Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM NGUYỄN VĂN CHIẾN TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA NGƢỜI SÁN
DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN
( 1945 – 2010) LUẬN VĂN LỊCH SỬ VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2 THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
NGUYỄN VĂN CHIẾN TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA
CỦA NGƢỜISÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN (1945 – 2010)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN LỊCH SỬ VIỆT NAM Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Nguyễn Cảnh Minh
2. TS. Nguyễn Thị Quế Loan THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn Bảo tàng văn hóa
Dân tộc tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ các cấp chính
quyền xã An Khánh, Quân Chu, cùng nhân dân hai xã trên đã tạo điều kiện,
cung cấp nguồn tư liệu cho tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa
sử trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, đặc biệt là sự tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn của thầy Nguyễn Cảnh Minh và cô Nguyễn Thị Quế Loan đã giúp
tôi hoàn thành luận văn này!
NGƢỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ, THÁI NGUYÊN (1945 - 2010). 50
3.1. Văn hóa vật chất 50
3.2. Văn hóa tinh thần 67
Tiểu kết chương 3 100
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 113
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6 DANH MỤC CÁC BIỂU
Trang
Biểu 1.1. Các dân tộc ở huyện Đại Từ 14
Biểu 1.2. Bảng so sánh ngôn ngữ tiếng dân tộc 19
kiến) không chỉ để chỉ người Dao mà còn để chỉ dân tộc khác. Đáng chú ý
nhóm Sơn Man cũng chính là người Sán Dìu chúng ta cần nói tới.
Nếu như Sơn Man là Sơn Dao hay người Sán Dìu thì người Sán Dìu có
mặt trên đất nước Việt Nam trước khi cuốn sách đó ra đời, khoảng trên dưới
300 năm nay. Họ qua Quảng Ninh vào Hà Bắc rồi ngược Tuyên Quang rồi
dừng ở đó. Trong sách Bùi Đình cũng viết “quần cộc từ Quảng Đông di cư
đến nước ta khoảng ba bốn mươi năm nay, còn có tên là Sơn Dao. Họ sống rải
rác khắp chu vi đồng bằng trong các vùng Đầm Hà, Hà Cối, Quảng Yên, Phủ
Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang. Lác đác ngoài các hải
đảo trong vịnh Bắc Việt như Kẻ Bào, Cát Bà cũng có”[7, tr.106].
Như vậy chúng ta thấy người Sán Dìu có mặt ở Việt Nam khoảng 300
năm, là một thành viên gia nhập cộng đồng các dân tộc Việt Nam còn khá trẻ,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
nhưng họ đã xây dựng được cho mình tổ chức xã hội của riêng họ và một nền
văn hóa riêng biệt. Mặc dù trong quá trình sinh sống ảnh hưởng của văn hóa
dân tộc khác đối với dân tộc Sán Dìu có sự giao thoa.
Là một trong 8 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, cũng
giống như các dân tộc khác, dân tộc Sán Dìu có lịch sử đấu tranh anh dũng và
đã tạo dựng được cho mình một một nền văn hóa độc đáo. Tuy nhiên trong
quá trình tồn tại của mình dân tộc Sán Dìu cũng giống như dân tộc khác đều
chịu sự chi phối của khu vực văn hóa lịch sử, sống cộng đồng với các dân tộc
khác, cho nên dân tộc Sán Dìu đã có sự tiếp xúc, giao thoa và ảnh hưởng văn
hóa của các dân tộc khác không thể tránh khỏi. Nhất là trong những năm 60
của thế kỷ XX, trong cuộc phát động của Trung ương Đảng, nhiều cuộc di
cư của người Việt đi xây dựng các vùng kinh tế mới. Người Việt lên Thái
Nguyên làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, lâm trường, trường
xã hội có giai cấp và nhà nước. Đó là một xã hội hoàn chỉnh nhất trong lịch sử
xã hội loài người. Cùng với sự hình thành tổ chức xã hội, văn hóa cũng được
hình thành và phát triển. Vậy “Văn hóa là tổng thế những giá trị vật chất và
giá trị tinh thần mà con người sáng tạo ra trong một giai đoạn lịch sử nhất
định”. Như vậy cùng sự hình thành các tổ chức xã hội, đời sống văn hóa con
người ngày càng được nâng cao. Thời cổ đại mặc dù đời sống vật chất còn
thấp kém con người tạo dựng cho mình những công trình văn hóa vĩ đại, tháp
Ai Cập, vườn cheo Ba-bi-lon, tháp Pi-za, đấu trường Rô-ma…cùng với nó là
các công trình khoa học, toán, lý, lịch sử, triết học văn học, truyền thuyết,
nghệ thuật…nó phản ánh phong phú, đa dạng đời sống vật chất và tinh thần
của con người. Đến thời cận đại và hiện đại thành tựu văn hóa đó được kế
thừa và phát huy.
Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ dựng nước ông cha ta tạo dựng cho mình
nhà nước đầu tiên trong lịch sử - nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, cùng với nó là
một nền văn hóa độc đáo mang đậm tính dân tộc của người Việt cổ. Trải qua
hàng ngàn năm Bắc thuộc bản sắc văn hóa đó vẫn được gìn giữ và bảo lưu ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
tổ chức xã hội ở làng xã. Bước vào thời kỳ độc lập, lãnh thổ Đại Việt không
ngừng mở rộng về phía Bắc và phía Nam. Nhiều dân tộc thiểu số sáp nhập
vào dân tộc Việt tạo nên một ngôi nhà chung của đại gia đình các dân tộc Việt
Nam. Mỗi tộc người đã hình những nhóm tổ chức xã hội và một nền văn hóa
độc đáo. Sự phong phú đa dạng của văn hóa các tộc người góp phần đa dạng
kho tàng văn hóa Việt Nam.
Dân tộc Sán Dìu cũng như bao dân tộc khác, gia nhập đại gia đình dân
tộc Việt Nam còn khá trẻ (khoảng 300 năm), nhưng họ khẳng định được chỗ
đứng của mình trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trước đây đã có nhiều
được đề cập đến một cách khái quát.
Với một quốc gia đa dân tộc, việc nghiên cứu tổ chức xã hội và đời sống
văn hóa của các dân tộc, trong đó có dân tộc Sán Dìu có ý nghĩa quan trọng
góp phần làm phong phú thêm sự hiểu biết về xã hội và văn hóa của các tộc
người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Những công trình nghiên cứu trên
được đánh giá cao, đây là những nguồn tư liệu quý để chúng tôi tiếp tục
nghiên cứu đề tài này. Việc lựa chọn đề tài “Tổ chức xã hội và văn hóa của
Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 dến năm 2010”
sẽ đóng góp cho bạn đọc cái nhìn mới về quan niệm tổ chức xã hội và văn hóa
của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Từ đó có thái độ
trân trọng gìn giữ, phát huy nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc Sán Dìu
ở Việt Nam.
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Tìm hiểu tổ chức xã hội và văn hóa của dân tộc Sán Dìu ở huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên thể hiện ở sự hình thành tổ chức xã hội và những nét
đẹp về đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, từ đó thấy được những
đặc trưng về xã hội và văn hoá của người Sán Dìu ở Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
- Thấy được vai trò và tác động của những tổ chức xã hội đối với đời
sống vật chất và tinh thần của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Thời gian: Nghiên cứu về tổ chức xã hội và văn hóa của người Sán Dìu
huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 2010.
người cao tuổi ở nơi điền dã …khôi phục lại bức tranh tổ chức xã hội, văn hóa
người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. .
+ Phương pháp so sánh: Đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng,
những nét khác biệt về tổ chức xã hội và văn hóa của dân tộc Sán Dìu với các
dân tộc khác. Qua so sánh thấy được được những đặc trưng cơ bản về tổ chức
xã hội và văn hóa của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
+ Phương pháp điền dã: Trong quá trình đi thực địa ở An Khánh, Cù
Vân, Quân Chu… chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn, quan sát, kết
hợp với ghi âm, chụp ảnh để thu thập các tư liệu phục vụ cho đề tài.
+ Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp liên ngành và đa ngành
phương pháp dân tộc học… rút ra thông tin cần thiết phục vụ cho luận văn.
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn là một công trình nghiên cứu, biên soạn một cách có hệ thống
và đầy đủ về tổ chức xã hội và đời sống văn hóa của người Sán Dìu ở huyện
Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 2010.
- Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện tổ chức xã hội và đời sống
văn hóa của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, luận văn rút ra
đặc điểm và những chuyển biến về văn hóa từ năm 1986 đến năm 2010, qua
đó thấy được những đóng góp của họ đối với xã hội và văn hóa dân tộc Việt
Nam, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết và gìn giữ bản sắc dân tộc trong
giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, theo đúng tinh thần của nghị quyết Trung
ương V, khóa VIII của Đảng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
- Về tư liệu: Việc nghiên cứu thành công luận văn góp phần vào việc
đóng góp nguồn tư liệu để biên soạn và nghiên cứu lịch sử địa phương.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
KHÁI QUÁT VỀ NGƢỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI
NGUYÊN TRƢỚC NĂM 1945
1.1. Khái quát về huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
1.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Đại Từ nằm trong tọa độ từ 21
0
30 đến 21
0
50 vĩ độ bắc và từ
105
0
32 đến 105
0
42 độ kinh đông. Huyện Đại từ nằm ở phía tây nam tỉnh Thái
Nguyên, phía bắc giáp huyện Định Hóa và Phú Lương, phía đông giáp thành
phố Thái Nguyên, phía nam giáp huyện phổ Yên. Dãy núi Tam Đảo chạy theo
hướng tây bắc - đông nam là địa giới tự nhiên của huyện Đại Từ và cũng là
của các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Cạn.
