Đời sống kinh tế của người sán dìu ở Huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (1945 đến 2010) - Pdf 24


ĐẠI HỌC THÁI NGUN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TẠ THỊ LIÊN
ĐỜI SỐNG KINH TẾ
CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUN (1945 - 2010) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐỜI SỐNG KINH TẾ
CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUN (1945 - 2010) Chun ngành : Lịch sử Việt Nam
Mã số : 60.22.03.13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học : 1. PGS.TS Nguyễn Cảnh Minh
2. TS. Nguyễn Thị Quế Loan

Thái Ngun – 2013

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan cơng trình nghiên cứu: “Đời sống kinh tế của người
Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Ngun (1945 – 2010)” dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Nguyễn Cảnh Minh và TS Nguyễn Thị Quế Loan là kết quả
nghiên cứu của cá nhân tơi, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực,
chưa được cơng bố.

Người thực hiện Tạ Thị Liên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
iiiMỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. KHÁI QT VỀ HUYỆN ĐỒNG HỶ VÀ NGƯỜI SÁN DÌU
Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUN 7
1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên 7
1.2. Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội 11
1.3. Khái qt về người Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Ngun 14
1.3.1. Nguồn gốc tộc người 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
ivDANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Viết là Đọc là
HĐND Hội đồng nhân dân
HTX Hợp tác xã
KHXH Khoa học xã hội
Nxb Nhà xuất bản
PGS Phó giáo sư
TL Tài liệu
TS Tiến sĩ
TT Thứ tự
tr trang
UBND Ủy ban nhân dân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam có
q trình di cư tới Việt Nam từ hàng trăm năm trước do những biến cố lịch
sử. Sau những năm định cư, chung sống với các dân tộc anh em khác, họ đã
góp phần xây dựng nên hình ảnh một quốc gia với cộng đồng 54 dân tộc và
nền văn hóa đa dạng.
Dân tộc Sán Dìu cũng giống như các dân tộc Sán Chay, Dao, Hoa… có
nguồn gốc từ miền nam Trung Quốc thiên di sang Việt Nam từ hàng trăm

Trong sách này, tác giả đã nghiên cứu khái qt về tổ chức xã hội, văn hóa vật
chất và văn hóa tinh thần của người Sán Dìu (nhà ở, trang phục, ăn uống, quan
niệm về hơn nhân và gia đình, một số tục lệ trong đời sống…) ở Việt Nam.
- Cuốn “Văn hóa truyền thống của các dân tộc Tày, Dao, Sán
Dìu ở Tun Quang” (2003) do Nịnh Văn Độ chủ biên và cuốn “Dân tộc Sán
Dìu ở Bắc Giang” (2003) Ngơ Văn Trụ - Nguyễn Xn Cần chủ biên. Các tác
giả đã đi vào tìm hiểu đời sống vật chất và tinh thần của người Sán Dìu ở
Tun Quang và Bắc Giang, hai địa phương có dân số người Sán Dìu khá
đơng trên cả nước.
- Cuốn “Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Đăng Duy (2004). Tác phẩm lần lượt trình bày văn hóa các dân
tộc theo nhóm ngơn ngữ. Dân tộc Sán Dìu nằm trong phần Bảy – Văn hố các
dân tộc nhóm ngơn ngữ Hán, trong đó gồm các nội dung: Văn hóa sản xuất,
văn hóa tổ chức đời sống, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần.
- Tác phẩm “Phong tục nghi lễ chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt
Nam” của tác giả Diệp Trung Bình (2005) đã khái qt đơi nét về người Sán
Dìu và đi sâu vào những nghi lễ đời người từ khi sinh ra đến khi chết đi.
- Nghiên cứu về người Sán Dìu ở Thái Ngun phải kể đến Luận án Tiến
sĩ “Tập qn ăn uống của người Sán Dìu ở Thái Ngun” (2008), trong đó tác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
3

giả đã đề cập tới nhiều khía cạnh văn hóa liên quan đến tập qn ăn uống của
đồng bào và những biến đổi của nó.

- Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn “Khảo sát loại hình hát soọng cơ của
dân tộc Sán Dìu ở Thái Ngun và Tun Quang” (2011) của Nguyễn Thị Mai
Phương. Ngồi khảo sát về người Sán Dìu và loại hình hát soọng cơ ở địa bàn
nghiên cứu, tác giả tìm hiểu về giá trị nội dung, nghệ thuật và vấn đề bảo tồn.


Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hoạt động kinh tế của người Sán
Dìu ở huyện Đồng Hỷ trong giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945
cho đến năm 2010.

