luận văn Đời sống văn hóa tinh thần của người H''Mông ở huyện Mù Cang Chải – Yên Bái - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Người H'Mông là một trong những dân tộc thiểu số co dân số đông
ở miền Bắc Việt Nam. Theo số liệu của cuộc điều tra dân số năm 1999 thì
dân số của dân tộc H'Mông là trên 55 vạn người. người H'Mông cư trú chủ
yếu trên những vùng núi có độ cao trên dưới 1000m. Trải qua quá trình
thiên di hàng trăm năm tới định cư ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, người
H'Mông đã xác lập cho mình một diện mạo kinh tế - văn hoá – xã hội khá
rõ nét. Cùng với 53 dân tộc anh em, người H'Mông luôn luôn là một phần
của sự thống nhất khối đại đoàn kết dân tộc và góp phần làm phong phú
cho nền văn hoá các dân tộc Việt Nam. Vì thế mà đã từ lâu, người H'Mông
trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong nước và
trên thế giới.
Văn hoá H'Mông là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà
họ sáng tạo ra trong diễn trình lịch sử của mình. Trong văn hoá H'Mông,
văn hoá tinh thần là một yếu tố không thể thiếu được trong cuộc sống của
con người. Việc nghiên cứu văn hoá tinh thần của các dân tộc thiểu số nói
chung, dân tộc H'Mông nói riêng là sự đóng góp quan trọng trong việc bảo
lưu những giá trị văn hoá truyền thống. Nghiên cứu văn hoá tinh thần còn
là cơ sở khoa học cho nhiều ngành văn hoá, nghệ thuật… vận dụng, kế thừa
tính dân tộc, giá trị văn hoá, quan điểm thẩm mỹ… phục vụ cho công cuộc
xây dựng đất nước.
Đặc biệt, dưới góc độ văn hoá, lịch sử, nghiên cứu văn hoá tinh thần
còn góp phần làm sáng tỏ thêm những đặc trưng tộc người. Trên cơ sở đó,
chúng ta có những cứ liệu khoa học đánh giá đúng vị trí văn hoá các dân tộc
nói chung và văn hoá người H'Mông nói riêng để có định hướng đúng cho
việc xây dựng và phát triển một nền văn hoá Việt Nam dân tộc và hiện đại.
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội

nghiệp phát triển của đất nước đã và đang được các nhà khoa học quan tâm
và thực hiện.
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
2
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
Đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc H'Mông được nhiều nhà
khoa học, nhà quản lý văn hoá vùng người H'Mông đi sâu tìm hiểu, trong
đó có đời sống văn hoá tinh thần của người H'Mông ở huyện Mù Cang
Chải – Yên Bái đã được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công
trình đó.
Trong cuốn Lịch sử Đảng bộ huyện Mù Cang Chải do huyện uỷ Mù
Cang Chải biên soạn năm 1995 đã giới thiệu sơ lược về người H'Mông và
truyền thống đấu tranh của của người H'Mông ở Mù Cang Chải.
Cuốn Yên Bái nơi hội tụ của đồng bào các dân tộc của nhà nghiên
cứu Hà Lâm Kỳ, Nxb Văn hoá dân tộc, 1996 đã giới thiệu những nét khái
quát nhất về nguồn gốc, tên gọi, đời sống vật chất và tinh thần của đồng
bào các dân tộc hiện đang sinh sống trên đất Yên Bái trong có nhắc đến dân
tộc H'Mông ở huyện Mù Cang Chải.
Cuốn Mỗi nét hoa văn do nhà nghiên cứu Hà Lâm Kỳ làm chủ biên,
Nxb Văn hoá dân tộc, 2001. Đây là tác phẩm viết về những nét đẹp trong
đời sống văn hoá tinh thần của một số dân tộc ở Yên Bái, trong đó có bài
viết của tác giả Minh Khương về một số nghi lễ trong cuộc sống gia đình
của đồng bào H'Mông ở Mù Cang Chải.