Huyện Đại Từ có diện tích tự nhiên 577,99 km
2
, (trong đó, diện tích đất
nông nghiệp là 166,01km
2
, đất lâm nghiệp 278,15km
2
, đất nuôi trồng thuỷ sản
6,51km
2
, đất phi nông nghiệp 84,38km
2
30
0
. Dải núi Chúa ở vùng phía bắc huyện được cấu tạo bằng đá Gabrô có màu
hơi thẫm. Dải núi Pháo nằm ở địa bàn xã Cù Vân có đỉnh cao 434 m.
Đại Từ có khá nhiều sông suối nhỏ, trong đó sông Công là lớn nhất, bắt
nguồn từ Định Hoá, chảy dọc suốt từ bắc xuống nam huyện. Đoạn sông Công
chảy qua Đại Từ bắt đầu từ xã Minh Tiến qua các xã Phú Cường, Phú Thịnh,
Bản Ngoại, Tiên Hội, thị trấn Đại Từ, xuống các xã Hùng Sơn, Tân Thái, dài
gần 24 km rồi đổ vào hồ Núi Cốc. Sông Công và nhiều suối nhỏ chảy quanh
các triền khe, chân đồi, ven các xóm ở các xã Yên Lãng, Phú Xuyên, La
Bằng, Quân Chu, Cát Nê, Ký Phú, Văn Yên vv… là nguồn nước chủ yếu
phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong huyện. Đại Từ có
nhiều hồ, đập, sông, xuối… phần hạ lưu qua thị trấn Sông Công, huyện Phổ
Yên rồi gặp sông Cầu ở ngã ba Đa Phúc
Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân từ 22
0
C - 27
0
C, lượng
mưa trung bình từ 1.700 - 1.800 mm/năm, độ ẩm trung bình 70% - 80%.
Nhiệt độ cao nhất trong tháng 6 (32°C), lạnh nhất trong tháng 1 (11°C).
Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.890 ha, trong đó đất
nông nghiệp chiếm 26,87%; đất lâm nghiệp chiếm 45,13%; còn lại là đất phi
nông nghiệp chiếm 28%. Trong tổng diện tích hiện có thì diện tích đất chưa
sử dụng chiếm 17,35%, chủ yếu là đất đồi núi và sông suối. Trên địa bàn
huyện đất được hình thành bởi 8 nhóm, trong đó có 4 nhóm đất chính là: Đất
xám mùn trên núi có: 16.400 ha chiếm tỷ lệ 28,37%. Đất Feralit phát triển
trên đá biến chất: 15.107 ha chiếm 26,14 %. Đất Feralit phát triển trên phù sa
cổ: 1.3036 ha chiếm 22,55 %. Đất phù sa Gley phát triển trên phù sa cổ:
mỏ [10, tr.106].
1.1.2. Lịch sử hình thành và sự thay đổi về địa giới hành chính
Huyện Đại Từ được đặt tên từ thời nhà Trần. Sách Thiên hạ lợi bệnh
toàn tập chép: “Năm Vĩnh Lạc thứ 17 (1419)…dồn huyện Tư Nông vào
huyện An Định; huyện Phú Lương, huyện Đại Từ vào huyện Tuyên Hoá”.
Tên huyện Đại Từ có từ lâu, sách “Dư Địa chí” của Nguyễn Trãi viết: “Đại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
Từ là một trong 8 huyện (Đại Từ, Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Phú Lương,
Vũ Nhai, Thái Nguyên, Bình Tuyên) của phủ Phú Bình thuộc thừa tuyên Ninh
Sóc”. Huyện thuộc phủ Thái Nguyên thời thuộc Minh, đời Nguyễn thuộc phủ
Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Đầu nhà Lê, huyện Đại Từ thuộc phủ Thái
Nguyên, năm 1466 thuộc thừa tuyên Thái Nguyên, năm 1469 thuộc thừa
tuyên Ninh Sóc, năm 1490 thừa tuyên Ninh Sóc đổi lại là xứ Thái Nguyên,
Đại Từ thuộc xứ Thái Nguyên, toàn huyện có 22 xã, trang.