3.2. Nhiệm vụ

- Phân tích đặc điểm mơi trường tự nhiên và xã hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Ngun.

- Tìm hiểu thành phần dân cư, dân tộc, các truyền thống lịch sử q báu
của nhân dân các dân tộc Đồng Hỷ.

- Điều tra, tìm hiểu những đặc điểm hoạt động kinh tế trong cộng đồng
người Sán Dìu tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Ngun trong thời kỳ 1945 – 2010.

3.3. Phạm vi

- Khơng gian: Những địa bàn sinh sống tập trung người Sán Dìu như:
Nam Hòa, Linh Sơn, Minh Lập, Hóa Trung, Hóa Thượng.

- Thời gian: 1945 – 2010
- Nội dung nghiên cứu: Đời sống kinh tế của người Sán Dìu
4. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu về đời sống kinh tế của người Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Ngun giai đoạn 1945 – 2010. Qua đó thấy được sự chuyển biến trong
đời sống của người Sán Dìu ở địa phương này.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1. Nguồn tài liệu:
Tài liệu thành văn: Các sách, các bài báo, tạp chí…

7. Bố cục của luận văn

Ngồi phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được
chia thành ba chương:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
6

Chương 1. Khái qt về huyện Đồng Hỷ và người Sán Dìu ở huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Ngun

Chương 2. Đời sống kinh tế của người Sán Dìu huyện Đồng Hỷ, tỉnh
Thái Ngun (1945 - 1986)

Chương 3. Biến đổi trong đời sống kinh tế của người Sán Dìu huyện
Đồng Hỷ, tỉnh Thái Ngun (1986 – 2010)Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
7

Chương 1
KHÁI QT VỀ HUYỆN ĐỒNG HỶ VÀ NGƯỜI SÁN DÌU
Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUN
1.1. Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên
Đồng Hỷ là một huyện miền núi cách trung tâm thành phố Thái Ngun
3km về phía Đơng Bắc. Địa phận của huyện dài từ 21
o
32’ đến 21
o

tạo ra cho địa phương có thế mạnh phát triển nơng nghiệp và lâm nghiệp.
Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 520,59 km
2
. Trong đó đất lâm nghiệp
chiếm 50,8%, đất nơng nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các cơng
trình cơng cộng 3,2% và đất chưa sử dụng chiếm 25,7%.
Núi Chùa Hang – xưa còn gọi là núi đá Hố Trung, núi Long Tuyền nằm trên
đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay. Chùa Hang là một trong những
danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Ngun. Núi Voi, còn có tên là núi Thạch
Tượng, núi Tượng Lĩnh ở xã Hố Thượng. Thế núi hiểm trở, giống hình con voi.
Cuối thế kỷ XVI, nhà Mạc lấy núi làm căn cứ chống quan qn nhà Lê – Trịnh.
Đồng Hỷ cũng như các địa phương khác của Thái Ngun đều mang những
đặc điểm của khí hậu miền Bắc nước ta. Sách Đại Nam nhất thống chí chép:
"Các huyện Tư Nơng, Đồng Hỷ, Phú Lương, Bình Xun khí hậu lam chướng
hơi nhẹ" [25, tr. 163]. Khí hậu ở địa phương được chia làm 02 mùa rõ rệt (mùa
nóng từ tháng 4 đến tháng 10; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau).
Tháng 7 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm. Ngược lại, tháng 1
là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 –
23 độ C. Ở các vùng đồi núi cao khoảng 600 m trị số này giảm xuống 20 độ C và
từ 900 – 1000 m trở lên nhiệt độ trung bình năm chỉ còn từ 18 độ C trở xuống.
Hàng năm có 3 tháng (từ tháng 12 đến tháng 2) nhiệt độ trung bình dưới 18 độ C
(ở các vùng đồi núi từ 400 m trở lên có thể có tới 5 tháng).
Tháng 1 là tháng lạnh nhất, nhiệt độ trung bình khoảng 15 – 16 độ C ở
vùng thấp; ở vùng núi là dưới 9 độ C. Mùa lạnh ở Thái Ngun dài hơn các
tỉnh đồng bằng Bắc Bộ 10 – 15 ngày, các huyện miền núi dài hơn các huyện
miền xi 5 – 7 ngày. Những đợt khơng khí lạnh tràn về làm nhiều ngày nhiệt
độ trung bình xuống dưới 15 độ C. Ba tháng nhiệt độ lạnh nhất trong năm là
tháng 12, 1, 2 nhiệt độ trung bình dưới 17 độ C. Mùa đơng nhiệt độ đã thấp lại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
10

