đời sống kinh tế - văn hoá của người mông ở huyện phú lương tỉnh thái nguyên từ năm 1979 đến năm 2010 - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG
ĐẠI
HỌC SƢ
PHẠM HỨA THỊ HOÀNG ANH ĐỜI SỐNG KINH TẾ - VĂN HOÁ CỦA NGƢỜI MÔNG
Ở HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN
TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 2010 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Lịch sử Việt
Nam
Mã số: 60.22.03.13

1.2.1. Khái quát về ngƣời Mông trƣớc khi đến huyện Phú
Lƣơng tỉnh Thái Nguyên 11
1.2.2. Ngƣời Mông ở Phú Lƣơng (Từ năm 1979 đến năm 2010) 15
Chƣơng 2. ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA NGƢỜI MÔNG Ở PHÚ
LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 2010 20
2.1. Tập quán trong đời sống kinh tế của ngƣời Mông ở huyện Phú
Lƣơng 20
2.1.1. Trong nông nghiệp 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2.1.2. Nghề thủ công trong gia đình 34
2.1.3. Trong khai thác nguồn lợi tự nhiên 43
2.1.4. Trao đổi hàng hoá 45
2.2. Những chuyển biến trong đời sống kinh tế của ngƣời Mông ở
huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên 45
2.3. Đời sống vật chất 49
2.3.1. Đồ ăn, uống, hút 49
2.3.2. Trang phục 54
2.3.3. Nhà ở 57
Chƣơng 3. VĂN HOÁ TINH THẦN CỦA NGƢỜI MÔNG Ở
HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1979
ĐẾN NĂM 2010 60
3 1. Tổ chức xã hội 60
3 2. Các tập quán liên quan đến chu kỳ đời ngƣời 73
3.3. Tôn giáo, tín ngƣỡng 84
3.4. Văn nghệ dân gian 91
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC

khai thác thế mạnh địa phương làm giàu cho mình, cho đất nước” (Nghị
quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng lần thứ 7 khoá XI) và
“Phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của các dân tộc anh
em làm phong phú thêm nền văn hoá chung của cả nước” (Nghị quyết
Trung ƣơng 5 khoá VIII của Đảng).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc Mông đƣợc coi là thành
viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, thuộc
nhóm ngôn ngữ Mông - Dao gồm 3 nhóm chính: Mông Trắng, Mông Hoa và
Mông Đen. Địa bàn sinh sống của ngƣời Mông chủ yếu ở vùng núi cao của
các tỉnh Đông và Tây Bắc Việt Nam nhƣ Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn
La, Tuyên Quang, Thái Nguyên
Theo số liệu của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì
ngƣời Mông ở Việt Nam có dân số là 1.068.189 ngƣời, đứng thứ 8 trong bản
danh sách các dân tộc ở Việt Nam. Bằng sức mạnh cộng đồng và khả năng
sáng tạo của mình, ngƣời Mông ở Việt Nam đã xây dựng cho mình một đời
sống kinh tế văn hoá đặc thù của cƣ dân vùng núi cao, phù hợp với đặc điểm
tự nhiên và truyền thống sản xuất của tộc ngƣời mình.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi phía Bắc với gần 20 dân tộc anh
em, ngƣời Mông ở Thái Nguyên tập trung khá đông đảo, nhiều nhất là ở
các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, Định Hoá, Phú Lƣơng. Theo số liệu của
cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì ngƣời Mông ở Thái
nguyên có dân số là 7.230 ngƣời chiếm 0,6 % dân số toàn tỉnh và là 1
trong 8 dân tộc có số lƣợng đông nhất tại Thái Nguyên. Tại đây, địa bàn
sinh sống chủ yếu của ngƣời Mông là những vùng núi cao, sống gắn bó
hoà hợp với các dân tộc anh em.
Phú Lƣơng là huyện miền núi nằm ở vùng phía bắc của tỉnh Thái

