văn hóa tinh thần của người sán dìu ở huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên (1945 - 2010) - Pdf 22



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HOÀNG LIÊN GẤM

VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI SÁN DÌU
Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN (1945-2010) LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ


Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Ngọc La
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo - TS. Hoàng Ngọc La, đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giúp đỡ, động viên
và tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn những nhận xét, đánh giá của Hội đồng
khoa học bảo vệ luận văn.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan, đơn vị, những
người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành

Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆM ĐÔNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN (1945- 2010) 6

1.1. Nguồn gốc tộc người. 6

1.2. Địa bàn cư trú 8

1.3. Hoạt động kinh tế của người Sán Dìu ở Đồng Hỷ(Thái Nguyên) (1945-2010) 10

Tiểu kết chương 1 25

Chương 2. VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN
ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 27

2.1. Tổ chức xã hội 27

2.1.1. Cộng đồng làng bản - Dòng họ. 27

2.1.2. Gia đình và hôn nhân 29

2.2. Các tập quán liên quan đến chu kỳ đời người 31

2.2.1. Tập quán sinh đẻ, nuôi dạy con cái. 31

2.2.2. Nghi lễ đám cưới. 37


Chương 3. NHỮNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI SÁN
DÌU Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN 97

3.1. Các yếu tố tác động đến sự biến đổi văn hóa tinh thần của người Sán Dìu
ở Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. 97

3.1.1. Yếu tố nội sinh: 97

3.1.2. Yếu tố ngoại sinh 98

3.2. Những biến đổi của văn hóa tinh thần 105

3.2.1. Những biến đổi về tổ chức xã hội 105

3.2.2. Biến đổi của các tập tục lễ nghi liên quan đến chu kỳ đời
người. 110

3.2.3. Biến đổi trong tín ngưỡng dân gian và lễ hội của người Sán
Dìu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. 113

Tiểu kết chương 3 117

KẾT LUẬN 119

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123

PHỤ LỤC 127

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2

tín ngưỡng, tôn giáo, nguồn gốc, nội dung của các hình thái dân gian đặc
trưng ở một số vùng miền, một số dân tộc ít người, trình bày nguồn gốc và
những giáo lý cơ bản của các loại hình tôn giáo trong đời sống hiện nay.
Cuốn “Lý luận về tôn giáo về tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của
Đặng Nghiêm Vạn (NXB chính trị Quốc gia năm 2001) đã nêu lên những
khái niệm chung về tôn giáo, xu thế chung của tôn giáo, đời sống tôn giáo
trong nhân dân.
Cuốn sách đề cập khá toàn diện về lễ hội của người Sán Dìu là tác
phẩm “Lễ hội các dân tộc Hoa, Sán Dìu ở Việt Nam” của tác giả Diệp Trung
Bình (NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 2002) trong tác phẩm này tác giả đã
khảo tả về một số lễ hội tiêu biểu của người Sán Dìu ở Việt Nam như: Lễ
Tháo khoán, lễ Kỳ yên, lễ Đại phàn, lễ Cấp sắc… Thông qua tác phẩm này
người đọc có cái nhìn chung nhất về lễ hội của hai dân tộc Hoa và Sán Dìu
Năm 2005, tác giả Vũ Diệu Trung trong bài viết “Lễ cấp sắc của người
Sán Dìu ở Thái Nguyên” (Thông báo khoa học - NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội). Tác giả đã bước đầu tìm hiểu về lễ cấp sắc của người Sán Dìu trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên.
Tác giả Diệp Trung Bình có cuốn viết về tập tục chu kỳ đời người của
người Sán Dìu ở Việt Nam năm 2005 “Phong tục và nghi lễ chu kỳ đời người
của người Sán Dìu ở Việt Nam” NXB Bộ văn hóa thông tin - 2005.
Năm 2006, tác giả Tống Thị Quỳnh Hương có bài nghiên cứu “Một số
nét văn hóa truyền thống của dân tộc Sán Dìu ở huyện Vân Đồn tỉnh Quảng
Ninh” (Thông báo khoa học - NXB Khoa học xã hội, Hà Nội).
Năm 2008, tác giả Nguyễn Thị Quế Loan trong luận án tiến sĩ “Tập
quán ăn uống của người Sán Dìu ở Thái Nguyên” đã đề cập tới đặc trưng
trong văn hóa ẩm thực của dân tộc này
Nhìn chung, các công trình trên do mục đích nghiên cứu khác nhau đã

tham khảo, sưu tầm các sách tham khảo, báo, tạp chí, bài viết có liên quan
hoặc đề cập đến vấn đề nghiên cứu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4

