đời sống kinh tế, văn hóa của người pu péo ở huyện đồng văn tỉnh hà giang (1986-2012) - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ ĐỨC THÔNG ĐỜI SỐNG KINH TẾ, VĂN HÓA CỦA NGƯỜI PU PÉO
Ở HUYỆN ĐỒNG VĂN TỈNH HÀ GIANG
(1986 – 2012) LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Quế Loan Thái Nguyên, 2014
iLỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội
dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố
trong bất cứ một công trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn

tỉnh Hà Giang. Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu đó.
Tác giả xin chân thành cảm ơn sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn
bè đã giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Đỗ Đức Thông iii

MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký tự viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1

1. Lý do chọn đề tài 1

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3. Mục đích đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
iv

2.3.3. Nghề đan lát 35

2.3.4. Chế biến thực phẩm 36

2.3.5.Nghề làm ngói máng 38
2.3.6. Nghề rèn 39

2.3.7. Nghề bốc thuốc chữa bệnh 40

2.4. Buôn bán trao đổi 41

2.4.1. Mua bán các sản phẩm công nghiệp và thủ công nghiệp 41

2.4.2. Buôn bán 42

2.5. Khai thác nguồn tài nguyên 43

Chương 3. ĐỜI SỐNG VĂN HÓA 45

3.1. Văn hóa vật chất 45

3.1.1. Ăn uống 45

3.1.2. Trang phục 50

3.1.3. Nhà cửa 52


VIẾT LÀ

ĐỌC LÀ
DT
ĐV
HG
HN
KT
Nxb
NN
TT
Tr
UBDT
UBND
XH
Dân tộc
Đồng Văn
Hà Giang
Hà Nội
Kinh tế
Nhà xuất bản
Nhà nước
Thị trấn
Trang
Ủy ban dân tộc
Ủy ban nhân dân
Xã hội
Kinh tế là những hoạt động đầu tiên để đảm bảo cuộc sống của con
người. Trong quá trình vận động và phát triển của mình, mỗi tộc người đều
dựa vào điều kiện đặc trưng riêng mà hình thành nên những loại hình kinh tế
đặc trưng. Bên cạnh đó vẫn có sự giao thoa, đan xen, hỗ trợ nhau giữa các nền
kinh tế trong quá trình vận động và phát triển là khá phổ biến.
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo ra và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình, có thề nói văn
hóa đóng vai trò quan trọng cho việc định hướng một nền kinh tế vững mạnh.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, tộc người Pu Péo được coi là một
trong những thành viên quan trọng trong cộng đồng tộc người Việt Nam, thuộc
ngôn ngữ Thái Ka-đai có tên tự gọi là Ka beo hay tên gọi khác là La quả hoặc
Pen ti Lô Lô. Địa bàn sinh sống chủ yếu của đồng bào ở các huyện vùng
caonhư Đồng Văn, Mèo Vạc,Yên Minh, Bắc Mê của tỉnh Hà Giang [15].
Theo số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Tổng cục Thống kê,
thì người Pu Péo ở Việt Nam có 900 người đứng thứ 51 trong cộng đồng 54 tộc
người thiểu số Việt Nam, được xếp vào một trong năm dân tộc ít người nhất
nước ta. Tuy dân số ít, song bằng sự đoàn kết, sức sáng tạo, người Pu Péo ở
Việt Nam đã xây dựng cho mình một đời sống kinh tế, văn hóa đặc thù của cư
dân sống ở vùng núi cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên và truyền thống của
tộc người mình [4, tr. 134-225]. .
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn cuộc sống, nhằm góp phần
nhỏ vào tìm hiểu đặc điểm kinh tế, văn hóa của người Pu Péo ở Việt Nam nói 2

chung và ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang nói riêng, cũng như nâng cao ý
thức trách nhiệm, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, bảo tồn những giá trị
văn hóa truyền thống dân tộc trong công cuộc xây dựng nông thôn mới đang