cứu về dân tộc Mông của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc. Trong quá
trình nghiên cứu, tôi đã tiếp cận đƣợc với một số tác phẩm của các tác giả
có liên quan đến đề tài nghiên cứu, trong đó có thể kể đến một số công
trình nghiên cứu sau:
"Lịch sử người Mèo” của học giả nƣớc ngoài Savina F.M xuất bản tại
Hồng Kông năm 1924 do học giả Trƣơng Thọ dịch, cho biết một cách khái
quát về lịch sử di cƣ, tên gọi, nguồn gốc của ngƣời Mông trên thế giới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
"Dân tộc Mông ở Việt Nam” của các tác giả Cƣ Hoà Vần và Hoàng
Nam - NXB văn hoá dân tộc - 1994 đã phác hoạ đƣợc một cách khá đầy đủ về
mọi mặt kinh tế, văn hoá, xã hội của dân tộc Mông ở Việt Nam nói chung
đồng thời cũng là nguồn tƣ liệu để tìm hiểu về đời sống kinh tế, văn hoá, xã
hội của dân tộc Mông tại Phú Lƣơng, Thái Nguyên.
Tác phẩm “Địa chí Thái Nguyên “xuất bản năm 2009, Nxb Chính trị
quốc gia trình bày khá rõ nét và cơ bản về kinh tế, văn hoá, xã hội của các dân
tộc ở Thái Nguyên trong đó có ngƣời Mông.
"Văn hoá Mông” của Trần Hữu Sơn - NXB văn hoá dân tộc - 1995 đã
đề cập khá sâu sắc về nét văn hoá cổ truyền của dân tộc Mông.
"Văn hoá tâm linh của người HMông ở Việt Nam truyền thống và
hiện tại” do Vương Duy Quang viết, NXB văn hoá thông tin và Viện văn
hoá Hà Nội xuất bản năm 2005 đã giới thiệu khía quát về lịch sử di cƣ, địa
vực cƣ trú và tộc danh của ngƣời Mông ở Việt Nam. Tác giả cuốn sách
cũng đề cập đến những nét chung về đời sống kinh tế, đời sống xã hội của
ngƣời Mông nói chung.
"Cộng đồng các dân tộc Việt Nam” - NXB giáo dục Việt Nam - 2010
giới thiệu sơ lƣợc về 54 dân tộc anh em cùng sinh sống trên đất nƣớc ta, trong
đó có dân tộc Mông.

Về thời gian, đề tài nghiên cứu đời sống kinh tế và văn hoá của ngƣời
Mông ở đây từ năm 1979 đến năm 2010 nghĩa là từ khi ngƣời Mông bắt đầu
di cƣ về huyện Phú Lƣơng đến năm 2010.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tƣ liệu thành văn bao gồm các công trình nghiên cứu và các tác
phẩm viết về nguồn gốc cộng đồng dân tộc, những nét văn hoá truyền thống
đặc sắc, lí luận về dân tộc; nghị quyết hội nghị BCH Trung ƣơng Đảng lần
thứ VII, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam do
Ban tƣ tƣởng văn hoá trung ƣơng xuất bản

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
Bên cạnh đó, tác giả còn tham khảo các tác phẩm thông sử và các sách
chuyên khảo, các bài viết về đời sống kinh tế văn hoá của ngƣời Mông.
Nguồn tƣ liệu thực địa và điền dã: Bao gồm sự quan sát cảnh quan,
phỏng vấn những ngƣời có tuổi, hiểu biết về đời sống kinh tế và văn hoá
ngƣời Mông nhƣ trƣởng thôn, trƣởng bản, thầy cúng, thầy thuốc, nông dân
để tìm hiểu đời sống kinh tế và văn hoá của ngƣời dân Mông ở Phú Lƣơng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu tôi sử dụng 2 phƣơng pháp chủ yếu là
phƣơng pháp lịch sử và phƣơng pháp logic nhằm tìm hiểu các vấn đề mà đề
tài nghiên cứu.
Ngoài ra tôi còn kết hợp với phƣơng pháp điền dã dân tộc học để tìm
hiểu thực tế.
5. Đóng góp của luận văn
Đề tài tái hiện bức tranh về đời sống kinh tế - văn hoá của ngƣời Mông
ở huyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên từ năm 1979 đến năm 2010.
Qua nghiên cứu góp phần định hƣớng những giải pháp nhằm ổn định,

