1
PHẦN MỞ ĐẦU
I.
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trà Vinh là một tỉnh nằm giữa sông Tiền và sông Hậu thuộc miền Tây
Nam Bộ. Đây là vùng đất tụ cư lớn của dân tộc Khmer đồng bằng sông Cửu
Long. Toàn tỉnh có hơn 300.000 người Khmer, chiếm 1/3 dân số. Là một dân
tộc có chữ viết riêng từ rất lâu đời, người Khmer đã biết ghi chép những tri
thức dân gian trên lá buông (Satra), trên giấy xếp (Kờ răng)... Bên cạnh đó
Văn học dân gian truyền miệng vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống, rất
phong phú về thể loại lẫn đề tài, tồn tại hầu hết mọi sinh hoạt của người dân,
trong lao động sản xuất, trong hội hè vui chơi, trong sinh họat lễ nghi, phong
tục… đã tồn tại cho đến ngày nay.
Nói đến văn học dân gian của người Khmer, có lẽ chúng ta không thể
không nhắc đến những bài dân ca đậm đà màu sắc dân tộc. Đó không chỉ là
những câu hát ngắn dài với nhịp điệu say đắm, thiết tha nhằm làm nguôi ngoai
cảnh sống còn nhiều khó khăn, vất vả mà nội dung cũng như ý nghĩa của nó
sâu sắc và mang tính nhân văn rõ nét, thông qua những sinh hoạt, phong tục
tập quán, quan niệm sống được phản ánh trong tác phẩm. Dân ca Khmer được
các thế hệ nghệ nhân quần chúng sáng tạo nên, chắt chiu gìn giữ và lưu truyền
cho đời đời con cháu ngay trong quá trình khai phá thiên nhiên, chiến đấu
chống kẻ thù, lao động xây dựng quê hương đất nước. Vì vậy có thể nói rằng
dân ca Khmer là tấm gương trong suốt phản chiếu toàn diện đời sống vật chất
tinh thần của nhân dân địa phương trải qua nhiều thế hệ.
Dân ca là một phần của hồn thiêng dân tộc một phần của sông núi quê
hương. Thật là thiếu xót khi chúng ta chưa hiểu và chưa yêu cái hồn thiêng
của mảnh đất này qua dân ca cũng như các giá trị văn hóa khác. Bởi chưa hiểu
và chưa yêu nên lâu nay cái hồn thiêng ấy cứ bị mai một dần trước những làn
Khmer ở Việt Nam từ phong tục, tập quán, tín ngưỡng cho đến các nghề thủ
3
công truyền thống như đan lát, làm đường thốt nốt… Trong đó, ông cũng có
đề cập đến người Khmer ở tỉnh Vĩnh Bình (tỉnh Trà Vinh hiện nay).
Sau năm 1975:
- Người Khơ Me Cửu Long của Viện văn hoá phối hợp với Sở Văn hoá
thông tin Cửu Long năm 1987, thực hiện một chuyên khảo về người Khmer ở
tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long hiện nay, đó là Trong công trình này, các tác giả
có dành một chương (chương III: từ trang 109 đến trang 158 - do Huỳnh Ngọc
Trảng viết) để viết về văn học và nghệ thuật của người Khmer Nam Bộ, trong
đó có phần dành cho văn học dân gian nhưng còn khá sơ sài và chưa thể coi là
đại diện cho toàn thể văn học dân gian Khơ Me Nam Bộ được.
- Văn hoá và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long (1990) do nhóm tác giả
Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường chủ biên đã tiếp cận nghiên
cứu người Khmer Nam Bộ về dân số, dân cư, kinh tế-xã hội, văn hoá vật chất
và đời sống tinh thần, trong đó, phần viết về người Khmer được viết xen kẽ
với người Hoa, Chăm, Kinh và các dân tộc khác. Riêng phần văn học dân gian
của người Khmer thì chưa được chú ý nhiều, chỉ thấy xuất hiện 5 bài dân ca
Khơ Me trong phần viết về phong cách ứng xử của người nông dân các dân
tộc Nam Bộ
- Văn hoá người Khơ Me ở Đồng bằng sông Cửu Long (1993) do giáo
sư Trường Lưu chủ biên là công trình có giá trị trong việc nhận diện sự biến
đổi văn hoá của người Khmer sau gần 30 năm kể từ công trình của Lê Hương.