Để tìm hiểu về văn hóa tinh thần của người Sán Dìu huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên, luận văn sử dụng một số phương pháp: Phương pháp lịch
sử đi sâu nghiên cứu từng vấn đề liên quan đến văn hóa tinh thần kết hợp với
phương pháp logic, phương pháp tổng hợp, phân tích….
5. Đóng góp của đề tài.
Đề tài góp phần nghiên cứu bản sắc văn hóa tinh thần của người Sán
Dìu ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Qua nghiên cứu, khảo sát thực tế, tác giả luận
văn mong muốn đóng góp làm rõ thêm các giá trị văn hóa tinh thần của người
Sán Dìu trong đời sống …
6. Cấu trúc của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài
được cấu trúc làm ba chương.
Chương 1: Khái quát về người Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ tỉnh
Thái Nguyên (1945- 2010).
Chương 2: Văn hóa tinh thần của người Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ
tỉnh Thái Nguyên (1945- 2010)
Chương 3: Những biến đổi văn hóa tinh thần của người Sán Dìu ở Đồng
Hỷ Thái Nguyên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6


7

Để giải thích về nguồn gốc của dân tộc mình, người Sán Dìu ở Đồng
Hỷ còn lưu truyền một số truyện thơ bằng chữ Hán như: “Vũ Nhi”, “Vua
Cóc”…. Những nhân vật cũng như các địa danh trong những câu chuyện trên
cũng xuất phát tư Trung Quốc.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu đã công bố cũng như các tài liệu điền
dã dân tộc học, căn cứ vào những câu chuyện kể trong dân gian, cũng như các
ghi chép trong các gia phả, sách cúng hương hỏa … có thể khẳng định , người
Sán Dìu là một nhánh của người Dao ở Trung Quốc, do điều kiện chiến tranh
loạn lạc, đã di cư vào Việt Nam cách ngày nay khoảng 300-400 năm.
Thái Nguyên là tỉnh có đông người Sán Dìu sinh sống nhất ở nước ta
(chiếm khoảng 29,59%). Theo số liệu thống kê năm 2009 người Sán Dìu ở
Đồng Hỷ có 16.322 người, họ có mặt ở khắp các xã và thị trấn. Người Sán
Dìu tập trung đông nhất ở các xã: Nam Hòa, Tân Lợi, Linh Sơn, Minh Lập
đặc biệt Nam Hòa có tời 5.923 người (2009). Từ lâu Nam Hòa đã được coi là
nơi tập trung cư dân Sán Dìu ở Thái Nguyên.
Người Sán Dìu có có mặt tại Việt Nam khoảng 300 năm, tổ tiên của họ
ở Quảng Đông (Trung Quốc). Theo gia phả của gia đình ông Ân Quang Liên
ở xóm Ao Lang xã Linh Sơn huyện Đồng Hỷ tổ tiên của họ xưa kia có nguồn
gốc tại thôn Phong Lưu, xã Bách La, huyện Phương Thành, tỉnh Quảng Đông
(Trung Quốc). Đến Đông Triều Quảng Ninh là điểm đến đầu tiên sau đó là
Phấn Mễ (Phú Lương, Thái Nguyên) đến đời ông (là đời thứ 4) chuyển đến
Linh Sơn, Đồng Hỷ, Thái Nguyên (Ân Quang Liên - xóm Ao Lang xã Linh
Sơn, Đồng Hỷ, Thái Nguyên).
Về tên gọi, măc dù tộc người Sán Dìu không phân thành nhiều nhóm
nhưng lại có rât nhiều tên gọi khác nhau. Người Sán Dìu không phân thành
nhiều nhóm nhuung lại có rất nhiều tên gọi khác nhau. Người Sán Dìu tự gọi
mình là Déo Nhín, theo âm Hán Việt là Sơn Dao Nhân, tức người Dao ở trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9