kinh Đông.Phía tây bắc giáp huyện Định Hoá, phía tây nam giáp huyện Đại Từ,
phía đông giáp huyện Đồng Hỷ, phía nam giáp thành phố Thái Nguyên và phía
đông bắc giáp huyện Chợ Mới (Bắc Kạn). Tổng diện tích tự nhiên là 368,82 km²
trong đó có 10.121 ha đất gieo trồng còn lại là núi đá chen lẫn núi đất.
Địa danh Phú Lƣơng có từ thời Lý. Khi đó, Phú Lƣơng là một phủ rộng
lớn, bao gồm toàn bộ phần đất của các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Cao Bằng
ngày nay. Thời thuộc Minh(từ năm 1407 đến năm 1427) chính quyền đô hộ lập
huyện Phú Lƣơng thuộc phủ Phú Bình. Năm Minh Mệnh thứ 16(năm 1863), triều
Nguyễn điều chỉnh địa giới hai phủ Phú Bình và Thông Hoá để thành lập phủ
Tòng Hoá trực thuộc tỉnh Thái Nguyên, huyện Phú Lƣơng thuộc phủ Tòng Hoá,
huyện lỵ đặt tại xã Quán Triều. Dƣới thời thuộc Pháp, từ tháng 10-1890 đến tháng
9- 1892, huyện Phú Lƣơng thuộc tiểu Quân khu Thái Nguyên. Từ tháng 10-1892,
huyện Phú Lƣơng thuộc phủ Tòng Hoá (tỉnh Thái Nguyên) nhƣ trƣớc.
Trƣớc cách mạng tháng Tám năm 1945, Phú Lƣơng có 7 tổng, 25 xã.
Sau cách mạng tháng Tám, huyện Phú Lƣơng đƣợc tổ chức lại thành 12 xã.
Năm 1965, sau khi Bắc Kạn và Thái Nguyên đƣợc hợp nhất thành tỉnh Bắc
Thái, 9 xã của huyện Bạch Thông đƣợc sát nhập về huyện Phú Lƣơng. Đến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
tháng 12 năm 1996, khi tỉnh Thái Nguyên đƣợc tái lập, 9 xã phía bắc huyện
Phú Lƣơng đƣợc bàn giao về huyện Bạch Thông tỉnh Bắc Kạn. Hiện nay,
huyện gồm 14 xã và 2 thị trấn với trung tâm huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu.
Điều kiện tự nhiên
Về địa hình, Phú Lƣơng nằm trong hệ kiến tạo hình thành địa hình của
tỉnh Thái Nguyên, huyện Phú Lƣơng nằm trong phần cuối của cánh cung
Ngân Sơn. Đồi núi của huyện Phú Lƣơng có độ cao vừa phải, ngoài phần
nhiều là các đồi núi thấp đƣợc cấu tạo bằng các loại sa phiến thạch, sƣờn
thoải, dạng đồi bát úp, hoặc đã đƣợc khai phá thành các ruộng bậc thang thì