Trong cuốn sách này, nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, người phụ trách
phần viết về văn học Khmer Nam Bộ, đã dành đến 73 trang sách (từ trang 150
đến trang 223) cho phần văn học, trong đó phần văn học dân gian được tác giả
viết sâu sát và có nhiều kiến giải có giá trị.
Nam Bộ nói chung. Cụ thể, năm 2007 với bài nghiên cứu Diện mạo văn học
dân gian Khmer Nam Bộ đã đưa ra lời nhận xét khá bao quát về dân ca
Khmer: “Sinh hoạt ca hát dân gian của người Khmer đặc biệt phổ biến, nó là
5
sân chơi cho cả cộng đồng, già trẻ, lớn bé, gái trai đều có thể tham gia. Hoạt
động ca hát không chỉ diễn ra vào các dịp hội hè (Chol chnam Thmay, hay Ok
Om Bok) mà cả trong sinh hoạt nghi lễ - phong tục, trong lao động sản xuất,
ngoài đồng ruộng, trên sông rạch và cả trong gia đình để bày tỏ tâm tình hay
xua tan đi nỗi mệt nhọc, vất vả trong lao động” [27, tr. 74 – 75]. Đặc biệt, tác
giả còn đưa ra nhận định vô cùng quan trọng: “Một điều đặc biệt cần nhấn
mạnh khi nghiên cứu văn học dân gian Khmer Nam Bộ là sự gắn bó chặt chẽ
giữa một số tích truyện và ca dao – dân ca với hình thức diễn xướng trong
sân khấu dân gian, lễ hội dân gian và thực tế cuộc sống hằng ngày của người
Khmer Nam Bộ” [27, tr. 75]. Ở bài viết Các dạng tồn tại có thể quan sát được
của văn học dân gian Khmer Nam Bộ, tác giả Lê Trung Vũ đưa ra ý kiến có
tính chất tổng hợp: “Hoạt động nhiều mặt của người lao động Khmer Nam Bộ
là tiền đề vật chất để sáng tạo ra nhiều đề tài của dân ca” [65, tr. 3]. Dựa vào
đặc điểm này, Lê Trung Vũ đã phân chia dân ca Khmer Nam Bộ thành ba loại:
hát lao động và hát nghề nghiệp, hát phong tục - nghi lễ, hát trữ tình - sinh
hoạt cùng với một vài nét phác họa về đặc điểm của nó.
Một vài thể loại văn học dân gian đồng bằng Sông Cửu Long của Châu
Ôn, 1981 lại phân biệt ca hát (châmriêng) với dân ca (Bât châmriêng). Theo ý
ông, ca hát là lời ca gắn với các làn điệu dân ca nhưng tiếc rằng ông không
đưa ra được cách hiểu của mình về dân ca.
Tổng quan về văn học dân gian Khmer Nam bộ của Nguyễn Thị Kiều
Tiên được đăng trên tạp chí Đại học Sài gòn số chuyên đề bình luận văn học
(2011) cũng khẳng định “đặc điểm quan trọng của dân ca Khmer là ít có mối
của nó đặt trong bối cảnh văn hóa và môi trường sống.
Khảo sát diễn hóa của loại hình này trong đời sống thực tiễn để tìm hiểu
tác động qua lại giữa nó với hoạt động tinh thần của người Khmer Trà Vinh.
Từ đó có thể hiểu thêm những tương đồng, dị biệt của loại hình này trong hệ
7
thống thể loại dân ca của dân tộc. Như vậy có thể nói mục tiêu của luận văn
hướng tới không chỉ là các biểu hiện về hình thức của loại hình mà còn tập
trung chú ý đời sống đích thực của dân ca trong lĩnh vực hoạt động tinh thần
của người Khmer Trà Vinh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng chính của luận văn là những sáng tác trữ tình dân gian của
người Khmer đang tồn tại trong đời sống sinh họat hằng ngày mang đặc điểm
của thể loại dân ca dân gian trong Tỉnh Trà Vinh.
Để thấy rõ giá trị, ý nghĩa của dân ca Khmer Trà Vinh, luận văn có sự so
sánh một vài phương diện về nội dung và nghệ thuật dân ca của dân tộc Việt,
dân tộc Hoa Trà Vinh
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu chính của luận văn được giới hạn ở khu vực có
đông đồng bào Khmer sinh sống của tỉnh như: Thành phố Trà Vinh, Trà Cú,
Cầu Ngang, Duyên Hải, Cầu Kè.