và 15 xã: Tân Long, Vân Lăng, Hòa Bình, Minh Lập, Quang Sơn, Hóa Trung,
Hóa Thượng, Hợp Tiến, Cây Thị, Tân Lợi, Nam Hòa, Huống Thượng, Linh
Sơn, Văn Hán, Khe Mo. Tổng cộng có 18 đơn vị hành chính cấp xã.(37).
Huyện Đồng Hỷ về phía đông bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp
huyện Phú Lương và tỉnh Bắc Kạn, phía nam giáp thành phố Thái Nguyên và
huyện Phú Bình, phía bắc giáp huyện Võ Nhai.
Đồng Hỷ có địa hình thấp dần từ đông bắc xuống tây nam với độ cao
trung bình 80m so với mực nước biển. Phía bắc và đông bắc có địa hình núi
cao, chia cắt phức tạp, có nhiều khe suối với độ cao trung bình là 120m. Vì
vậy giao thông có nhiều khó khăn song lại tạo điều kiện cho phát triển nghề
rừng và trồng cây công nghiệp. Vùng giữa huyện có địa hình thấp mang tính
chất của địa hình trung du, các vùng đồi sen kẽ là những cánh đồng rộng
thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
Về khí hậu, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên cơ cấu
cây trồng vật nuôi cũng mang tính chất thời vụ và có tính phân mùa rõ rệt.
Sông suối của Đồng Hỷ nhìn chung đều bắt nguồn từ khu vực núi cao
phía bắc và đông bắc chảy vào sông Cầu. Mật độ sông suối bình quân là
0,2km/km
2
. Sông Cầu là sông lớn nhất chảy theo hướng bắc nam, nằm ở phía
tây huyện Đồng Hỷ chảy qua địa bàn huyện với chiều dài 47km. Đây chính là
một trong những nguồn cung cấp nước cho huyện Đồng Hỷ, tạo điều kiện
khai thác vận tải đường thủy với các tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Bắc Ninh….
Ngoài ra huyện còn có nhiều suối như suối Thác Rạc, Khe Mo, Ngàn Me…
và nhiều hồ nước nhỏ để phục vụ sản xuất, sinh hoạt.
Về tài nguyên thiên nhiên, Đồng Hỷ nằm trong vành đai sinh khoáng
Đông Bắc Việt Nam thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương nên tài
nguyên khoáng sản rất phong phú. Từ xa xưa, Đồng Hỷ đã được đánh giá là

thách thức. Trong hoàn cảnh sống như vậy, với tập quán mưu sinh cổ truyền,
người Sán Dìu đã tạo dựng được cuộc sống vật chất ổn định, mặc dầu chưa
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11