Từ thời Tây Sơn đến đầu thời Nguyễn, hai huyện Đại Từ và Văn Lãng
thuộc phủ Phú Bình (trấn Thái Nguyên, sau là tỉnh Thái Nguyên). Năm 1835,
nhà Nguyễn cắt châu Định (Định Hoá) và 3 huyện Đại Từ, Văn Lãng, Phú
Lương khỏi phủ Phú Bình để lập phủ Tòng Hóa. Thời vua Đồng Khánh
(1886-1889), huyện Đại Từ có 7 tổng, gồm 28 xã, trang, phòng; huyện Văn
Lãng có 7 tổng, gồm 12 xã, trang. Năm Khải Định thứ 6 (1922), nhà Nguyễn
huyện Văn Lãng gộp vào huyện Đại Từ thành huyện Đại Từ gồm 9 tổng, 38
xã.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng không
tồn tại. các xã, làng, xóm ở Đại Từ có nhiều biến động do việc phân chia địa
giới hành chính và đặt tên mới cho phù hợp. Năm 1965, Thái Nguyên sáp
nhập với Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, Đại Từ thành huyện của tỉnh Bắc
sách bình định phong trào đấu tranh, áp đặt bộ máy cai trị ở Thái Nguyên. Từ
năm 1886-1889, thực dân Pháp cùng triều đình nhà Nguyễn chia lại bộ máy
hành chính Thái Nguyên. Trong đó huyện Đại Từ gồm có 7 tổng, chia làm 28
xã, trang, phờng. Huyện Văn Lãng có 7 tổng, được chia 12 xã, trang. Năm
Khải Định thứ 6 (1922), Pháp cùng triều Nguyễn sáp nhập huyện Văn Lãng
vào huyện Đại Từ thành huyện Đại Từ gồm 9 tổng, 38 xã [10, tr.106].
Về kinh tế: Cùng với việc áp đặt bộ máy cai trị, thực dân Pháp ra sức áp
bức bóc lột nhân dân các dân tộc Đại Từ. Chúng đặt ra nhiều thứ thuế, thuế
đinh, thuế điền và nhiều thư thuế vô lý khác. Chúng trắng trợn hơn cướp đoạt
ruộng đất của nông dân để lập ra những đồn điền rộng lớn. Tiêu biểu đồn điền
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
Képpler vốn thuộc làng Hà xã An Khánh do Lí trưởng tên là Lý Tanh cai
quản. Chúng bắt nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ làm việc trong các đồn
điền. Người nông dân phải làm việc vất vả, khổ cực dưới làn doi vọt của
chúng. Đời sống của đồng bào dân tộc Sán Dìu vô cùng cực khổ. Bên cạnh
những đồn điền rộng lớn, thực dân Pháp duy trì phương thức bóc lột phong
kiến cổ truyền, ruộng đất ngày càng tập trung trong tay địa chủ người Pháp,
địa chủ người Việt. bóc lột theo kiểu địa tô phong kiến. Các dân tộc huyện
Đại Từ bị áp bức bóc lột đến cùng cực. Xã hội bị phân hóa sâu sắc, người
nông dân bị bần cùng hóa phải đị làm thuê trong các đồn điền, các máy, hầm
mỏ, một bộ phận quay lại làm thuê mảnh đất trước kia là mảnh đất của mình,
trở thành tầng lớp tá điền.
Cùng với chính sách trong nông nghiệp, thực dân Pháp đẩy mạnh khai
thác mỏ, Đại Từ vốn là vùng đất giầu tài nguyên khoáng sản Pháp cho tiến
hành khai thác mỏ than Núi Hồng, Phấn Mễ lối khai thác theo kiểu cổ
truyền, bắt công nhân làm việc cực nhọc trong các hầm mỏ với đồng lương rẻ
10 năm (1999-2009) dân số huyện giảm 2900 người do có nhiều người di
chuyển đi nơi khác.