km, đường xã 170 km và đường liên xóm 403,9 km. Hầu hết đường liên xã,
liên xóm đều được bê tơng hóa. Điều đó tạo thuận lợi cho huyện có thể giao
lưu văn hố, thương mại với các huyện và tỉnh lân cận.
Đồng Hỷ nằm trong vùng sinh khống Đơng Bắc Việt Nam, tài ngun
thiên nhiên khống sản rất phong phú. Sách "Đại Nam nhất thống chí" có ghi
"Mỏ vàng Bảo Nang mỗi năm nộp thuế 6 lạng. Sắt ở các huyện Phổ n,
Đồng Hỷ, Phú Lương Mỏ Bảo Nang mỗi năm nộp thuế 2.500 cân" [25, tr.
180]. Cụm mỏ sắt Trại Cau có khối lượng khoảng 20 triệu tấn, là mỏ sắt được
sắp xếp vào loại tốt nhất. Ngồi ra, còn có các loại khống sản có giá trị như:
chì, kẽm ở làng Hích, làng Mới, đá vơi ở Hóa Thượng v.v…
Là huyện miền núi nên từ xa xưa, đồi rừng Đồng Hỷ có rất nhiều tre, nứa,
gỗ q, chim thú q hiếm. "Cỏ tranh, lá cọ, các loại mây, hậu phát, sa nhân,
tre nứa, tre gai, tre hoa, gỗ lim, gỗ sến, gỗ đinh, gỗ tấu, gỗ xoan các thứ ở trên
đều sản ở các châu: Đồng Hỷ, Phổ n, Phú Lương" [25, tr. 180 – 181]. Hiện
nay, do đặc trưng địa hình đồi núi và khí hậu nhiệt đới gió mùa nên địa phương
có điều kiện phát triển nơng nghiệp và lâm nghiệp. Ngành nơng nghiệp của
huyện Đồng Hỷ chủ yếu là trồng trọt, chăn ni nằm ở vị trí thứ yếu. Diện tích
lâm nghiệp của địa phương chỉ tập trung các loại rừng tái sinh, ít gỗ q hiếm,
diện tích rừng chỉ có ý nghĩa trong việc sử dụng làm đồ sinh hoạt gia đình và
làm nhà. Diện tích rừng đầu nguồn thường xun bị xâm phạm do khai thác gỗ,
củi bừa bãi và việc đốt nương làm rẫy vẫn chưa được ngăn chặn triệt để làm
cho đất trống, đồi trọc vẫn còn một diện tích khơng nhỏ.
Đất rừng, đồi núi của huyện Đồng Hỷ chiếm 85% diện tích tự nhiên. Phần lớn
rừng bị nghèo kiệt. Tốc độ tăng trưởng ngành lâm nghiệp từ năm 1991 đến 1998
giảm bình qn 4,7% do rừng đang ở thời kỳ phục hồi và chủ trương đóng cửa
rừng của Nhà nước. Trong những năm gần đây, thực hiện chủ trương của Đảng và
Nhà nước người dân đã ý thức được mối nguy hại của nạn phá rừng, phong trào

tạo thêm nghề mới, sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu thị trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
12

Năm 2009 trên địa bàn huyện có 84 doanh nghiệp, giá trị sản xuất cơng
nghiệp – xây dựng đạt 714 tỉ đồng, chiếm 36,78% tổng giá trị thu nhập quốc
dân tồn huyện [34, tr. 1].
Tỉ trọng giá trị sản xuất cơng nghiệp, thủ cơng nghiệp tăng từ 25,5% năm
2000 lên 34,7% năm 2006 đưa cơ cấu kinh tế của huyện từ “nơng – lâm
nghiệp – cơng nghiệp – dịch vụ” (năm 2000) sang cơ cấu “cơng nghiệp – tiểu
thủ cơng nghiệp – nơng lâm nghiệp – dịch vụ” (năm 2006) với tỉ lệ tương ứng
36,9% - 24, 0% và 39,1%. Tốc độ tăng trưởng bình qn thời kỳ 2002 – 2006
của ngành cơng nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp đạt 17,4%/năm.
Nơng nghiệp
Nơng nghiệp là một trong hai ngành sản xuất chính của huyện Đồng Hỷ.
Từ khi thực hiện đổi mới cơ chế quản lý nơng nghiệp, nhất là từ năm 1991
đến nay, sản xuất nơng nghiệp của huyện có bước phát triển vượt bậc. Huyện
đã tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật ni, chuyển đổi mùa
vụ, xóa bỏ độc canh, tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hóa.
Trong sản xuất nơng nghiệp đã đẩy mạnh việc áp dụng tiến bộ khoa
học – kỹ thuật vào trồng trọt và chăn ni, đưa các loại giống mới vào sản
xuất đại trà, nâng hệ số sử dụng đất, do đó trong thập niên cuối của thế kỷ
XX và những năm đầu thế kỷ XXI, tốc độ tăng trưởng nơng nghiệp của
huyện Đồng Hỷ ổn định bình qn 5,2% mỗi năm. Năng suất cây trồng
tăng dần đều. Riêng lúa năm 1991 đạt 14,2 tạ/ha lên 42,58 tạ/ha năm 2005
(tăng hơn 3 lần) đưa tổng sản lượng lương thực tăng từ 24.118 tấn năm
1998 lên 37.274 tấn năm 2006, sản lượng lương thực từ năm 1998 đến năm
2006 bình qn mỗi năm tăng trên 1.800 tấn. Bình qn lương thực xấp xỉ
300kg/người/năm.
Đồng Hỷ có một số cây lương thực mang tính hàng hóa như cây chè, cây ăn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
14