hẳn tất cả đã là no ấm. Trải qua hàng trăm năm khai thác tự nhiên ở Đồng Hỷ,
cộng đồng người Sán Dìu đã xây dựng đời sống kinh tế mang dấu ấn của vùng
miền núi trung du nhưng cũng rất phong phú những nét truyền thống tộc người.
Trồng trọt: Cũng như các cộng đồng láng giềng khác, nguồn sống chính
của đại đa số các gia đình người Sán Dìu ở Đồng Hỷ là trồng trọt các loại cây
lương thực, trong đó chủ yếu là lúa. Đại bộ phận người Sán Dìu vẫn sống
trong hoàn cảnh một nền kinh tế tự cấp tự túc, bởi thế nông nghiệp trồng trọt
vẫn giữ vai trò hạt nhân trong hệ thống các hoạt động mưu sinh của họ. Mọi
hoạt động đều xoay quanh nông nghiệp, điều đó thể hiện trong nông nghiệp
hàng năm của người Sán Dìu.
Các loại cây trồng: Để tận dụng việc khai thác đất đai, phát triển trồng
trọt nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, rau cho các bữa ăn hàng ngày; thức ăn
để chăn nuôi, nguyên liệu dùng trong các ngành nghề khác, để dệt may,
nhuộm vải… người Sán Dìu đã sử dụng nhiều loại cây trồng. Ngoài một vài
yếu tố có tính tộc người không rõ nét lắm, bộ giống cây trồng của họ gần
tương tự như các tộc người láng giềng khác. Bao gồm: các loại lúa (vó), hoa
mầu (ngô đỏ - hông mạc, ngô trắng - tạc mạc, ngô nếp - nộ máy mạc, khoai
lang - hông dzi, khoai sọ trứng - xí hủ, sắn trắng - pạc mộc suy, sắn đỏ - hông
mộc suy….), cây lấy rau (bầu, bí, cải, rền, cà ghém - khê, hành - sổng, tỏi -
tôn…), cây nguyên liệu (mía - chộc trạ, trè, bông, chàm, chẩu, mây, tre…),
cây ăn quả (nhãn, mít, chuối, cam, quýt…)… với bộ giống cây trồng này, họ
có đủ những loại thích hợp để canh tác vào mùa mưa - nóng và mùa khô -
lạnh; ruộng nước, ruộng ngập thụt … và ruộng khô, soi, bãi nương, đồi…
cũng là lúa nhưng với ruộng lầy thụt, ruộng nước, họ canh tác những giống
lúa ăn nhiều nước; trên nương hoặc bãi khô, họ trồng lúa lốc…. So với các

lốc, ít trồng lúa mố như những cư dân làm nương rẫy khác. Lúa lốc có khả
năng chịu hạn cao và gạo khá ngon. Đất sau khi được chuẩn bị chu đáo, người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13

ta vãi hạt giống, rồi bừa lấp với một lớp đất mỏng để trách chim chóc và kiến
phá hoại.
Hoa mầu gồm có ngô, khoai lang, sắn… ít khi trồng riêng từng thứ, mà
được trồng xen canh, gối vụ cho năng suất cao.
Để giải quyết các khâu kỹ thuật canh tác trên các loại hình ruộng khác
nhau và các giống cây trồng khác nhau, người Sán Dìu cũng phải tạo cho
mình một nông cụ hoàn chỉnh.
Để cầy bừa, người Sán Dìu có chiếc cầy (láy) chắc và nhẹ, phù hợp với
các chân ruộng bậc thang và trên nương dốc…
Bừa có 3 loại: Bừa 1 (tan phá), bừa đôi (sông phá), bừa bàn. Bừa 1 có
11 hoặc 13 răng do 1 trâu hay bò kéo, bừa đôi có 16 răng do 2 trâu kéo. Răng
bừa bằng gỗ hay bằng tre già.
Ở người Sán Dìu đã có trục lăn bằng đá hoặc bằng gỗ (môc lôc) hình
trụ để nghiền nhỏ đất, năng suất cao mà không mất nhiều sức lao động. Người
Sán Dìu có nhiều loại cuốc, cào với kích thước to nhỏ khác được dùng vào
những công việc nhất định. Cái cào bàn (thui phá) là một công cụ rất tiện
dụng trong việc vun luống. Sử dụng loại cào này chỉ cần 2 người, người kéo
dây, người xúc đất vun thành luống, nhẹ nhàng không tốn sức, năng suất gấp
nhiều lần so với vun bằng cuốc.
Để cắt, gặt lúa người Sán Dìu có vằng (vố lém) và hái nhắt, gần đây có
thêm liềm. Vằng là một loại hái có lưỡi lắp ở phía lưng để quèo hái. Còn hái
nhắt về hình thức cũng không khác gì cái hái nhắt của cư dân làm nương rẫy.
Để vò lúa người ta dùng trục lăn bằng đá hay gỗ. Bằng phương tiện vận
chuyển người Sán Dìu có xe quyệt (phong), nhờ có loại xe đặc biệt này nên
đồng bào đỡ phải mang vác vất vả. Người Sán Dìu sử dụng nhiều loại gầu tát