Nghiên cứu một cách khá toàn diện về người Pu Péo ở Việt Nam phải kể
đến đề tài nghiên cứu cấp Bộ về “Văn hóa người Pu Péo” của Trần Văn Ái được
nghiệm thu năm 2006. Đây là một đề tài nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn
diện về văn hóa truyền thống người Pu Péo trên đất nước Việt Nam. Sau đó, đề tài
đã được tác giả chỉnh sửa và xuất bản thành sách cũng trong năm này.
Cuốn “Cộng đồng các dân tộc Việt Nam” do nhà xuất bản Giáo dục Việt
Nam xuất bản năm 2010 đã đề cập những đặc trưng cơ bản về tộc người Pu Péo
ở Việt Nam như trang phục, nhà ở, tập quán…
Về “Văn hóa dân gian của dân tộc Pu Péo ở Việt Nam” đã được tác giả Trần
Văn Ái viết và được Nhà xuất bản Dân tộc xuất bản năm 2011 đã nghiên cứu
chuyên sâu về văn hóa dân gian của tộc người Pu Péo ở Việt Nam
Năm 2011, cuốn “ Tổng quan văn hóa truyền thống các dân tộc Việt
Nam” của giáo sư, tiến sĩ Hoàng Nam (Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội), đề cập
một cách khái quát về các tộc người thiểu số ở Việt Nam trong đó có trình bày
khái quát về văn hóa ruyền thống của tộc người Pu Péo.
Nhìn chung, do mục đích nghiên cứu, các tác phẩm trên cũng đã đề cập đến
khá toàn diện về tộc người Pu Péo sống trên lãnh thổ nước ta. Tuy nhiên có thể
thấy, hầu hết các công trình đều nghiên cứu về văn hóa truyền thống của tộc người
này, còn vấn đề các yếu tố văn hóa truyền thống các tri thức địa phương trong hoạt
động kinh tế có còn được bảo lưu phục vụ cho đời sống của đồng bào ở mức độ
nào, sự biến đổi văn hóa ở tộc người này thực trang đang diễn ra. Đó chính là
khoảng trống trong các nghiên cứu trên mà tác giả mong muốn thông qua luận văn
của mình sẽ làm sang tỏ vấn đề đó. Chính vì vậy, tôi đã chọn vấn đề tìm hiểu về
đời sống kinh tế và văn hóa của tộc người Pu Péo trong giai đoạn 1986 – 2012 tại
huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang làm luận văn Thạc sĩ.
3. Mục đích đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu được thực trạng và những biến đổi chủ yếu về đời sống kinh tế,
văn hóa của dân tộc Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang kể từ năm 1986
đến năm 2012.

liên quan đến văn hóa của người Pu Péo. 5

- Nguồn tư liệu thực địa: Trong quá trình thực hiện đề tài của mình, tác
giả đã tiến hành điền dã nhiều lần tới những địa phương có người Pu Péo hiện
đang sinh sống để khảo sát cảnh quan, tiến hành phỏng vấn những người có
tuổi, am hiểu về đời sống kinh tế và văn hóa của người Pu Péo như các trưởng
thôn, trưởng bản, thầy cúng, thầy thuốc, người dân…để tìm hiểu đời sống kinh
tế, văn hóa của người Pu Péo ở Đồng Văn tỉnh Hà Giang.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, để phục vụ công tác nghiên cứu tôi đã
sử dụng phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic,
phương pháp tổng hợp, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh nhằm tìm
hiểu về các vấn đề nghiên cứu. Bên cạnh đó, chú trọng phương pháp điền dã
dân tộc học để thu thập các tư liệu thực tế.
5. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống các đặc điểm kinh tế, văn hóa của người Pu Péo ở huyện
Đồng Văn tỉnh Hà Giang. Qua nghiên cứu, đề xuất các giải pháp giữ gìn và bảo
tồn các giá trị văn hóa của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang.
- Cung cấp cho giáo viên và học sinh những hiểu biết về dân tộc thiểu số
nói chung và của tộc người Pu Péo nói riêng ở địa phương cụ thể để phục vụ
cho việc dạy và học lịch sử địa phương.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được
cấu trúc làm 3 chương:
Chương 1. Khái quát về người Pu Péo ở huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
Chương 2. Đời sống kinh tế của người Pu Péo ở huyện Đồng Văn, tỉnh
Hà Giang.