25
0
- 30
0,
lƣợng mƣa trung bình từ 1.800 - 2.000 mm, độ ẩm trung bình
khoảng 80%. Lƣợng nƣớc bốc hơi hàng năm của huyện vào khoảng 985,5
mm. Mùa lạnh lƣợng nƣớc bốc hơi lớn hơn mùa mƣa, độ ẩm (k) dƣới 0,5 nên
thƣờng xuyên xảy ra khô hạn.
Giao thông vận tải: Huyện Phú Lƣơng có 3 tuyến đƣờng bộ chính là:
Quốc lộ 3 (Hà Nội - Cao Bằng) chạy qua địa bàn 8 xã của huyện với chiều dài
là 40 km; đƣờng 254 từ km31 lên Định Hoá; Quốc lộ 37 từ ngã ba Bờ Đậu
(xã Cổ Lũng) qua địa bàn huyện Đại Từ sang tỉnh Tuyên Quang. Các tuyến
giao thông này mang lại cho huyện Phú Lƣơng nhiều điều kiện thuận lợi để
phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng an ninh.
Về dân số: Trƣớc cách mạng Tháng tám, dân số huyện Phú Lƣơng
chƣa tới 10.000 ngƣời đến năm 2010 dân số toàn huyện là 105.998 ngƣời.
Phú Lƣơng là huyện có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trong đó dân
tộc Kinh chiếm 54,2%, dân tộc Tày chiếm 21,1%, Sán Chay là 8,05%,
Nùng là 4,5%, Sán Dìu là 3,2% còn lại là dân tộc Thái, Hoa, Mông. Mật
độ dân số là 288 ngƣời/km
2,
trong đó Thị trấn Đu có mật độ dân số cao
nhất là 18.727 ngƣời/km
2
và xã Yên Ninh là xã có mật độ dân số thấp nhất
128 ngƣời/km
2
.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Ý kiến của các nhà nghiên cứu dân tộc học ở Việt Nam về lịch sử hình
thành dân tộc Mông là tƣơng đối thống nhất khi cho rằng phần lớn ngƣời
Mông di cƣ vào Việt Nam là từ Quý Châu, Quảng Tây, Vân Nam (Trung
Quốc) sang, sớm nhất khoảng 350 năm và muộn nhất là 100 năm về trƣớc
theo 3 đợt lớn:
Đợt thứ nhất, cách đây trên 300 năm, ngƣời Mông từ Quý Châu di cƣ
sang Đồng Văn, Mèo Vạc của tỉnh Hà Giang.
Đợt thứ hai, cách ngày nay khoảng 200 năm, sau thất bại của phong
trào khởi nghĩa của ngƣời Mông ở Quý Châu (1776- 1820).Họ vào theo hai
hƣớng chính. Một hƣớng tiếp tục tràn vào cao nguyên Đồng Văn rồi đi sang
Bảo Lạc (Cao Bằng), Bắc Mê, Xín Mần, Hoàng Su Phì (Hà Giang)… Một
hƣớng vào vùng đất Xi Ma Cai và Mƣờng Khƣơng rồi xuống Văn Bàn (Lào
Cai), Phong Thổ, Sìn Hồ, Điện Biên (Lai Châu)…
Đợt thứ ba là cuộc thiên di lớn nhất của ngƣời Mông vào nƣớc ta,
cách đây khoảng từ 120 đến 160 năm. Hàng vạn ngƣời Mông di cƣ từ Quý
Châu, Quảng Tây, Vân Nam (Trung Quốc) sang Hà Giang, Lào Cai, Yên
Bái và một số tỉnh biên giới phía Bắc nƣớc ta sau khi cuộc khởi nghĩa
Hàm Đồng (năm 1853) bùng nổ ở Đông Nam Quý Châu kéo dài suốt 18
năm bị nhà Thanh đàn áp đẫm máu.Ngƣời Hmông vào Viện Nam đợt này
theo các đƣờng Phong Thổ (Lai Châu), Xi Ma Cai và Mƣờng khƣơng
(Lào Cai). Từ đây họ đi sâu vào vùng Tây Bắc, đến Tủa Chùa, Tuần Giáo
(Lai Châu), Thuận Châu, Sông Mã (Sơn La). Một bộ phận từ Mù Căng
Chải sang Bắc Yên, Phù Yên rồi xuống vùng núi Mộc Châu (Sơn La) và
điểm dừng cuối cùng là vùng núi tây Thanh Hóa. Cũng trong thời gian
này, một nhóm ngƣời Hmông ở Xiêng Khoảng (Lào) đã tràn vào vùng núi
Thanh - Nghệ và cƣ trú tập trung ở huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
(Trung Quốc) trƣớc khi đến Việt Nam. Tên gọi "Miêu” theo Hán tự trên có bộ
thảo là cây cỏ, dƣới có chữ điền là ruộng phần nào khẳng định ngƣời Mông có
nguồn cội cƣ trú ở lƣu vực các con sông với nghề trồng lúa. Văn học dân gian
của ngƣời Mông cũng luôn nhắc tới ruộng, trâu, "sông nƣớc", "thuyền bè"
nhƣ một sự phản ánh hiện thực xa xƣa họ từng sinh sống ở những vùng đất
đai có sông ngòi và làm nhiều ruộng.
Cũng theo truyền thuyết thì xƣa kia, dân tộc Mông cũng có một quốc
gia riêng với biểu tƣợng hình đôi sừng trâu và màu cờ đỏ. Ngày nay, một số
vùng ngƣời Mông ở Hà Giang, Lào Cai vẫn ít nhiều còn để lại những dấu ấn
ấy qua các phong tục, biểu hiện cụ thể ở tấm vải đỏ treo trƣớc cửa nhà; ngƣời
chết không phân biệt già trẻ đều có tấm vải đỏ che miệng; hình bộ sừng trâu
dùng làm chột cửa trên hai cánh cửa chính của mỗi nhà. Hay nhƣ cách đội
khăn quấn đầu hình hai sừng trâu của ngƣời Mông ở một số vùng hiện nay
của Trung Quốc.
Quả thực, với hơn ba trăm năm di cƣ đến nƣớc ta, ngƣời Mông đã tự
khai sơn phá thạch dựng nên làng bản và trở thành một thành viên của đại gia
đình các dân tộc Việt nam. Đồng bào đã sát cánh kề vai cùng các dân tộc láng
giềng đổ mồ hôi và xƣơng máu để giữ gìn, bảo vệ chủ quyền quốc gia Việt
Nam của mình. Và dải cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc, nơi có ngƣời Mông
sống tập trung đông nhất, nơi còn lƣu giữ đƣợc những yếu tố văn hóa cổ
truyền nhất xứng đáng đƣợc coi là trung tâm văn hóa truyền thống của ngƣời
Mông ở Việt Nam và Đông Nam Á.
Khi ngƣời Mông di cƣ vào Việt Nam, họ vẫn mang theo tên gọi quen
thuộc của mình là Mèo. "Đến tháng 3 năm 1979 trên cơ sở kết quả điều tra
nghiên cứu, có tham khảo ý kiến của các đại biểu ngƣời Mèo, theo đề nghị của
ủy ban Dân tộc của Chính phủ, danh mục thành phần 54 dân tộc ở Việt Nam

