung ƣơng 5 khóa VIII
của Đảng đã đề ra trong thời kì đổi mới đất nƣớc; nâng cao nhận thức về lịch
sử Việt Nam để phục vụ cho công việc giảng dạy lịch sử ở địa phƣơng, tôi
quyết định chọn đề tài “Kinh tế - văn hoá của người Mông ở huyện Nà
Hang tỉnh Tuyên Quang từ năm 1986 đến năm 2010”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu về các dân tộc Việt Nam, có nhiều công
trình nghiên cứu về dân tộc Mông của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc .
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đề tài đã tiếp cận đƣợc với một số tác
phẩm của các tác giả có liên quan tới đề tài nghiên cứu, trong đó có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu sau:
“ Lịch sử người Mèo” của học giả nƣớc ngoài Savina F.M xuất bản tại
Hồng Kông năm 1924 do tác giả Trƣơng Thọ dịch, cho biết một cách khái
quát về lịch sử di cƣ, tên gọi, nguồn gốc của ngƣời Mông trên Thế giới.
“Các dân tộc thiểu số ở Tuyên Quang” của tác giả Hà Văn Viễn và Hà
Văn Phụng - Ban dân tộc tỉnh Tuyên Quang xuất bản - (1973) nêu lên những
nét cơ bản về kinh tế- văn hoá- xã hội của ngƣời Mông ở tỉnh Tuyên Quang.
“Dân tộc Mông ở Việt Nam” của các tác giả Cƣ Hoà Vần và Hoàng

Các tác phẩm kể trên, là nguồn tài liệu quý báu giúp cho tác giả tiếp
cận và nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về vấn đề kinh tế - văn
hoá của ngƣời Mông ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang từ năm 1986 đến
năm 2010.
3. Mục đích, đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Hệ thống lại các đặc điểm kinh tế - văn hoá của ngƣời Mông ở huyện
Nà Hang tỉnh Tuyên Quang từ năm 1986 đến năm 2010. Qua nghiên cứu, đề
xuất giải pháp giữ gìn và bảo tồn các giá trị văn hoá của ngƣời Mông trên địa
bàn nghiên cứu nói riêng và trên lãnh thổ Việt Nam nói chung.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Cung cấp cho giáo viên và học sinh những hiểu biết về dân tộc thiểu số
nói chung và của tộc ngƣời Mông nói riêng ở địa phƣơng cụ thể để phục vụ
cho việc dạy học lịch sử địa phƣơng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là kinh tế và văn hoá của ngƣời
Mông ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang. Nghiên cứu về kinh tế bao gồm
kinh tế nông nghiệp, khai thác nguồn lợi tự nhiên, thủ công nghiệp và trao đổi
hàng hoá. Nghiên cứu về văn hoá bao gồm các lĩnh vực trong đời sống vật
chất và đời sống tinh thần.
3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu khái quát vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế,
xã hội, văn hoá trƣớc năm 1986 của ngƣời Mông ở huyện Nà Hang, tỉnh
Tuyên Quang. Nghiên cứu tìm hiểu về ngƣời Mông ở huyện Nà Hang, tỉnh
Tuyên Quang trên các phƣơng diện: nguồn gốc của tộc ngƣời, hệ thống kinh
tế, văn hoá từ năm 1986 đến năm 2010. Làm rõ những thay đổi trong đời
sống vật chất, tinh thần. Xác định những điểm cần bảo tồn và phát huy trong

ngƣời Mông. Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phƣơng pháp liên ngành
khác nhƣ phƣơng pháp điền dã dân tộc học, chủ yếu là phƣơng pháp quan sát
xã hội và phỏng vấn sâu. Trong quá trình đi thực địa, tác giả có dịp quan sát
cuộc sống sinh hoạt cũng nhƣ tập tục và cách thức chăn nuôi, làm nƣơng rẫy
của đồng bào Mông tại các xã Khau Tinh, Côn Lôn, Đà Vị, Sinh Long và
Xuân Lập, trực tiếp phỏng vấn những ngƣời lớn tuổi, có kinh nghiệm cũng
nhƣ hiểu biết về tập tục, văn hoá của ngƣời Mông ở địa phƣơng. Từ đó, tiến
hành so sánh đối chiếu để xác minh tính chân thực, đúng đắn lịch sử của một
tộc ngƣời ở một địa phƣơng cụ thể.
5. Đóng góp của luận văn
Lịch sử địa phƣơng là một bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc. Nghiên
cứu về kinh tế, văn hoá của ngƣời Mông ở huyện Nà Hang tỉnh Tuyên Quang
sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về nền kinh tế, văn hoá của ngƣời Mông