cưới vợ là bà Củng Thị Xuân và được bố mẹ cho ra ở riêng, khi đó, chỉ còn
khoảng 5 hộ gia đình Pu Péo ở thị trấn Phố Bảng.
Từ năm 1986, người Pu Péo cư trú tương đối ổn định tại các xã Phố Là,
Phố Bảng, không có biến động lớn về dân cư. Có một số ít con em của đồng
bào thoát li làm cán bộ đến sinh sống ở các xã khác hoặc ở thị trấn huyện Đồng
Văn. Theo tài liệu của Ban chỉ đạo điều tra dân số, người Pu Péo ở Đồng Văn 7

tập trung đông nhất ở xã Phố Là và thị trấn Phố Bảng nhưng cũng không đông
chỉ khoảng 300 nhân khẩu [4].
Người Pu Péo định cư trên độ cao lưng chừng núi, họ ở xen cư với các
tộc người khác mà không tách riêng thành thôn xóm đơn lẻ. Cách sống xen cư
như vậy đã làm cho đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Pu Péo
chịu ảnh hưởng mạnh bởi nhiều tộc người khác. Khi đi điền dã ở các xã Phố Là
hay Phố Bảng, tôi nhận thấy người Pu Péo ngoài tiếng nói của mình, thì đồng
bào còn sử dụng thành thạo tiếng Mông, tiếng Quan Hỏa, đây là kết quả rõ nhất
của quá trình sống cộng cư với nhiều tộc người.
Có thể nói, Pu Péo là một trong số những tộc người ở Việt Nam đang có
nguy cơ bị biến mất. Xã Phố Là là “thủ phủ” của tộc người Pu Péo mà cũng chỉ
có 24 hộ gia đình [21]. Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của đồng bào rất thấp. Theo
số liệu thống kê của ban dân số kế hoạch hóa gia đình tỉnh Hà Giang trong
vòng 8 năm trở lại đây, mặc dù được Nhà nước không giới hạn tỷ lệ sinh thậm
chí còn khuyến khích nhưng tộc người Pu Péo ở huyện chỉ tăng thêm 87 người
[43], vì thế mà người Pu Péo được xếp vào vị trí thứ 2 trong 4 tộc người thiểu
số có dân số ít nhất ở huyện [21].
Mặc dù được coi là “cái nôi” của người Pu Péo ở nước ta, song người Pu
Péo ở huyện Đồng Văn lại sống không tập trung thành một bản riêng mà đồng
bào sống xen cư với nhiều tộc người khác. Có thể nói, đây là cơ hội để đồng


Nguồn: Phòng văn hóa dân tộc huyện Đồng Văn năm 2011

Tại các địa phương trên người Pu Péo chủ yếu cư trú tại các nơi như sau;
Xã Má Lé: ở các thôn Má Lủng B, bản Thùng.
Xã Lũng Táo: ở thôn Mo Xó Tủng.
Xã Phố Cáo: ở thôn Sảng Pà.
Thị trấn Phố Bảng: ở các thôn xóm Xóm Mới, Tiểu khu phố 1, Phố Trồ.
Thị trấn huyện Đồng Văn: ở các xóm Tân Tiến, Động Lực, Đồng Tâm
Nhìn chung tại các xã này, người Pu Péo chủ yếu sống xen cư với các tộc
người khác, ngay cả những xã tập trung đông người Pu Péo nhất như Phố Là, Phố
Bảng cũng chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với các tộc người khác. Việc sống xen cư với
nhiều tộc người đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Pu Péo trong việc học hỏi các
kinh ngiệm trong sản xuất nông nghiệp cũng như giao lưu văn hóa tạo sự đa dạng,
phong phú về văn hóa tộc người nhưng mặt khác đây cũng là thách thức lớn về
việc bảo lưu những bản sắc văn hóa truyền thống mà không bị hòa tan. 9