Cuốn Dân tộc Mông ở Việt Nam của hai tác giả Hoàng Nam và Cư
Hoà Vần, Nxb Văn hoá dân tộc, 1994. Các tác giả đã giới thiệu khái quát
về lích ử di cư, tên gọi, địa bàn cư trú, phân nhóm, sinh hoạt vật chất và
tinh thần của dân tộc H'Mông ở Việt Nam, trong đó có đề cập tới người
H'Mông ở Mù Cang Chải.

Ngoài những tác phẩm trên, đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc
H'Mông ở Mù Cang Chải còn được phản ánh trong nhiều bài viết, công
trình nghiên cứu trên các tạp chí: Dân Tộc học, Văn hoá dân gian, Nghiên
cứu lịch sử… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên
cứu và dựng lại toàn diện đời sống văn hoá của người H'Mông ở Mù Cang
Chải – Yên Bái. Đây là vấn đề mới mẻ và là việc làm cần thiết phục vụ cho
mục đích bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc H'Mông nói chung, văn hóa
người H'Mông ở huyện Mù Cang Chải nói riêng.
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
4
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
3. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu.
3.1. Nguồn tư liệu.
Nghiên cứu đời sống văn hoá tinh thần của các dân tộc H'Mông ở
Mù Cang Chải tác giả đã dựa vào các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
a. Các tác phẩm, các công trình nghiên cứu đề cập đến người H'Mông
và văn hoá tinh thần của dân tộc H'Mông của các nhà nghiên cứu như:
- Lịch sử Đảng bộ tỉnh Yên Bái.
- LỊch sử Đảng bộ huyện Mù Cang Chải.
- Lịch sử người Mèo của Savina.
- Yên Bái nơi hội tụ của đồng bào các dân tộc của Hà Lâm Kỳ.
- Mỗi nét hoa văn của Hà Lâm Kỳ.
- Các báo cáo của sở văn hoá Yên Bái.

b. Nguồn tư liệu địa phương.
Tác giả đã tiến hành điền dã tại một số xã tập trung người H'Mông
sinh sống trên địa bàn huyện Mù Cang Chải, tập hợp nguồn tư liệu truyền
miệng về phong tục tập quán, tục lệ xã hội, ca dao, lễ hội,…của người

5. Bố cục của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài
gốm ba chương.
Chương 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên và người H'Mông ở
huyện Mù Cang Chải – Yên Bái.
Chương 2: Đời sống văn hoá tinh thần truyền thống của người
H'Mông ở huyện Mù Cang Chải - Yên Bái.
Chương 3: Sự biến đổi trong đời sống văn hoá tinh thần của người
H'Mông ở huyện Mù Cang Chải và những vấn đề đặt ra.
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
6
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NGƯỜI HMÔNG
Ở HUYỆN MÙ CANG CHẢI – YÊN BÁI
1.1. Điều kiện tự nhiên.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên:
Là một huyện vùng cao nằm phía Tây tỉnh Yên Bái. Mù Cang Chải
giáp huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai về phía Bắc, huyện Mường La tỉnh Sơn
La về phía Nam, huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái về phía Đông và huyện
Than Uyên tỉnh Lào Cai về phía Tây.
Tổng diện tích của huyện là 119.913 ha, trong đó đất nông nghiệp là
6.193 ha, đất lâm nghiệp 13.041 ha, đất ở 195 ha, đất chưa sử dụng 100.215
ha. Riêng diện tích trồng lanh chỉ khoảng từ 35 ha đến 40 ha.
Địa phận huyện Mù Cang Chải hiện nay thuộc phạm vi dãy Hoàng
Liên Sơn với hệ thống núi cao và đồ sộ nhất Việt Nam nên địa hình bị chia
cắt dữ dội và có độ dốc lớn. Độ cao trung bình của toàn huyện là 800 - 1200
m nhưng có nhiều đỉnh cao hơn 2000m, thậm chí có đỉnh núi thuộc xã Nậm

nhất, bắt nguồn từ vùng núi cao Púng Luông chảy dọc quốc lộ 32 qua địa
phận các xã La Pán Tẩn, Dế Xu Phình, Chế Cu Nha, Mồ Dề, Kim Nọi, Lao
Chải, Khao Mang, Hổ Bốn rồi đổ về dòng Nậm Mu ở Than Uyên. Suối
Nậm Kim có nguồn nước khá dồi dào nên có khả năng mở mương máng
thủy lợi dẫn nước tưới ruộng và xây dựng các trạm thủy điện.