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
trong quá khứ và những chuyển biến của nền kinh tế, văn hoá ấy trong hiện
tại. Mặt khác, việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để chúng ta thực hiện mục tiêu
phát triển dân trí, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu
số, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đề tài này còn góp phần giáo dục tƣ tƣởng cho thế hệ trẻ cần phải trân
trọng những giá trị văn hoá, tinh thần mà ông cha đã đúc kết đƣợc từ xƣa đến
nay. Đó là kho báu vô giá đối với mỗi con ngƣời Việt Nam.
Nghiên cứu lịch sử địa phƣơng góp phần quan trọng vào quá trình
giảng dạy lịch sử ở trƣờng phổ thông, nhằm làm cho học sinh không chỉ nắm
đƣợc tiến trình phát triển của lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc mà còn nắm
đƣợc tiến trình lịch sử của chính địa phƣơng mình. Lịch sử ở đây không chỉ
bó hẹp trong lịch sử kinh tế, văn hóa, chính trị mà còn là lịch sử xã hội.
6. Cấu trúc của luận văn

huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang). Tổng diện tích tự nhiên là 146.368 ha
trong đó có 7.257,42 ha đất nông nghiệp, 85.665,38ha còn lại là núi đá sông
suối các loại đất chuyên dụng khác
Dƣới các triều đại phong kiến, Nà Hang nằm trong châu Vị Long (bao
gồm cả Chiêm Hoá và Nà Hang hiện nay) thuộc Trấn, châu, thừa tuyên sau là
tỉnh Tuyên Quang. Trong suốt thời kì lịch sử phát triển của mình, nhân dân
huyện Nà Hang luôn đoàn kết chống lại sự áp bức bóc lột của phong kiến,
thực dân đế quốc, cũng nhƣ cùng nhau xây dựng quê hƣơng ngày càng văn
minh, giàu đẹp.
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lƣợc Việt Nam. Năm 1884, thực dân
Pháp chiếm đóng Tuyên Quang, Nà Hang thuộc châu Đại Mãn và đặt dƣới sự
cai trị của thực dân Pháp. Chính quyền thực dân đặt châu lị tại Chiêm Hoá và
cắt cử một bang tá cai quản Nà Hang. Châu lị Na Hang bao gồm ba tổng:
Vĩnh Yên, Côn Lôn và Thƣợng Lâm. Mỗi tổng đều có Chánh tổng, Tổng
đoàn, lính dõng, cùng nhiều chức sắc khác coi việc làm đƣờng và thu thuế.
Dƣới tổng là các xã với Lí trƣởng, Phó Lý, Xã đoàn. Đến năm 1900, châu Đại
Mạn đổi thành châu Chiêm Hoá.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Năm 1944, nhằm kiểm soát địa bàn một cách chặt chẽ, thực dân Pháp
tách châu Chiêm Hoá thành 2 châu là châu Chiêm Hoá và châu Na Hang.
Châu Na Hang do Dƣơng Gia Lẫm làm tri châu, huyện lị đặt tại xã Vĩnh Yên.
Bắt đầu từ đây, Nà Hang mới trở thành một đơn vị hành chính độc lập. Trải
qua một thời gian dài đấu tranh, xây dựng và phát triển và qua nhiều lần tách
nhập xã đến năm 2009, Na Hang là một huyện thuộc tỉnh Tuyên Quang có 21
xã và một thị trấn. Trong suốt thời kì lịch sử lâu đời của mình nhân dân trong
huyện luôn đoàn kết với nhau chống lại sự áp bức bóc lột cũng nhƣ cùng nhau
xây dựng quê hƣơng ngày càng phát triển và giàu đẹp.