Lƣơng có 14 xã, 2 thị trấn với số dân (tính đến năm 2009) là 105.233
ngƣời . Phú Lƣơng là huyện có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
đó dân tộc Kinh chiếm 54,2%, dân .tộc Tày chiếm 21,1%, Sán Chay là
8,05%, Nùng là 4,5%, Sán Dìu là 3,2% còn lại là dân tộc Thái, Hoa,
Mông. Mật độ dân số là 288 ngƣời/km
2,
trong đó Thị trấn Đu có mật độ
dân số cao nhất là 18.727 ngƣời/km
2
và xã Yên Ninh là xã có mật độ dân
số thấp nhất 128 ngƣời/km
2
.
Theo tài liệu của ban chỉ đạo cuộc Tổng điều tra dân số nƣớc ta năm
1979 thì năm này tỉnh Bắc Thái nói chung, Thái Nguyên nói riêng mới có số
liệu về ngƣời Mông. Năm 1979, toàn tỉnh có 644 ngƣời(80% tập trung ở Võ
Nhai) thì ở Phú Lƣơng có 1 hộ (5 ngƣời). Sau đó 10 năm(năm 1989) dân số
Mông ở Thái Nguyên đã lên tới 2.264 ngƣời trong đó Phú Lƣơng là 179
ngƣời. Nguyên nhân chủ yếu của sự gia tăng này là do ngƣời Mông di chuyển
từ các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang về do tác động của cuộc chiến tranh bảo vệ
biên giới phía Bắc năm 1979. Khi di cƣ về Thái Nguyên, ngƣời Mông chủ
yếu phân bố ở 3 huyện là Võ Nhai, Đồng Hỷ và Phú Lƣơng. Địa bàn mà họ
chọn di cƣ tự nhiên phần lớn là các xã có địa hình núi đá vôi, khí hâu mát mẻ
cách xa đƣờng quốc lộ đƣờng vào hiểm trở gần giống với địa hình quê hƣơng
của họ tại các huyện trên. Ở Phú Lƣơng, khi mới di cƣ đến phần lớn đồng bào
chọn sống tại các xã giáp với huyện Đồng Hỷ và Chợ Mới nhƣ Phú Đô, Yên