Biểu 1.1. Thành phần dân tộc ở Đại Từ
Thành phần dân tộc
Số dân
Tỉ lệ %
Kinh
116.606
73%
Tày
15.570
9,7%
Nùng
12.604
7,9%
Dao
4.152
2,6%
Sán Chay
6.750
4,2%
Sán Dìu
3.270
2,0%
Mường
153
0,09%
Hoa
176
0,1%
tảng đá vân mây trắng hình trụ, chóp nhọn, cao hơn 3m, rộng gần 3m, nặng
gần 7 tấn. Nơi đây ngày 27/7/1947, 300 cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng
lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố thư Bác Hồ, ghi nhận sự ra
đời ngày Thương binh liệt sỹ ở nước ta. Ba là, 11 xã được nhà nước công
nhận là xã ATK (an toàn khu) trong kháng chiến chống Pháp. Bốn là, núi
Văn, núi Võ, nằm dưới chân núi Tam Đảo thuộc 2 xã Văn Yên - Ký Phú, cách
khu du lịch hồ Núi Cốc 15km về phía tây bắc. Một di tích gắn với tên tuổi và
quê hương vị danh tướng Lưu Nhân Chú với những đóng góp to lớn cho cuộc
kháng chiến chống giặc Minh thế kỷ XV và triều đại nhà Lê. Ông đã từng dự
thề Lũng Nhai năm 1416 kết nghĩa anh em với Lê Lợi. Những năm 1425 -
1426 Lưu Nhân Chú chỉ huy nhiều cuộc khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
chiến tích năm 1427 tại ải Chi Lăng chém tướng giặc Liễu Thăng đánh tan 10
vạn quân viện binh. Chính bản thân ông đã làm sứ giả đàm phán buộc Vương
Thông rút quân về nước để nước Đại Việt được thái bình. Năm 1485, vua Lê
Thánh Tông đã truy phong ông tước “Thái phó vinh quốc công’’. Khu di tích
núi Văn, núi Võ được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia. Dấu tích cùng với
truyền thuyết đẹp gắn với danh tướng Lưu Nhân Chú và đội nghĩa binh của
ông [10, tr.106].
Huyện Đại Từ là một trong những địa phương có cơ sở Đảng ra đời sớm
nhất tỉnh Thái Nguyên. Từ nửa cuối thập kỷ 30 (thế kỷ XX), nơi đây đã có
phong trào cách mạng khá phát triển. Trải qua thực tiễn đấu tranh chống đế
quốc, phong kiến, trong thời kỳ vận động dân chủ (1936-1939) và nhất là
trong những năm hoạt động bí mật (1939-1945), cán bộ nhân dân các dân tộc
được rèn luyện nhiều mặt. Chính vì lẽ đó, ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp
(9-3-1945), dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Cứu quốc, các cuộc khởi nghĩa
Nam muộn hơn so với dân tộc khác. Trong quá trình tồn tại người Sán Dìu
trải qua nhiều khó khăn gian khổ, nhưng do cần cù lao động, đầu óc sáng tạo,
dân tộc Sán Dìu tạo dựng cho mình được cuộc sống vững vàng.
Trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” Lê Quý Đôn (1723 – 1782), đề cập
đến địa bàn người Sán Dìu cư trú. Trong bảy chủng tộc của người Man
(Thống kê thực chất là 8 chủng tộc Man) sống ở Tuyên Quang mà Lê Quý
Đôn đề cập đến, tên Man ở đây (thời phong kiến) không chỉ để chỉ người Dao
mà còn để chỉ dân tộc khác. Đáng chú ý nhóm Sơn Man cũng chính là người
Sán Dìu chúng ta cần nói tới.
Nếu như Sơn Man là Sơn Dao hay người Sán Dìu thì người Sán Dìu có
mặt trên đất nước Việt Nam trước khi cuốn sách đó ra đời, khoảng trên dưới
300 năm nay. Họ qua Quảng Ninh vào Bắc Giang (hiện nay) rồi ngược Tuyên
Quang rồi dừng ở đó. Trong sách Bùi Đình cũng viết: “quần cộc từ Quảng
Đông di cư đến nước ta khoảng ba bốn mươi năm nay, còn có tên là Sơn Dao.
Họ sống rải rác khắp chu vi đồng bằng trong các vùng Đầm Hà, Hà Cối,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
Quảng Yên, Phủ Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang. Lác
đác ngoài các hải đảo trong vịnh Bắc Việt như Kẻ Bào, Cát Bà cũng có”
Địa bàn: Dân tộc Sán Dìu là một dân tộc thiểu số, sống ở miền Bắc
nước ta. Họ cư trú ven các triền núi thấp, trên các đồi gò thuộc các tỉnh Quảng
Ninh. Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc,
Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang. Một bộ phận di cư vào
Thanh Hóa, họ sống xen kẽ với người Việt, Tày, Nùng, Dao, Hoa có tổ chức
xóm làng riêng.
Tên gọi: Từ lâu người Sán Dìu đã có tên tự nhận là Sán Déo Nhín, theo
âm Hán – Việt, tức là Sơn Dao Nhân, tức là người Dao trên núi. Nhưng các