1.2. Nguồn gốc tộc người
Từ thế kỉ XVIII, Lê Quí Đôn đã viết về tộc người Pu Péo dưới cái tên La
Quả “ Giống người này thượng cổ ở nội địa, sau ở tản ra trên núi các xã thuộc
châu Bảo Lạc, làm nghề trồng trọt, không bỏ đi nơi khác cùng dân sở tại gánh
chịu lao dịch với ghi nhận của Lê Quí Đôn đã khẳng định rằng tộc người Pu
Péo là một tộc người đã sớm có mặt và sinh sống định cư lâu dài ở nước ta, là
một tộc người phát triển từ lâu và ở nội địa ý nói là ở bên phương bắc (Trung
Quốc) sau đó đã di cư đến Việt Nam có lẽ là trước cả thời Lê Quí Đôn ở thế kỉ
XVIII nhưng chưa có tài liệu nào nói tới vì vậy ngày nay chúng ta chỉ xác định
tộc người Pu Péo có mặt ở nước ta khoảng 300 năm [9, tr.394].

đầu thế kỉ XIX. Đến ngày nay bản thân đồng bào còn thừa nhận tộc người Pu
Péo cùng tộc người Lô Lô có mặt sớm nhất trên cao nguyên đá Đồng Văn này.
Theo sự thống nhất của nhiều nhà nghiên cứu về ngôn ngữ và dân tộc
học thì ngôn ngữ của tộc người Pu Péo hiện nay thuộc ngữ hệ Thái Ka đai. Tác
giả Trần Văn Ái qua công tác nghiên cứu, khảo sát thực tế và so sánh với các
hệ ngôn ngữ khác và rút ra kết luận rằng “Trong ngôn ngữ Pu Péo vừa có yếu
tố Kađai nói chung vừa có yếu tố ngôn ngữ Tày Thái, vừa có yếu tố ngôn ngữ
Nam Đảo, nhưng gần gũi với ngôn ngữ Tày Thái hơn cả “ [2, tr.34]. Thậm chí
như nhiều tộc người sống trên địa bàn huyện Đồng Văn thì cho rằng phần lớn
địa danh ở huyện Đồng Văn ngày nay đều được đặt tên theo ngôn ngữ người Pu
Péo. Mặc dù không có chữ viết nhưng tộc người Pu Péo vẫn sử dụng tiếng Pu
Péo hàng ngày mặc dù họ rất giỏi nói tiếng Mông hay tiếng Quan Hỏa. Điều
này càng chứng tỏ tộc người Pu Péo đã có mặt ở cao nguyên đá này từ rất sớm
có thể là sớm nhất.
Từ những chứng cứ trên có thể khẳng định rằng tộc người Pu Péo sống ở
huyện Đồng Văn ngày nay có nguồn gốc là người Pu Péo ở huyện Ma Ly Pho
tỉnh Vân Nam Trung Quốc, vì giữa huyện Đồng Văn và huyện Ma Ly Pho có
đường biên giới dài tới 52,5 km [43], nên người Pu Péo di cư sang nước ta làm
nhiều đợt từ thế kỉ XVIII đến cuối XIX. Tuy nhiên, theo nhiều nghiên cứu cho
tới tận ngày nay cũng chưa xác minh được từng đợt cụ thể. 11