Với những đặc điểm về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, giao thông vận
tải và dân cƣ nhƣ trên, ngƣời Mông khi di cƣ đến huyện Phú Lƣơng có nhiều
điều kiện gần gũi với cộng đồng cƣ dân vốn có trình độ kinh tế xã hội phát
triển khá cao nơi đây. Huyện Phú Lƣơng lại có điều kiện tự nhiên khá gần gũi
với môi trƣờng sinh sống truyền thống của ngƣời Mông: có rừng núi nhƣng
không quá hiểm trở lại gần với trung tâm tỉnh lỵ- thành phố Thái Nguyên-
trung tâm kinh tế xã hội của vung Việt Bắc khiến ngƣời Mông ở Phú Lƣơng
có điều kiện tiếp thu những tiến bộ trong phát triển kinh tế-xã hội

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Thống kê dân tộc Mông ở huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên
Tính đến tháng 6 năm 2011
STT
Địa điểm
Số nhân khẩu ngƣời Mông
1
Xã Động Đạt
392
2
Xã Phú Đô
277
3
Xã Yên Lạc
17
4
Xã Yên Đổ
3
5

Là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam, ngƣời Mông di cƣ đến nƣớc ta
cách đây khoảng hơn 300 năm và tập trung đông nhất ở các tỉnh miền Bắc
nhƣ Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai Ngƣời Mông di cƣ đến huyện Phú
Lƣơng tỉnh Thái Nguyên từ sau năm 1979. Ban đầu, cuộc sống của ngƣời
Mông nơi đây còn nhiều khó khăn, vất vả, trình độ dân trí thấp. Tuy
nhiên, đƣợc sự quan tâm của Đảng bộ và các cấp chính quyền địa phƣơng,
đời sống của đồng bào Mông ở huyện Phú Lƣơng ngày càng đƣợc nâng
lên cả về vật chất lẫn tinh thần.Tuy chiếm số lƣợng không nhiều trong
cộng đồng các dân tộc huyện Phú Lƣơng song đời sống kinh tế - văn hoá
ngƣời Mông ở huyện Phú Lƣơng vẫn có những đặc trƣng riêng góp phần
xây dựng huyện Phú Lƣơng ngày càng giàu mạnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
Chƣơng 2
ĐỜI SỐNG KINH TẾ CỦA NGƢỜI MÔNG Ở PHÚ LƢƠNG
TỈNH THÁI NGUYÊN TỪ NĂM 1979 ĐẾN NĂM 2010