Đối với các loại cây trồng trên đất khô, ruộng cạn, hàng năm người Sán
Dìu có thể gieo trồng nhiều vụ, tùy thuộc vào thời gian sinh trưởng của các
loại cây trồng. Các loại cây trồng trên ruộng cạn hay nương đất dốc thường
bao gồm: Ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng, bầu, bí, các loại rau…, các loại cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15

lấy gỗ…. Tùy từng loại mà họ có lịch gieo trồng cụ thể. Các loại rau đậu ngắn
ngày, họ thường gieo trồng vào đầu mùa xuân; ngô, khoai, sắn… thường gieo
sau khi ăn tết Nguyên đán; cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây nguyên liệu… cũng
được họ gieo trồng vào dịp đầu xuân…. Điều đáng lưu ý là đối với người Sán
Dìu, các loại hoa mầu, rau, đậu, mía…. Họ đều gieo trồng trên luống cao
khoảng 15 - 25 cm. Tùy từng loại cây trồng mà họ cuốc hốc, hoặc đánh rãnh,
bón lót phân chuồng, sau đó mới đặt cây giống, hạt giống. Như vậy kỹ thuật
gieo trồng của họ đã phát triển, đạt trình độ thâm cạnh tương đối cao.
Ngoài các loại cây trồng trên đây, người Sán Dìu còn trồng các loại cây
lấy trái, cây nguyên liệu, cây lấy gỗ…. Nhìn chung, kỹ thuật gieo trồng các
loại này không có gì khác biệt lắm so với các loại cây đã nêu ở trên.
Giải pháp nước tưới, phân bón, chăm sóc và thu hoạch: Canh tác cây
trồng ở địa bàn miền núi trung du, người Sán Dìu gặp phải không ít khó khăn
về nước tưới cho cây trồng. Ngoài những bất lợi về địa hình, những khó khăn
về địa điểm canh tác manh mún, lẻ tẻ, không tập trung… cũng làm tăng thêm
khó khăn về nước tưới cho cây trồng. Để thích ứng với những khó khăn do tự
nhiên mang lại, người Sán Dìu đã sử dụng đa số những giống cây trồng có
khả năng chịu hạn, thích hợp với đất đai khô cạn. Trong bộ giống cây trồng
của họ, có lẽ chỉ có lúa nước là loại cây trồng ít chịu được hạn. Cũng để thích
ứng với môi trường tự nhiên, xưa kia họ thường chỉ canh tác các loại cây
trồng về mùa mưa - nóng, còn mùa khô - lạnh là thời gian nông nhàn được họ
sử dụng vào việc xây dựng nhà cửa, cưới xin, lo việc mồ mả, thăm hỏi người
thân và tổ chức các lễ hội, các hoạt động cộng đồng.

không thể thiếu của người Sán Dìu. Trong một vụ lúa bao giờ họ cũng làm cỏ
sục bùn (tảo vô xảo) ít nhất là hai lần. Lần thứ nhất vào khoảng ngày thứ 35
sau khi cấy. Kết hợp với làm cỏ lần này, họ dùng phân xanh (thân lá, cây lạc,
đậu tương…băm nhỏ) bón thúc cho lúa. Lần làm cỏ thứ hai vào lúc lúa chuẩn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17