Lượng mưa trung bình hàng năm ở Mù Cang Chải là 1500-
2000mm, nhưng lại phân bố không đều. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9,
cực đại vào tháng 6,7, có tới 112 ngày mưa tập trung 88% lượng mưa cả
năm. Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3, khô nhất là vào các tháng 12 và
tháng 1. Trong các tháng mùa khô, chỉ có 36 ngày mưa với lượng mưa hơn
200mm (chiếm 12% lượng mưa cả năm), trong khi lượng bốc hơi quá lớn,
gần 600mm, gây nên tình trạng khô hạn ở nhiều nơi, nhất là vùng cao, thậm
chí nước cho sinh hoạt còn thiếu.
Nhìn chung, khí hậu Mù Cang Chải không thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp. Mùa đông thì rét kéo dài, có năm ở một số xã còn có tuyết
rơi. Mùa hè thì mưa to, đá lở làm xói mòn đồi núi và sạt lở đường giao
thông. Sương muối xuất hiện nhiều vào tháng 1 và tháng 2. Mưa đá thường
xảy ra vào cuối tháng 4, tháng 5, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất cũng
như đời sống của nhân dân.
Thảm thực vật ở Mù Cang Chải cũng rất phong phú về chủng loại.
Ở đây, rừng á nhiệt đới núi cao chiếm ưu thế, bao gồm những vùng lá kim
chính như pơmu, các loại thông, sa mộc, liều sam xen lẫn với các loài cây
lá rộng thuộc họ sổi dẻ và họ đỗ quyên. Lên cao hơn từ độ cao 1800m trở
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
8
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
lên, là đai rừng ôn đới trên núi với những loại cây thật quý hiếm như lãnh
sam, vân sam, thiết sam, thông mọc xen kẽ. Hệ động vật ở Mù Cang Chải

Dung
một hệ thống ruộng bậc thang rất ngoại mục, nhất là ở hai khu vực xã Púng
Luông và xã La Pán Tẩn.
Về mạng lưới giao thông, Mù Cang Chải có quốc lộ 32 chạy qua
địa phận của 10 xã (trừ 3 xã là Nậm Có, Nậm Khắt và Chế Tạo) với chiều
dài khoảng 60km là con đường huyết mạch giao thông quan trọng nhất.
Năm 1971, huyện mở đường Ngã Ba Kim đi Nậm Khắt. Qua nhiều năm,
nhiều lần tu bổ, xe cộ đã có thể đi lại trên tuyến đường này. Ngoài ra, Mù
Cang Chải còn có hai con đường mòn dân sinh quan trọng là đường Chế
Cu Nha đi Nậm Có và Nậm Khắt đi Khao Vai.
Nhìn chung, mạng lưới giao thông như vậy đảm bảo việc đi lại của
người dân trong vùng. Nhưng do chất lượng của mặt đường còn thấp, chủ
yếu là đường đất, thậm chí ngay quốc lộ 32 được rải đá cấp phối nhưng
mùa mưa xe cộ đi lại còn rất khó khăn, hạn chế nhiều việc giao lưu trao đổi
hàng hóa của nhân dân các xã trong huyện cũng như đối với các nơi khác.
Cùng với sự chuyển đổi phương thức quản lý của nhà nước từ cơ chế bao
cấp sang nền kinh tế thị trường, từ cuối những năm 1980 thị trường địa
phương đã được hình thành. Huyện đã thành lập ba trung tâm vùng ở ba
khu vực: Púng Luông, huyện lỵ và Khao Mang với hệ thống chợ, các cửa
hàng bách hóa tổng hợp thuộc nhiều thành phần kinh tế, bước đầu đã đáp
ứng nhu cầu trao đổi mua bán của nhân dân trong huyện. Hàng năm, hàng
hóa của huyện xuất ra trao đổi với bên ngoài chủ yếu gồm có: sơn trà 2300
tấn, chè búp khô 10 tấn, trâu bò 500 con, ý dĩ 100 tấn, mật ong 6 tấn, nhựa
thông 100 tấn.