Văn hóa – xã hội
Đồng Hỷ có một kho tàng văn hóa dân tộc phong phú và đa dạng. Bên
cạnh những làn điệu dân ca, hát chèo, hát chầu văn của dân tộc Kinh còn có
những làn điệu dân ca của các dân tộc Nùng, Dao, Mơng, Sán Chay, Sán
Dìu… trong những ngày hội mùa, ngày lễ, ngày tết đình đám rất đặc sắc.
Hàng năm trong huyện thường tổ chức những lễ hội lớn vào tháng Giêng âm
lịch như hội Chùa Hang, hội đền Long Giàn, lễ hội đền Hích…, tổ chức biểu diễn
văn nghệ, hoạt động thể thao như đấu vật, cầu lơng, bóng chuyền, tung còn, bóng
đá… tạo ra khơng khí đồn kết, chan hòa trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Chùa Hang, chùa Linh Sơn là những di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia.
Đền Thượng, đền Gốc Sấu, đền Hích, đền Long Giàn và hàng chục di tích các loại
khác là những di sản văn hóa đặc sắc của nhân dân các dân tộc huyện Đồng Hỷ.
Phong trào “Tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hóa diễn ra sơi
nổi” thu hút đơng đảo nhân dân trong huyện. Đến năm 2006 tồn huyện có
gần 80 xóm, bản đạt danh hiệu “Xóm văn hóa”, 18.816 hộ đạt danh hiệu “Gia
đình văn hóa”; 140 cơ quan, xí nghiệp, trường học trong huyện đạt danh hiệu
“Cơ quan văn hóa”; 223 xóm có nhà văn hóa, 15/17 xã, thị trấn có trung tâm
văn hóa…[32, tr. 939].

1.3. Khái qt về người Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Ngun
1.3.1. Nguồn gốc tộc người
Dân tộc Sán Dìu theo âm Hán Việt là Sơn Dao còn có một số tên gọi khác
là: Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc, Mán Váy Xẻ, San Déo Nhín. Theo nhiều
người Sán Dìu cao tuổi thì Sán Dìu là một dân tộc nhỏ, q gốc xa xưa ở
Quảng Đơng (Trung Quốc). Cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, do khơng chịu
nổi sự áp bức bóc lột tàn bạo của nhà Minh và nhà Thanh, người Sán Dìu phải
rời q cha đất tổ, tìm đường sang các nước Đơng Nam Á trong đó có Việt

sống cách biệt với các nhóm Dao khác trong một thời gian dài, người Sán Dìu
đã khơng sử dụng ngơn ngữ Dao mà chuyển sang sử dụng ngơn ngữ khác.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
16