bị làm đòng. Kết hợp với làm cỏ, sục bùn, lần này họ dùng phân chuồng (u
hụn) ủ mục bón thúc cho lúa.
Đối với các loại hoa mầu: Ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng… người Sán
Dìu đều trú trọng khâu làm cỏ, vun xới. Ngô trên nương hay trên ruộng, bãi,
soi … họ đều làm cỏ, vun gốc, bón thúc ít nhất là hai lần. Lần thứ nhất vào
lúc cao chừng 30 - 40cm; lần thứ hai khi ngô đã trổ bắp, đang vào hạt. Cùng
làm cỏ, vun gốc, ở lần hai họ còn cắt bớt lá tạo điều kiện cho ngô tập trung
dinh dưỡng nuôi hạt. Khoai lang, sắn… đều được họ làm cỏ, vun gốc, gon
luống hai lần trong một vụ. Đối với mía ngoài việc vun gốc chăm bón, người
Sán Dìu còn rất trú trọng việc tỉa lá, bóc bẹ, chống đỡ cho mía không đổ,
không nghiêng. Theo tập quán họ hay dùng tre, nứa… làm nạng để đỡ xung
quanh giữ cho mía đứng thẳng.
Xưa kia người Sán Dìu canh tác các loại cây trồng vào mùa mưa là
chính, nên mùa thu hoạch các loại cây lương thực (lúa, ngô, sắn…) của họ
thường diễn ra vào khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 1 âm lịch.
Người Sán Dìu thu hoạch lúa chiêm vào tháng 4 và tháng 5, lúa mùa
vào tháng 9, tháng 10 âm lịch. Theo tập quán của họ, đây là công việc của cả
gia đình, không phân biệt nam nữ, già trẻ. Thời gian trước khi bước vào mùa
thu hoạch, trong các gia đình thường tiến hành công việc chuẩn bị: liềm, hái,
quang gánh, sọt,….
Ngoại trừ thu hoạch lúa, ngô, lạc, đậu tương… các loại hoa mầu khác
đều do phụ nữ trong các gia đình thu hái theo kiểu tranh thủ sau những buổi
làm đồng. Bởi việc gieo trồng các loại rau, đậu… với diện tích không nhiều

nấm rừng, mộc nhĩ, mây… các loại có tinh dầu và cây dược liệu quý. Đồng
thời đồng bào Sán Dìu cũng rất ham săn bắn vào mùa khô ráo sau vụ gặt mùa
hoặc từ cuối thu sang đầu xuân vừa để giải trí, vừa kiếm thức ăn và cũng là
một biện pháp bảo vệ mùa màng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19

Dệt vải (phỏng men): Làm sợi, dệt vải xưa kia đã từng khá phổ biến
trong các gia đình người Sán Dìu. Khung dệt truyền thống xưa kia của người
Sán Dìu làm bằng gỗ hoặc tre. Về kiểu dáng và cấu tạo, khung dệt của họ gần
giống khung dệt của người Tày, Nùng… trong vùng. Với bộ khung dệt của
người Sán Dìu thường dệt loại vải có khổ rộng khoảng 30cm. Vải dùng để
làm khăn, may áo trẻ em họ dệt khổ rộng 15 - 20cm; vải để may quần, áo, váy
người lớn họ dệt khổ rộng 30cm. Xưa kia để có đủ vải đáp ứng nhu cầu may
mặc trong gia đình, người phụ nữ Sán Dìu thường phải tranh thủ mọi thời
gian ở nhà để làm sợi, dệt vải.
Làm giấy gió: xưa kia người Sán Dìu dùng giấy gió đóng thành quyển,
viết bằng bút lông, mực Tầu, chữ Nôm Sán Dìu để ghi chép gia phả, văn mo,
lịch (xem giờ ngày tháng năm, xem tướng số), truyện cổ tích, thơ ca, bài hát, sớ
và làm tiền, vàng mã…. Để có giấy sử dụng trong việc cúng bái thường diễn ra
vào cuối năm và có giấy dùng trong tết Nguyên đán, các gia đình Sán Dìu
thường làm giấy vào khoảng tháng 8 - 9 âm lịch hàng năm. Nguyên liệu làm
giấy là nứa, tre, vầu, giang non… các loại nguyên liệu được chặt ngắn, trẻ nhỏ,
ngâm trong nước vôi khoảng 1 tuần. Sau đó vớt ra rửa sạch cho vào cối giã
nhuyễn, cho vào thùng quấy đều với nước lã, lọc lấy bột. Cách thức xeo giấy
của người Sán Dìu tương đối đơn giản. Họ dùng tấm vải dúng nước, căng lên
khung gỗ, dùng chổi đót sạch nhúng vào hồ giấy, quét đều lên mặt vải. Làm
như thế hai lần là được. Khi giấy trên mặt vải đã ráo nước, úp lên tấm ván phơi
đến khi khô hẳn. Trong các gia đình Sán Dìu, sử dụng giấy là các ông chủ,
nhưng làm giấy đa số là phụ nữ. Bởi nó diễn ra trong thời gian dài; đòi hỏi phải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status