Các dân tộc Mù Cang Chải tuy thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau
nhưng đều chung sống xen kẽ. Người dân có thể nói nhiều thứ tiếng của
các dân tộc anh em, am hiểu và tôn trọng phong tục tập quán của nhau. Các
dân tộc còn có kho tàng văn hóa dân gian phong phú bao gồm hệ thống dân
ca, truyện cổ và các loại nhạc cụ khác nhau. Hệ thống lễ hội khá phong
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

xưa kia cư trú ở vùng Xibêri - nơi quanh năm tuyết phủ, có 6 tháng ngày và
6 tháng đêm. Vào triều Hoàng đế (Trung Quốc) - 2500 trước công nguyên,
họ chuyển tới lưu vực sông Hoàng Hà. Về sau họ bị người Hán đàn áp nên
phải di cư về phương Nam [27;39]
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
11
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
Có ý kiến lại cho rằng người H'mông là một trong những tộc người
nằm trong khối Bách Việt, có chung gốc gác với người Dao thuộc ngữ hệ
Nam Á nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao. Tổ tiên của họ đã sớm biết nghề
trồng lúa nước ở vùng giữa hồ Bành Lãi và Động Đình thuộc Nam Trung
Quốc. Đến thế kỷ VIII sau công nguyên 2 tộc H'mông và Dao mới tách ra.
Từ thế kỷ IX - XVI, người Hmông di cư về phía Tây Nam tập trung ở Quý
Châu sau đó mới di cư vào Việt Nam [5;27].
Người H'mông cho rằng, tổ tiên họ xưa kia vẫn cư trú ở Trung
Quốc, sau bị phong kiến Mãn Thanh chèn ép, nên họ phải di cư sang Việt
Nam. Nhiều tài liệu và sách của Trung Quốc cũng nói đến sự kiện đầy bi
thảm của người H'mông ở Trung Quốc trong thời kì bị phong kiến Mãn
Thanh đàn áp. Vào nửa cuối thế kỷ XVII, nhiều cuộc nổi dậy của người
H'mông và các tộc người thiểu số khác đã liên tiếp nổ ra chống lại phong
kiến Mãn Thanh. Các cuộc khởi nghĩa này kéo dài hơn 100 năm nhưng
cuối cùng đều thất bại và bị triều đình Mãn Thanh đàn áp đẫm máu. Đến
năm 1849, sau thất bại của phong trào Thái Bình Thiên Quốc, hầu hết đất
đai của người Hmông bị tước đoạt, nhiều làng mạc bị triệt hạ, cư dân bị tàn
sát, xua đuổi tan tác. Từ đó, họ đã có nhiều đợt thiên di xuống vùng Nam
và Tây Nam lục địa Trung Hoa để lánh nạn. Chính trong thời kỳ này nhiều
nhóm Hmông đã ồ ạt nhập Việt; theo các tài liệu điền dã dân tộc học thì
người H'mông mới đến Việt Nam khoảng trên dưới 200 năm.

1 bản người Thái và 6 bản người H'mông. Mật độ cư dân ở Mù Cang Chải
trong những năm vừa qua cũng không ngừng tăng lên.
Người H'mông ở đây bao gồm 4 nhóm người H'mông: H'mông
Lềnh (H'mông Hoa), H'mông Sư (H'mông Đỏ), H'mông Đu (H'mông Đen),
H'mông Đơ (H'mông Trắng). Trong đó nhóm H'mông Hoa đông nhất
chiếm khoảng 60% dân số, sống ở các xã Cao Phạ, Nậm Khắt, Nậm Có,
Púng Luông, La Pán Tẩn, Dế Xu Phình, Chế Cu Nha, Kim Nọi; nhóm
H'mông Đỏ chiếm 30% sống xen kẽ trong các bản làng với nhóm Hmông
Hoa ở các xã Kim Nọi, Mồ Dề, Chế Tạo, Khao Mang, Lao Chải; nhóm
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
13
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
H'mông Trắng có số lượng ít nhất sống ở các bản Trống Là, Sáng Nhù,
Háng Đề Chu, Trống Trở, Páo Láu, Háng Áng thuộc xã Hổ Bốn.