Bắc, mang lại một nguồn thu lớn cho tỉnh Tuyên Quang nói riêng và cho cả
nƣớc nói chung. Sông Năng bắt nguồn từ hồ Ba Bể (Bắc Kạn), chảy qua địa
phận Nà Hang theo hƣớng Đông Bắc - Tây Nam, độ dài 25km. Sông Năng
chảy qua các xã Đà Vị, Khau Tinh, Sơn Phú và Vĩnh Yên hợp với sông Gâm
tại chân núi Pắc Tạ, cách thƣợng lƣu đập thuỷ điện Nà Hang 2 km. Ngoài hai
con sông lớn, Nà Hang còn có các suối lớn nhỏ thuận lợi cho việc tƣới tiêu,
nuôi trồng thuỷ sản và phát triển du lịch.
Nà Hang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa hè nóng, ẩm,
mƣa nhiều. Mùa đông lạnh, khô hanh ít mƣa, có nhiều sƣơng muối cục bộ.
Nhiệt độ trung bình 26
o
C, cao nhất 40
o
C, thấp nhất 0
o
C. Lƣợng mƣa trung
bình hàng năm: 1.800 mm. Độ ẩm không khí trung bình 85%. Do ảnh hƣởng
của địa hình, khí hậu của Nà Hang cũng không thống nhất giữa các vùng.
Vùng núi cao trên 800m mang sắc thái khí hậu nhiệt đới. Nhiệt độ cao nhất
trong năm chỉ 30
0
. Vùng thấp dƣới 800m mang sắc thái khí hậu nhiệt đới gió
mùa. Trong năm chia làm 4 mùa rõ rệt. Nằm sâu trong nội địa, đƣợc che chắn
bởi nhiều dãy núi cao, Nà Hang không chịu ảnh hƣởng của bão biển song
thƣờng xuyên có gió xoáy, gió lốc. Mùa đông có sƣơng muối. Mùa hè hay có
mƣa đá và các trận lũ ngắn.
Đất đai ở Nà Hang phân hoá thành nhiều loại khác nhau. Đất feralit
đƣợc hình thành từ quá trình feralit hoá, đất phù sa đƣợc hình thành do sự vận

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc Mông đƣợc coi là một thành
viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, có số lƣợng
cƣ dân đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc Việt Nam.
Nhìn chung, ý kiến của các nhà nghiên cứu dân tộc học ở Việt Nam về
lịch sử hình thành dân tộc Mông là tƣơng đối thống nhất khi cho rằng ngƣời
Mông di cƣ vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là 100
năm về trƣớc.
Từ những thế kỷ trƣớc khi di cƣ đến Việt Nam, Ngƣời Hán gọi ngƣời
Mông là “Mèo”. Tộc danh Mèo theo âm Hán Việt là “Miêu”. Đây là tên gọi
một tộc ngƣời sớm biết nghề trồng lúa nƣớc ở vùng hồ Bành Lãi và hồ Động
Đình (Trung Quốc), lâu dần trở thành tên gọi chính thức.Theo truyền thuyết,
tổ tiên của ngƣời Mông đã ở vùng hồ Bành Lãi (thuộc Giang Tây) và hồ Động
Đình (thuộc Hồ Nam) ở Trung Quốc từ hàng nghìn năm trƣớc công nguyên.
Trong suốt hàng chục thế kỷ, ngƣời Mông di cƣ theo hƣớng Tây - Tây Nam,
tập trung đông ở Hồ Nam, Tứ Xuyên, Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây và
trung tâm là Quí Châu (Trung Quốc) trƣớc khi đến Việt Nam.
Cũng theo truyền thuyết thì xƣa kia, dân tộc Mông cũng có một quốc gia
riêng với biểu tƣợng hình đôi sừng trâu và màu cờ đỏ. Ngày nay, một số vùng
ngƣời Mông ở Hà Giang, Lào Cai vẫn ít nhiều còn để lại những dấu ấn ấy qua
các phong tục, biểu hiện cụ thể ở tấm vải đỏ treo trƣớc cửa nhà; ngƣời chết
không phân biệt già trẻ đều có tấm vải đỏ che miệng; hình bộ sừng trâu dùng
làm chốt cửa trên hai cánh cửa chính của mỗi nhà. Hay nhƣ cách đội khăn
quấn đầu hình hai sừng trâu của ngƣời Mông ở một số vùng hiện nay của
Trung Quốc.
Ngƣời Mông đến nƣớc ta có thể gồm nhiều đợt với qui mô lớn nhỏ khác
nhau: Từ Vân Nam sang, từ Quí Châu qua Vân Nam hoặc Quảng Tây sang cƣ
trú ở các vùng biên giới phía Bắc. Theo các nhà nghiên cứu, dựa trên kết quả