Trong q trình khảo sát thực tế tại các xã Nam Hòa, Linh Sơn, Minh Lập
huyện Đồng Hỷ, chúng tơi thấy tất cả những văn tự, lời kể của người Sán Dìu
khi nói về nguồn gốc của mình đều nhắc tới các địa danh như: Tân Châu, Q
Châu, Dương Châu, Hồ Nam… thuộc Trung Quốc.
Để giải thích về nguồn gốc của dân tộc mình, người Sán Dìu ở Đồng Hỷ
còn lưu truyền một số truyện thơ bằng chữ Hán như: “Vua Cóc”, “Chuyện kể
về Vũ Nhi và vua Cóc”… Những nhân vật cũng như các địa danh trong những
câu chuyện trên cũng xuất phát từ Trung Quốc.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu đã cơng bố cũng như các tài liệu điền dã
dân tộc học, căn cứ vào những câu chuyện kể trong dân gian, cũng như các
ghi chép trong các gia phả, sách cúng hương hỏa… có thể khẳng định, người
Sán Dìu là một nhánh của người Dao ở Trung Quốc, do điều kiện chiến tranh
loạn lạc, đã di cư vào Việt Nam cách ngày nay khoảng 300 – 400 năm.
Theo gia phả của gia đình ơng Lê Hữu Nhất, xã Dân Chủ, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Ngun, tổ tiên họ xa kia có nguồn gốc tại thơn Phong Lưu, xã
Bách La, huyện Phương Thành, tỉnh Quảng Đơng (Trung Quốc). Vào đời Càn
Long, Nhà Thanh, tổ tiên họ di cư sang Việt Nam, đến nay đã 13 đời (trên dới
300 năm). Gia phả của dòng họ Lê này ghi rõ: người đầu tiên dẫn con cháu
chuyển cư tới Việt Nam là ơng Lê Dược Tiến. Quảng Ninh là điểm định cư
đầu tiên của họ tại Việt Nam. Sau đó, họ di cư tới Thanh Trà, Phú Lương,
Thái Ngun. Đến đời cụ Lê Hữu Nhất, lại chuyển đến Đồng Hỷ, Thái
Ngun [32, tr. 581].
Theo gia phả của gia đình ơng Ân Quang Liên ở xóm Ao Lang, xã Linh Sơn,
huyện Đồng Hỷ tổ tiên của họ xưa kia có nguồn gốc tại thơn Phong Lưu, xã Bách
La, huyện Phương Thành, tỉnh Quảng Đơng (Trung Quốc). Đến Đơng Triều

Tân Lợi (2.835 người, chiếm 61,3% dân số xã), Linh Sơn (2.828 người,
chiếm 32% dân số xã), Minh Lập (1.376 người, chiếm 21,5 % dân số xã), Hóa
Trung (1.021 người), Hóa Thượng (810 người). Những địa phương này,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu />
18

người Sán Dìu sinh sống thành nhiều xóm làng với tỉ lệ chiếm đa số trong mỗi
thơn. Ví dụ như tại Nam Hòa, người Sán Dìu sinh sống ở các xóm: Gốc Thị,
Đồng Chốc, Trại Gião, Trại Gai, Na Qn, Cầu Đất, Chí Son, Bờ Suối, Đầm
Diềm, Đồng Cỏ… Cũng tại Nam Hòa, nơi cư dân Sán Dìu đơng nhất huyện, tỉ
lệ người Sán Dìu ở mỗi thơn bản là rất cao, có những xóm có quy mơ dân số
khá lớn như: xóm Trại Gião có 155/162 hộ người Sán Dìu, xóm Chí Son 202
hộ đều là người Sán Dìu, xóm Cầu Đất có 90 hộ Sán Dìu (chiếm trên 95%
dân số xóm); xóm Thơng Nhãn, xã Linh Sơn có 216 hộ trong đó đa số là
người Sán Dìu. Ở những xã có dân cư ít hơn họ cũng quần cư thành những
chòm riêng như tại Hóa Thượng, người Sán Dìu sống tập trung hơn ở một khu
vực riêng trong xóm như xóm Đồng Thịnh, xóm Tam Thái [44], [48], [49].
Nhìn chung những xã có đơng người Sán Dìu sinh sống nằm trên khu vực
địa hình đồi núi thấp xen kẽ đồng bằng với độ cao trung bình dưới 100m so với
mực nước biển (Linh Sơn, Nam Hòa). Các xã vừa có đồi núi lại có đồng bằng.
Đây là dạng địa hình đồng bằng xen đồi núi do q trình xâm thực chia cắt bán
bình ngun cổ tạo thành, chủ yếu là đồi và những chỗ trũng thấp xung quanh
các quả đồi. Đồi ở đây là những kiến trúc bị bào mòn tách rời nhau hoặc kéo
thành những dải thấp khơng liên tục, đồi nhơ cao hình vòm, đỉnh tương đối
bằng, sườn hơi lồi, dốc thoai thoải. Độ cao của đồi có sự thay đổi do có chỗ cao
hơn 100 m, có chỗ chỉ khoảng 30 – 40 m. Bên cạnh địa hình đồi là một số núi
đá đơn lẻ với độ cao khơng lớn nhưng khá dốc như núi Voi (Hóa Thượng), núi
Hột (Linh Sơn)… Thơn xóm người Sán Dìu nằm ở xen kẽ những địa hình bên
cánh đồng, mỗi nhà có thể nằm trên lưng đồi thoai thoải hoặc dưới chân thấp,
xung quanh là cánh đồng lúa màu và những đồi trồng cây ăn quả hoặc trồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status