Về tư liệu, luận văn sử dụng những tư liệu thành văn những công trình
đã được công bố về văn hóa, văn học dân gian của người Khmer Nam Bộ xuất
bản bằng tiếng Việt lưu hành tại Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê: thu thập tư liệu thành văn, tư liệu điền dã, hệ
thống, xử lý và phân tích các nguồn thông tin liên quan về dân ca của người
Lý do chọn đề tài
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Bố cục của luận văn.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
I.1. Người Khmer ở Trà Vinh
- Đặc điểm địa lí – dân cư
- Đặc điểm xã hội
- Đặc điểm văn hóa tinh thần
I.2. Khái niệm dân ca và vấn đề phân loại
- Khái niệm dân ca
- Phân loại
I.3. Khái quát về dân ca Khmer và dân ca Khmer lưu truyền ở Trà Vinh
- Tình hình tư liệu
- Giới thiệu một số làn điệu dân ca Khmer tiêu biểu
Chương II: Đặc điểm dân ca Khmer lưu truyền ở Trà Vinh trên phương
diện ngôn từ
II.1. Nội dung văn hóa của dân ca Khmer lưu truyền ở Trà Vinh
- Tình yêu lao động, thiên nhiên, xứ sở
- Tình cảm gia đình, cộng đồng, làng xóm.
- Tình yêu lứa đôi
2.
Trần Văn Bính (2004), Văn hoá các dân tộc Tây Nam Bộ thực trạng và
giải pháp, Nxb KHXH.
3.
Trần Văn Bính (2006), Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá
trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, Nxb Lí Luận Chính trị.
4.
Trần Văn Bổn (2002), Phong tục Lễ nghi vòng đời người Khmer Nam
bộ, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
5.
Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum, sóc Người Khmer ở Đồng bằng sông
Cửu long, NXB Giáo dục
6.
Nguyễn Mạnh Cường (2002), Vài nét về người Khmer Nam bộ, NXB
7.
KHXH.
Chu Xuân Diên (Chủ biên) (2002), Văn học dân gian Sóc Trăng, NXB.
8.
19. Đinh Gia Khánh (1993), Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn
hoá Đông Nam Á, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
20. Khoa Ngữ văn và Báo chí Đại học KHXH và NV TPHCM (2005), Văn
học dân gian Bạc Liêu, NXB Văn Nghệ TPHCM.
21. Đặng Văn Lung (1996), Giữ gìn và phát triển văn nghệ truyền thống của
các dân tộc thiểu số Việt Nam, Tạp chí Văn học, Hà Nội, số 9, tr. 23-28.
22. Huỳnh Lứa (1987), Lịch sử Khai phá vùng đất Nam bộ, NXB TPHCM.
23. Trần Hồng Liên (chủ biên) (2002), Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc
Trăng, NXB KHXH.
24. Đoàn Văn Nô (1995), Người Khmer ở Kiên Giang, NXB Văn hoá Dân
tộc, Hà Nội.
25. Thạc Nhân (1965), Bài viết Tìm hiểu văn hóa và xã hội người Việt gốc
Miên, Nhà Văn hóa - Tổng Bộ Văn hóa.
26. Nhiều tác giả (1986), Tìm hiểu Kiên Giang, Ban nghiên cứu lịch sử
Đảng tỉnh Kiên Giang.
27. Nhiều tác giả (1990), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
28. Nhiều tác giả (2006), Dân ca Việt Nam - Những làn điễu dân ca phổ
biến, NXB Âm Nhạc.
29. Nhiều tác giả (1993), Văn hoá người Khơ Me vùng đồng bằng sông Cửu
Long, NXB văn hoá dân tộc, Hà Nội.
30. Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ - Ca dao - Dân ca Việt Nam, NXB Khoa học xã
hội.
31. Châu Đạt Quan (1973), Chân lạp phong thổ ký, NXB Kỷ Nguyên Mới,
Sài Gòn.
32. Đào huy Quyền (2009), Nghệ thuật diễn xướng của người Khmer Nam
bộ, tạp chí khoa học và xã hội Việt Nam
33. Lý Minh Trân (2010), Luận văn Thạc sĩ Dân ca trong lễ hội của người
Khmer Sóc Trăng, Trường Đại học Cần Thơ.