thảm rằng: “Quí Châu là quê hương yêu dấu của người Mèo ta ở. Vì người

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Mèo ta đói rách, vì dân Mèo ta không có chữ nên phải dời quê”[ 15, tr77].
Dấu ấn của các cuộc thiên di còn để lại trong các câu chuyện cổ của ngƣời
Mông với tất cả sự đắng cay nghiệt ngã đến thê thảm của số phận con ngƣời.
Chỉ ba hạt ngô làm giống hoặc ba chiếc bánh kê có thể đổi đƣợc một cô vợ
ngƣời Mông.
Ngƣời Mông vốn có gốc gác là những cƣ dân trồng lúa nƣớc. Tên gọi
“Miêu” theo Hán tự trên có bộ thảo là cây cỏ, dƣới có chữ điền là ruộng đồng.
Điều này phần nào khẳng định ngƣời Mông có tổ tiên nguồn cội cƣ trú ở lƣu
vực các con sông với nghề trồng lúa. Mặt khác, qua một số truyện cổ và đặc
biệt là kho tàng ca dao, dân ca phong phú của ngƣời Mông, ta cũng có thể tin
rằng ngƣời Mông xƣa kia vốn cũng sinh sống ở những vùng đất đai có sông
ngòi và làm nhiều ruộng. Văn học dân gian truyền thống của ngƣời Mông
luôn nhắc tới “sông nước”, “thuyền bè”, tới các “đường dài - đường rộng”,
“bãi bằng - bãi phẳng”, tới ruộng, tới trâu… nhƣ một ƣớc mơ, nhƣ một sự
phản ánh hiện thực xa xƣa với một niềm luyến tiếc, hàm chứa một sự so sánh
trong nhận thức và hiện tại.
Đến Việt Nam, đến với một vùng đất mới, không có chiến tranh sắc tộc,
chấm dứt một giai đoạn đằng đẵng của lịch sử gắn liền với những cuộc thiên
di đầy nƣớc mắt và máu, ngƣời Mông đã tìm thấy một quê hƣơng mới và cuộc
sống hứa hẹn những ấm no và hạnh phúc. Những câu chuyện dân gian của
ngƣời Mông vẫn còn ghi lại: “Việt Nam là nơi đất đai màu mỡ để làm ăn, nơi
có quả bí to như cái vạc mà lợn rừng có thể khoét lỗ chui vào đó đẻ; nó vừa
là ổ, vừa là thức ăn cho lợn. Nơi trồng cây lương thực gốc có củ, thân có bắp,
ngọn trổ lúa” [22;15]. Vì thế, cùng với quá trình lao động sáng tạo, ngƣời
Mông đã coi những địa danh nhƣ Mèo Vạc - Hà Giang là quê hƣơng thứ hai

giá lạnh, khắc nghiệt về mùa đông. Điều kiện đi lại, giao lƣu rất đỗi khó khăn.
Nƣớc phục vụ cho sinh hoạt thiếu thốn, thậm chí khan hiếm. Cho nên, ngƣời
Mông giỏi canh tác nƣơng rẫy hơn làm ruộng nƣớc. Ở những nơi chỉ toàn núi
đá nhƣ Mèo Vạc (Hà Giang), ngƣời dân đƣa đất từ nơi khác tới, đổ vào những
hốc đá để tra ngô. Sống biền biệt trên các vùng cao quanh năm sƣơng phủ, sự

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
hẻo lánh làm cho đời sống xã hội Mông chậm phát triển. Kinh tế hoàn toàn
mang tính chất tự cấp tự túc, lệ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Vì hoàn cảnh
sống vất vả khó khăn nên trƣớc đây phần lớn đồng bào Mông sống du canh,
du cƣ hoặc đã định cƣ nhƣng còn du canh. Ngày nay, đƣợc sự quan tâm của
Đảng và Nhà nƣớc, cuộc sống của ngƣời Mông đã có những bƣớc cải thiện
đáng kể.
Lịch sử của cộng đồng ngƣời Mông ở Việt Nam là lịch sử của những
cuộc thiên di, là một bản trƣờng ca đầy bi tráng mà mỗi trang đều đƣợc viết
lên bằng nƣớc mắt và máu. Lịch sử đau thƣơng và hào hùng cùng với điều
kiện sống hết sức khắc nghiệt đã góp phần hun đúc lên một diện mạo tâm hồn
Mông với bản lĩnh can trƣờng, dũng cảm đến táo bạo, chai sạn đến chắc nịch
nhƣ đá núi với một sức chịu đựng bền bỉ dẻo dai hiếm có.
Ngƣời Mông ở Nà Hang: Theo số liệu điều tra của Cục Thống kê tỉnh
Tuyên Quang, Nà Hang có 21 xã, 1 thị trấn và 300 thôn, bản; dân số (tính dến
năm 2009) là 60.151ngƣời, gồm 18 dân tộc anh em cùng sinh sống. Đông
nhất là dân tộc Tày chiếm 55,18% dân số toàn huyện, cƣ trú chủ yếu ở các xã
Sơn Phú, Yên Hoà, phúc Yên, Lăng Can, thị trấn Nà Hang. Dân tộc Dao ở
huyện Na Hang, chiếm 25,72% dân số cả huyện. Chủ yếu là ngƣời Dao đỏ và
Dao Tiền, cƣ trú tập trung ở các xã Sơn Phú, Vĩnh Yên, Xuân Tân, Xuân
Tiến, Sinh Long, Đà Vị, Xuân Lập, Phúc Yên, Hồng Thái, Yên Hoa và
Thƣợng Nông. Dân tộc Kinh chiếm 10,1% dân số toàn huyện, cƣ trú ở Thuý