Với hơn 300 năm định cư ở nước ta, người Pu Péo đã tự khai sơn phá
thạch dựng lên làng bản và trở thành một thành viên của đại gia đình dân tộc
Việt Nam. Đồng bào đã sát cánh cùng các tộc người láng giềng đổ mồ hôi và
xương máu để giữ gìn, bảo vệ chủ quyền đất nước Việt Nam, và dải đất cao
nguyên Đồng Văn - nơi có người Pu Péo tập trung đông nhất, còn lưu giữ được
những yếu tố văn hóa cổ truyền nhất xứng đáng được coi là trung tâm văn hóa

nguyên đá Đồng Văn được Unesco công nhận năm 2010. Đây là địa phương có
địa hình phức tạp, nhiều núi cao, vực sâu, chia cắt. Nhiều ngọn núi cao như
Lũng Táo 1,911m. Độ cao trung bình 1200m so với mực nước biển. Địa hình
thấp dần từ Tây sang Đông. Đồng Văn có sông Nho Quế và các dòng suối nhỏ
ở Lũng Táo, Phó Bảng, Phố Là chảy qua [43].
Theo cục khí tượng thủy văn thì khí hậu ở huyện Đồng Văn mang tính
ôn đới và phân ra nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau. Một năm chia ra thành 2
mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau thường có sương mù, sương muối thời tiết khô hanh. Lượng mưa
trung bình khá cao, khoảng 1.600 đến 2.000 mml/năm, ngoài ra còn có mưa đá.
Ở một vài tiểu vùng nhiệt độ có những lúc xuống từ 5 độ C đến 0 độ C như Lán
Xì, Phố Bảng, thời tiết khí hậu rất mát mẻ về mùa hè nhưng rất khắc nghiệt vào
mùa đông.
Giao thông ở huyện Đồng Văn còn rất khó khăn. Đường lên huyện chỉ có
một đường duy nhất là quốc lộ 4C, con đường này hiện nay đã rải nhựa nhưng
mặt đường hẹp, độ dốc, nhiều đèo cao, nhiều cua gấp, đặc biệt đường chủ yếu
bám ven núi đá cheo leo một bên là vực thẳm, nên vào mùa mưa thường gây sạt
lở rất nguy hiểm.
Có thể đi lên Đồng Văn theo hai hướng. Hướng thứ nhất đi theo quốc lộ
4C từ thị xã Hà Giang lên Đồng Văn, hướng thứ 2 có thể đi lên huyện Mèo Vạc
rồi sang Đồng Văn. Hiện nay tuyến giao thông này được coi là tuyến giao
thông huyết mạch để huyện Đồng Văn kết nối với cả nước và cũng là con
đường để giao lưu kinh tế và phát triển các hoạt động du lịch của huyện. 13

Tộc người Pu Péo sinh sống ở các xã Phố Là, Phố Cáo, Má Lé, thị trấn
Phố Bảng và thị trấn Đồng Văn. Đây là các địa phương đều có đường biên giới
với Trung Quốc như xã Má Lé, xã Phố Là, xã Phố Cáo thị Trấn Phó Bảng trừ