2.1. Tập quán trong đời sống kinh tế của ngƣời Mông ở huyện Phú Lƣơng
Trải qua hàng trăm năm canh tác và sinh sống trên núi cao khi còn
ở Cao Bằng, ngƣời Mông khi đến Phú Lƣơng đã đem theo các kinh
nghiệm trong sản xuất nông nghiệp. Những kinh nghiêm ấy giúp họ chinh

nƣơng hay không, hƣớng nƣơng phải đủ ánh sáng, nƣơng không quá
dốc Họ cho rằng đất để làm nƣơng tốt thƣờng là nơi có nhiều cây mọc
tốt, có độ ẩm cao và có chất đất tốt. Họ biết chia đất ra thành từng loại
khác nhau để phù hợp với từng loại cây khác nhau.
Ngƣời Mông Phú Lƣơng cho rằng mảnh đất cho năng suất tốt nhất
là mảnh đất ở thung lũng (á cƣ ha) nơi có rừng già, đất có màu đen, tơi
xốp, độ ẩm cao, có lẫn nhiều đá nhỏ màu đen, có lớp đất đen dầy từ 20 –
30cm là đất rất tốt. Ở mảnh đất này có các cây to, già, có nhiều cành mục
mọc các cây nhƣ cây gạo, cây vông hoặc là rừng mọc nhiều tre, nứa,
chuối rừng. Loại đất này thì thích hợp với hầu hết các loại cây trồng đặc
biệt là lúa. Mảnh đất tốt sẽ cho năng suất cao, có thể trồng đƣợc từ 3 – 4
vụ mới bạc màu.Ngoài ra đất ở sƣờn đồi núi thấp (á giông) cũng là loại
đất tốt trồng các loại cây nhƣ ngô, thuốc phiện và các loại cây ngắn ngày,
có thể cho 3 – 4 mùa vụ tốt tƣơi đất mới bạc màu. Loại đất này có đặc
điểm là đất có màu đen, đỏ sẫm hoặc nâu sẫm, lớp đất trên mặt tơi xốp có
độ dày khoảng 20 – 30cm, nếu có lẫn đá nhỏ màu đen thì càng tốt.
Đất đồi trọc (á liệt sứ) là đất màu vàng đỏ, thịt dẻo, có lẫn đá sỏi, độ dốc
tƣơng đối lớn, ở đây mọc các loại cây có độ cứng lớn
nhƣng
không to. Loại đất
này thích hợp với các loại cây công nghiệp ngắn ngày và các loại cây ăn quả.
Đất núi cao (á há trông) có màu xám lẫn nhiều sỏi đá, đất mọc nhiều cây
bụi, cây leo và cỏ
gianh

thì
không thể sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Loại
đất này chủ yếu trồng rừng tái sinh để cải tạo đất.
Sau khi đã chọn đƣợc khu đất để phát nƣơng, ngƣời ta đã đánh dấu
bằng cách đặt ở 4

t cây to. Với qui trình phát từ dƣới lên cây sẽ
không bị dính vào nhau, phát dễ hơn. Để thực hiện c
ông

v
iệc một cách
nhanh và gọn nhất,
ngƣời
Mông đã huy động nhân lực gồm toàn bộ các
thành viên trong gia đình từ trẻ em đang đi học đến những
ngƣời
già cả.
Sự phân công lao động trong gia đình diễn ra một cách tự nhiên: những
ngƣời
đàn ông khoẻ mạnh thì đảm nhiệm những công việc nặng nhọc nhất
(chặt cây to, phát những nơi rậm rạp khó phát), phụ nữ trẻ em,
ngƣời
già
có nhiệm vụ chặt cành, gom lại thành từng đống một sau đó tiến hành dọn
dẹp những vùng đất xung quanh cho thật sạch.
Khi công việc phát
nƣơng
cơ bản đã hoàn thành,
ngƣời
ta để phơi
nắng những đống cây đã đƣợc gom vào vài ngày, thậm chí là vài tuần để
cho các cây phát ra khô rồi tiến hành đốt. Khi đốt, họ chọn ngày nắng to,
khô hanh. Thời gian đốt nƣơng

vào lúc chiều tối vì khi đó, gió sẽ mạnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status