biệt rõ ràng. Đồng bào luôn coi mảnh đất Nà Hang là quê hƣơng của mình: họ
sống rất chân thật, phóng khoáng và có quan hệ gần gũi, gắn bó với các đồng
bào khác ở địa phƣơng nơi cƣ trú. Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của
đất nƣớc cũng nhƣ của tỉnh cuộc sống vật chất, tinh thần của đồng bào Mông
hôm nay đã có những thay đổi nhanh chóng.
Đồng bào Mông ở đây cũng nhƣ ở các nơi khác thƣờng cƣ trú ở độ cao
800-1200m nơi có khí hậu mát mẻ nhƣng có địa thế núi non hiểm trở, giao
thông đi lại khó khăn. Ngƣời Mông ở Nà Hang có hai nhóm đó là Mông Hoa
(Hmông lềnh) và Mông trắng( Mông đấu).
BẢNG 1.1: THỐNG KÊ DÂN TỘC MÔNG THEO CÁC XÃ THUỘC HUYỆN
NÀ HANG TỈNH TUYÊN QUANG
STT
Tên xã, thị trấn
Tổng số dân
Dântộc Mông
Tỷ lệ(%)
1
Xuân Lập
1916
1164
60,75
2
Khau Tinh
1395
561
40,2
3
Sinh Long
2677
645

5,1
10
Yên Hoa
4799
74
1,5
11
Thị trấn Nà Hang
7266
49
0,67
12
Thƣợng Lâm
5147
7
0,13
13
Lăng Can
4813
2
0,04
14
Năng Khả
5149
2
0,03
15
Phúc Yên
2781
1

nghi một cách linh hoạt. Ngƣời Mông ở các huyện Nà Hang cƣ trú ở vùng núi
đá đã canh tác trên loại hình nƣơng thổ canh hốc đá. Các mảnh nƣơng này
nằm cheo leo trên các sƣờn núi đá vôi nhỏ hẹp, tiếng Mông gọi là "Tế kho
dế". Để bảo vệ đất khỏi xói mòn, đồng bào xếp đá be bờ. Tùy theo địa hình,
xếp đá be bờ theo từng kiểu khác nhau. Ở những hốc đá đất ít, ngƣời Mông
nhặt các hòn đá xếp vào khe giữa các mô đá ngăn thành gờ nhỏ giữ đất cho
từng hốc, từng mảnh đất nhỏ. Ở các vạt đất rộng, ngƣời Mông dùng đá be
thành các bờ dải giữ đất, chống xói mòn. Ở loại nƣơng này, ngƣời Mông dùng
cuốc làm đất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
Ở khu vực còn rừng già, ngƣời Mông phát rừng làm nƣơng dốc tiếng
Mông gọi là "Tế giống". Loại nƣơng dốc này dễ bị xói mòn nên ngƣời Mông
chỉ canh tác đƣợc vài ba vụ phải di chuyển luân canh. Tuy nhiên loại nƣơng rẫy
còn rất ít.
Trên các sƣờn đồi nƣơng thoai thoải, ít dốc ngƣời Mông khai khẩn
thành các nƣơng bậc thang, tiếng Mông gọi là "Tế kế đây". Nƣơng bậc thang
bề ngang hẹp nhƣng tƣơng đối bằng phẳng xung quanh nƣơng đồng bào đắp
bờ nhỏ để giữ ẩm, giữ nƣớc mƣa. Phía trên đƣờng xẻ rãnh có hệ thống thoát
nƣớc khi mƣa to nhằm chống xói mòn. Ở nƣơng bậc thang, đồng bào dùng
cày trong khâu làm đất. Nƣơng bậc thang là gạch nối giữa ruộng và nƣơng.
Tuy nhiên nƣơng bậc thang chƣa phải là ruộng vì thiếu nƣớc và đất có độ
thẩm thấu lớn.
Nhìn chung, ngƣời Mông khai phá và canh tác trên nƣơng rẫy theo mỗi
loại địa hình khác nhau có kiểu canh tác khác nhau. Trên nƣơng bằng ruộng
và nƣơng bậc thang ngƣời Mông dùng cày. Trên nƣơng thổ canh hốc đá ngƣời
Mông dùng cuốc. Trên nƣơng dốc núi đất, ngƣời Mông dùng gậy chọc lỗ,
hoặc cuốc bƣớm; bộ nông cụ làm đất của ngƣời Mông khá độc đáo, thích hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status