người phụ nữ khi sinh con phải tự sinh tại nhà nên rất nguy hiểm tới tính mạng,
tỉ lệ sinh con đạt thấp thường gây tử vong). Bên cạnh đó người Pu Péo còn duy
trì tục hôn nhân cận huyết thống gây lên tình trạng tuổi thọ của đồng bào chỉ
đạt trung bình là 45 tuổi, nhiều đứa trẻ khi sinh ra hay mắc bệnh hiểm nghèo
khó qua khỏi, chính điều này trong thời gian dài dân số của người Pu Péo tăng
không đáng kể [44].
Tục tảo hôn diễn ra mạnh, mặc dù tộc người Pu Péo không khuyến khích
lấy nhiều vợ tính chung thủy một vợ một chồng rất bền vững nhưng lại kết
hôn sớm. Theo lời kể của bà Củng Thị Xuân ở Phố Mới thị trấn Phố Bảng
cho biết bản thân bà và những người Pu Péo cùng tuổi đều kết hôn sớm có
người dựng vợ gả chồng từ khi 13, 14 tuổi. Do phong tục tập quán cùng với
sức ép của dòng họ và gia đình, không cho phép người Pu Péo kết hôn với các
tộc người khác.
Cái đói nghèo của đồng bào còn bởi tồn tại quá nhiều hủ tục lạc hậu
trong tang ma, cưới xin đặc biệt là là tang ma. Theo nhiều người già ở thôn
Chúng Trải xã Phố Là cho biết, ngày trước, làm lễ ma cho người chết rất tốn
kém, phải mổ nhiều trâu, bò, lợn, gà. Đồng bào thường để người chết trong nhà
nhiều ngày với quan niệm như thế thì người chết mới đem phúc về cho người
sống. sau khi chôn cất xong phải tiến hành làm lễ cúng ma khô (lễ chay). Lễ
chay mới thực sự tốn kém, trong lễ này người ta mổ cả vài con trâu, bò và
nhiều lợn, gà cúng bái, ăn uống trong nhiều ngày những gia đình nghèo thì phải
đi vay mượn trong họ và sau đó phải trả nợ, có gia đình trả nợ trong nhiều năm.
Vì thế mà giai đoạn trước năm 1986 đời sống của đồng bào luôn trong tình
trạng thiếu lương thực, ngô là món ăn chính trong những tháng giáp hạt phải ăn
độn thêm cả khoai, sắn chỉ có lễ Tết mới ăn cơm trắng.
Mặc dù được coi là tộc người có mặt sớm nhất trên cao nguyên đá
Đồng Văn này nhưng do đặc thù dân số quá ít tộc người Pu Péo ở huyện
Đồng Văn không có làng bản riêng của mình mà đồng bào ở lẻ tẻ xen cư với

16Biểu 1.2; Danh sách các hộ Pu Péo còn nhiều khó khăn
STT Địa bàn
thôn, xã
Số hộ
chưa có
đường
Số hộ chưa
có điện
Số hộ chưa
có nước
sạch
Số hộ
chưa có
nhà
Số hộ
nghèo
1 Ma Lé 1
2 Phố Cáo 8 8 8
3 Phố Bảng 10 10
4 Phố Là 3
Tổng

8 1 18 0 21
Nguồn: Phòng văn hóa dân tộc huyện Đồng Văn (năm 2011)
tốt công tác vận động tuyên truyền, nên ngày nay ở các thôn bản của người Pu
Péo khi có người ốm hay sinh đẻ đồng bào không còn mời thày cúng về chũa
bệnh nữa mà đưa ra trạm y tế xã hay bệnh viện huyện. Các xã đều có điểm bưu
điện văn hóa xã.
Trước năm 1986, đa số người Pu Péo không biết chữ, thậm chí con gái
không được đi học, thì ngày nay con cái của đồng bào trong độ tuổi đều đi học,
có nhiều em đã học ở nhiều trường dân tộc nội trú huyện, tỉnh, trường Vùng
cao Việt Bắc, các trường đại học, cao đẳng. Điển hình như gia đình ông Tráng
Mìn Tề ở thôn Chúng Trải có 3 người con, thì cả 3 người con đều đang học đại
học ở Hà Nội. Nhiều con, em của người Pu Péo trở thành những cán bộ hiện
đang công tác tại huyện nhà.
Nhìn chung giai đoạn 1986 – 2012 cuộc sống của đồng bào Pu Péo ở
huyện Đồng Văn có nhiều nét chuyển biến rất quan trọng. Đồng bào không còn
chặt phá rừng nữa mà ngược lại bảo vệ rừng tốt hơn so với nhiều tộc người
khác cùng chung sống trong địa bàn, cuộc sống không còn phụ thuộc nhiều vào
thiên nhiên nữa, cuộc sống tự cấp tự túc trước kia dần bị phá vỡ thay vào đó đã
xuất hiện mô hình sản xuất gắn với kinh tế hàng hóa, nhiều hộ gia đình người

Trích đoạn Buôn bán Khai thác nguồn tài nguyên Trang phục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status