2. Một số đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội.
2.1. Kinh tế.
Từ khi đến sinh cơ lập nghiệp ở Mù Cang Chải, đồng bào H'mông đã
trải qua một quá trình lao động lâu dài để không ngừng biến tài nguyên
thiên nhiên thành những của cải vật chất cần thiết đáp ứng những nhu cầu
của cuộc sống.
Mặc dù có một ít ruộng nước nhưng nguồn sống chính của người
Hmông vẫn là nương rẫy. Căn cứ vào quá trình sử dụng có thể phân chia
nương làm hai loại: nương định canh và nương du canh, trong đó nương du
canh là chủ yếu. Trên ruộng nương, ngoài ngô, lúa là cây trồng chính còn
có mạch ba góc, ý dĩ, khoai, rau, lạc, đậu, vừng, lanh Các loại cây đặc sản
và cây ăn quả cũng khá phát triển.
Do xu hướng thâm canh năng suất và định canh định cư, từ lâu,
người H'mông ở Mù Cang Chải đã chú ý khai khẩn ruộng bậc thang trên

chiếm một diện tích khá lớn. Vải lanh dùng làm váy, may quần, áo, khâu bao
đựng bột, làm mặt chăn, địu Theo quan niệm của đồng bào, người chết
phải có áo ngoài bằng vải lanh thì mới được về đoàn tụ với tổ tiên. mỗi
người thiếu nữ từ 15-16 tuổi đến các bà cụ 60 tuổi đều có đám lanh riêng cho
mình. Cây lanh sau khi chặt vào khoảng tháng 6, được phơi khô tước lấy vỏ
và từ vỏ lanh làm thành sợi. Việc này đòi hỏi nhiều thời gian cho nên người
phụ nữ lúc nào cũng có vỏ lanh quanh mình, tranh thủ tước sợi trong lúc
nghỉ lao động sản xuất, lúc đi dường hay họp chợ, để có nguyên liệu cho
công việc dệt vải thường được tiến hành vào tháng 11-12. Mỗi năm, một
người có thể làm được 4-5 tấm vải, mỗi tấm dài 20 vuông khổ nhỏ.
Cây thuốc phiện trước đây được trồng nhiều đem lại nguồn thu
nhập quan trọng; nay không được trồng nữa đã gây ra những xáo trộn trong
đời sống kinh tế của người H'mông.
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
15
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
Chăn nuôi cũng là ngành kinh tế bổ trợ quan trọng trong cơ cấu hệ
thống kinh tế nông nghiệp H'mông. Các loại gia súc, gia cầm chính thường
được các gia đình nuôi gồm có trâu, ngựa, lợn, gà Mục đích chính của
kinh tế chăn nuôi là nhằm thỏa mãn các nhu cầu về sức kéo, vận chuyển;
đôi khi các sản phẩm của kinh tế chăn nuôi còn được dùng vào các mục
đích tôn giáo, tín ngưỡng (lễ tết, ma chay ) hay trong các dịp sinh hoạt
cộng đồng khác (như cưới hỏi, về nhà mới ). Xưa kia đàn gia súc còn là
một tiêu chuẩn đánh giá giàu nghèo, nên các gia đình người H'mông đều
mong muốn có đàn gia súc, gia cầm đông đúc.
Kinh tế tự nhiên (săn bắt, đánh cá, hái lượm) cũng có vị trí khá
quan trọng trong đời sống thường nhật của người H'mông. Họ thường thu
hái củ gấu, đẳng sâm, hà thủ ô, hoàng liên, cánh kiến, chè , những thứ có

hoặc xào. Các loại thị nếu có nhiều ăn tươi không hết họ thường để dành
bằng cách sấy khô trên gác bếp. Rau xanh, đậu đỗ, bầu bí cũng thường
được xào hoặc nấu canh. Cơm và rau được xúc ăn bằng thìa. Thông thường
vào các dịp tết hoặc khi có khách bữa cơm bao giờ cũng sang hơn ngày
thường. Khi có khách, phụ nữ không được ngồi ăn chung với mâm khách.
Khi bầy mâm, bát thức ăn chung và bát muối ớt được đặt ở giữa; nhiều
người cho rằng đây chính là biểu hiện của tính cộng đồng vốn thể hiện rất
rõ ở các dân tộc phương Đông. Người H'mông rất thích uống rượu; chủ yếu
là rượu ngô được chưng cất. Khi uống dùng bát hoặc chén. Xưa kia, người
H'mông hút nhiều thuốc phiện; hầu như gia đình nào cũng có từ một đến
vài ba bàn đèn. Cả đàn ông, đàn bà, người già, trung niên đều hút thuốc
phiện. Đồng bào thường hút trước lúc đi làm, sau khi ăn trưa, sau bữa ăn
tối. Trong các dịp đám ma, đám cưới đều có hút thuốc phiện. Một số
người hút thuốc lào đồng bào tự trồng, tự thái phơi để hút.
Trang phục: Người H'Mông có một đặc biệt là xe sợi lanh dệt vải.
Lanh trồng vụ xuân đến tháng 7 – 8 thu hoạch đập bỏ lõi, vỏ phơi khô tước
nhỏ xe sợi dệt thành vải. Chỉ trừ lúc ở ngoài ruộng, trên nương, lúc ngủ còn
thì ở nhà, đi đường, đi chợ phụ nữ H'Mông lúc nào cũng có bó lanh vắt vẻo
trên vai, luôn tay tước lanh xe sợi.
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
17
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
Trang phục của phụ nữ H'Mông rất sặc sỡ, đa dạng, gồm: váy, áo xẻ
ngực có yếm lưng, tấm xiêm che trước bụng, thắt lưng, khăn cuốn đầu to
xù, xà cạp quấn hai bụng chân. Váy của phụ nữ H'Mông hình nón cụt, xếp
nếp xòe rộng. Tuy vậy, mỗi nhóm H'Mông khác nhau váy áo cũng có
những nét khác nhau. Váy của người H'Mông Trắng để nguyên vải sợi lanh
se, có thêu chỉ màu sặc sỡ quanh gấu; áo thì xẻ ngực có thêu hoa văn ở

trình, cột gỗ kê đá tảng đẽo hình đèn lồng hay hình quả bí, mái lợp ngói,
sàn gác lát ván. Nhà nghèo phổ biến là nhà bưng ván hay vách nứa, mái
tranh. Ngoài thờ “ma nhà” người Hmông còn thờ “cột ma nhà”. Cột này
nằm ở vì kèo thứ hai ngăn giữa hai đầu hồi bên phải. Người Hmông quan
niệm “cột ma” là cột linh thiêng, người ta kiêng không được ngồi dựa vào
cột, không treo lên cột bất cứ thứ gì. Khi sinh con, nếu là con trai, nhau đẻ
được chôn ở dưới cột này (nhau của trẻ em gái chôn dưới gầm giường ở
vách gian giữa nơi đặt bàn thờ). Khi dựng nhà, khâu quan trọng nhất là việc
dựng cột ma. Mùa làm nhà của người H'mông thường từ tháng 11 đến
tháng giêng âm lịch. Việc san nền, dựng cột thường phải chọn ngày giờ tốt,
theo quan niệm của đồng bào. Trước khi dựng cột, chủ nhà mổ lợn, gà để
cúng cột ma. Người Hmông cũng cúng “ma cửa” khi trong nhà có người
ốm đau, dịch bệnh. Khi có người đẻ, chủ nhà cầm cành lá xanh đầu hồi nhà
báo hiệu khách lạ không nên vào vì sợ mang rủi ro đến cho đứa trẻ.
Hôn nhân, gia đình: Người H'mông quan niệm rằng việc dựng vợ
gả chồng trước hết là để có con cái nối dõi tông đường, đồng thời nâng cao
uy tín dòng họ, tăng lực lượng lao động cho gia đình và có chỗ nương tựa
lúc tuổi già sức yếu. Nhìn chung, nam nữ H'mông lấy vợ lấy chồng tương
đối sớm. Trước kia không thiếu trường hợp con trai 12-13 tuổi đã lấy vợ;
người vợ thường nhiều hơn chồng 5-7 tuổi. tuổi kết hôn hiện nay thường là
17-18 đối với con trai, 15-16 đối với con gái. Ở người H'mông con gái đôi
mươi mà chưa lấy được chồng đã bị coi là đã “quá lứa”, khó tìm được
người bạn vừa ý. Gia đình người H'mông là gia đình một vợ một chồng bền
vững, cư trú bên chồng. Ngoại hôn dòng họ là nguyên tắc cơ bản trong hôn
nhân; hiện tượng nội hôn tộc người không bị tập quán hạn chế song trên
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
19
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung

20
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
hệ trọng như tang ma, cưới xin tuy có bàn bạc với vợ nhưng quyền quyết
định chính vẫn thuộc về người chồng.
Tính phụ quyền còn thể hiện trong ngôi nhà người H'mông, ở tục lệ,
chỗ gần nơi thờ “ma nhà” khi ngồi ăn, duy nhất có chủ nhà mới được ngồi
quay lưng vào; vợ, con cái không bao giờ được ngồi vào vị trí đó. Con cái
tính theo dòng cha. Tài sản của gia đình như: ruộng, nương, các nông cụ,
trâu, bò, ngựa, tiền bạc khi đem trao đổi, cầm cố, bán chác, ý kiến của chủ
nhà là quyết định. Tài sản trong gia đình chỉ chia cho con trai, không chia
cho con gái. Thứ của hồi môn duy nhất của người con gái được mang về
nhà chồng là váy áo và đồ trang sức.
Việc phân công lao động trong gia đình thường theo giới và tùy
theo độ tuổi từng thành viên. Con trai lo việc nặng nhọc hơn: cày, bừa, chặt
gỗ, đi săn, rèn, mộc con gái: bếp núc, chăn gia súc, lấy củi, hái rau Khi
đến tuổi trưởng thành, con gái được tự do tìm hiểu, yêu đương. Mỗi thành
viên trong gia đình ngoài việc phải tuân thủ theo luật tục của dòng họ và
cộng đồng còn phải khuôn mình trong gia pháp mà người đại diện cao nhất
chính là người chồng, người cha - chủ gia đình.
Dòng họ: Trong xã hội truyền thống của người H'mông có tồn tại
khá rõ một loại hình tổ chức xã hội dựa trên quan hệ huyết thống đó là
dòng họ (xênh). Trước đây hầu như mỗi vùng hay trong làng đều có một
dòng họ vừa đông đúc vừa có thế lực nhất. Ngày nay hầu hết các họ người
H'mông đếu sống xen kẽ với nhau và một làng thường có ít nhất là hai họ.
Có hai phạm trù cố kết trong dòng họ: ở phạm trù rộng gồm tất cả
những người cùng họ cư trú ở khắp nơi. Người H'mông hay nhận nhau để
biết cùng dòng máu hay không, dấu hiệu nhận họ là cùng họ và cùng ma.
Những người chỉ cùng họ “thùng xênh” mà không cùng ma “thùng đang”
thì không chết ở nhà nhau được, mặc dù có những kiêng kỵ như nhau.

đình này sang gia đình khác trong dòng họ.
Đứng đầu dòng họ là trưởng họ gọi là “hố pâu” (gốc), “ua thâu” (cái
đầu). Trưởng họ do con trai trưởng của ngành trưởng giữ chức và cha
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
22
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
truyền con nối. Trưởng họ là người am hiểu phong tục dòng họ, biết cúng,
lắm lý lẽ và có uy tín. Một số nơi trưởng họ được xem như thầy cãi lý
“tráng kê” cho dòng họ. Trưởng họ là người có phẩm chất trung thực, kinh
nghiệm tổ chức lao động, được các dòng họ khác kính nể. Tiếng nói của
ông có trọng lượng, ông ta có nhiệm vụ duy trì sinh hoạt trong dòng họ,
đảm đang việc thờ cúng tổ tiên, bàn bạc cưới gả, triệu tập các cuộc họp khi
họ có việc hệ trọng (tang ma, cưới xin, làm nhà mới, thừa kế, xích mích ),
giải quyết bất hòa giữa dòng họ mình với dòng họ khác, dàn xếp tranh chấp
đất đai, tài sản, xử lý các vi phạm luật tục, quyết định trong việc định cư
hay di chuyển của cả dòng họ. Nói chung, người trưởng họ của người
Hmông có vai trò rất quan trọng, mức độ uy tín của trưởng họ khác nhau.
Những bậc cha, chú là người giám sát việc làm của trưởng họ. Nếu ông ta
không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ bị bãi miễn. Ý kiến của trưởng họ có
trọng lượng nhưng không thể đi lại quyền lợi chung của cả dòng họ.
Trưởng họ không được hưởng quyền lợi gì ngoài sự kính trọng của các
thành viên. Ngoài trưởng họ còn có bà cô “nhẵng” (chị em gái của bố) cũng
là người có vai trò quan trọng. Tuy đã thành ma nhà người khác nhưng bà
ta vẫn có trách nhiệm với dòng họ mình, góp ý kiến trong cưới gả cháu gái,
quyết định đồ sính lễ, thách cưới. Khi bố mẹ cháu mất, bà có thể thay mặt
gia đình bàn bạc với các bậc cha chú trong dòng họ để làm ma. Nếu nghi
thức làm ma muốn thay đổi chút ít phải được sự đồng ý của bà cô.
Như vậy, người H'Mông ở Mù Cang Chải có nền kinh tế nương rẫy,

H'Mông. Sự thờ cúng tổ tiên thể hiện trong quan niệm, nghi lễ và các
điều kiện kiêng kị, huyền thoại về tổ tiên.
Thờ cúng tổ tiên “đó là thờ cũng ông bà, cha mẹ và những người
đồng tộc đã chết và trước hết là các hình thức gia đình - thị tộc của sự
thờ cúng đó, tức là lòng tin rằng tổ tiên đã chết, che chở cho con cháu
đang sống và những nghi lễ cầu xin cho các thành viên thị tộc hay gia
đình tiến hành để nhằm thờ phụng tổ tiên. [28; 312]
Líp: K55B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
24
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Kim
Dung
Người Thái quan niệm tổ tiên chỉ là thế hệ cha của chủ nhà.
Người Tày quan niệm tổ tiên gồm 4 đời (cha, ông, cụ, kỵ). Nhưng
người H'Mông quan niệm tổ tiên là những người đã chết trong 3 đời trở
lại (cha, ông, cụ). Quan niệm này thể hiện trong các bài khấn mời tổ
tiên (cúng năm mới, cúng ma trâu…) chủ nhà hoặc thầy cúng đều gọi
tên tuổi những người thuộc 3 thế hệ đã khuất trở về ăn tết với con cháu,
phù hộ cho con cháu làm ăn. Trong một bản người H'Mông thường có
vài dòng họ, mỗi dòng họ có một ông tổ cụ thể đã chết mà người già ở
thế hệ cao nhất trong phả hệ còn nhớ được.
Các thành viên trong dòng họ gắn bó chặt chẽ với nhau bởi cùng
một phả hệ dòng tam do một ông tổ sinh ra. Thông thường nếu tính từ
thế hệ con lên đến ông tổ là 3 đời. Trong dịp làm ma bò (ma trâu) “nhu
đa” tất cả các thành viên trong dòng họ phải tới dự. Đồ cúng bày theo
đúng quy cách của từng dòng họ, theo số lượng cụ thể của mỗi dòng họ,
nhưng thông thường bát cúng thứ nhất mời tổ tiên, bát cúng thứ hai mòi
cha mẹ đã khuất, bát cúng thứ ba mời những người đã khuất cùng thế
hệ cha mẹ, bát cúng thứ tư trở đi mời những người trong họ hàng, mời
ma nhà, ma rừng, ma suối, ma núi… Trong lễ cúng, ông trưởng họ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status