MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay việc nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là
một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta, nhằm mục đích tìm hiểu
được những tâm tư nguyện vọng của Cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống
ở nước ngoài để nhà nước có những chính sách thích hợp hơn đối với Kiều bào.
Tìm hiểu, nghiên cứu văn hoá tinh thần của cộng đồng người Việt Nam ở
tỉnh Sakôn Nakhon nói riêng và Thái Lan nói chung, nhằm góp phần thực hiện
tốt nhất chủ trương của Việt Nam đối với chính sách Việt Kiều trong tình hình
mới hiện nay. Như trong Báo cáo chính trị Đại hội toàn quốc lần thứ IX của
Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu: “Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là
một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt
Nam. Mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất
thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu
chung:độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, một nước Việt Nam giàu mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh" Việc nghiên cứu về văn hóa của người Việt
ở Thái Lan còn đưa ra những gợi ý, kiến nghị với nhà nước nhằm đưa ra những
chính sách thích hợp trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống
của người Việt Nam ở nước ngoài, để bản sắc văn hóa truyền thống ấy trở thành
động lực cho sự đoàn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với người
Việt trong nước.
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, Thái Lan cũng từng
là mảnh đất lý tưởng cho người Việt Nam sang sinh sống và hoạt động cách
mạng cứu nước. Đợt di cư đông đảo nhất của người Việt đến Thái Lan vào năm
1945-1946. (trong đó có tỉnh Sakôn Nakhon). Tỉnh Sakôn Nakhon là một trong
số 7 tỉnh Đông Bắc có người Việt sinh sống, không có đường biên giới tiếp giáp
với Lào, nằm ở vị trí trung tâm giữa các tỉnh có người Việt. Số lượng người Việt
xếp vào loại trung bình so với các tỉnh, ngoài ra còn là nơi chủ tịch Hồ chí Minh
đã đến hoạt động cách mạng và lập trường học cho con em Việt kiều trong những
năm đầu thế kỷ XX.
1
vào xã hội Thái.
2
- Tìm hiểu những nguyên nhân chính tác động đến sự bảo lưu và biến đổi,
hội nhập văn hóa của cộng đồng người Việt tại tỉnh Sakôn Nakhon, Thái Lan.
- Nêu ra những tâm tư và nguyện vọng của các thế hệ Việt Kiều về đời
sống văn hóa tinh thần của mình, cung cấp cho Đảng và Nhà nước những cứ liệu
khoa học, nhằm đưa ra những chính sách thích hợp nhằm bảo tồn phát huy bản
sắc văn hóa của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
3. Đối tượng, phạm vi và địa bàn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là đời sống văn hóa tinh thần của
“Cộng đồng người Việt” hay “Việt Kiều” đang sinh sống tại tỉnh Sakôn Nakhon,
Thái Lan, nghĩa là những người Việt đã di cư sang sinh sống nhiều năm ở Thái
Lan (bao gồm những người đã hoặc chưa được nhập Quốc tịch Thái), mà phần
lớn trong số họ đã di cư sang sinh sống tại Thái Lan từ những năm 1975 trở về
trước). Văn hóa tinh thần là một phạm trù rộng lớn nên trong khuôn khổ của một
đề tài luận án, chúng tôi chỉ tập trung vào những mặt văn hóa tinh thần nổi trội
của Việt kiều trong quá trình bảo lưu, giữ gìn và biến đổi hội nhập như: Về sử
dụng ngôn ngữ; Phong tục cưới hỏi; phong tục tang ma; Tôn giáo tín ngưỡng và
văn hóa ứng xử; Và những yếu tố tác động đến vấn đề bảo lưu và biến đổi văn
hóa.
4. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu của luận án dựa trên các tài liệu được xuất bản bằng ba thứ
tiếng: Tiếng Việt, Tiếng Anh và tiếng Thái.
Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt dựa trên một số văn bản, nghị định, chính
sách chính thức của Bộ ngoại giao Việt Nam, Ủy ban người Việt Nam ở nước
ngoài. Tạp chí Quê hương online. Các cuốn sách, bài tạp chí, công trình đề tài
nghiên cứu về người Việt ở Thái Lan đã được xuất bản công bố trong nước.
Nguồn tài liệu bằng tiếng Thái và tiếng Anh được dựa trên các cuốn sách
đã xuất bản tại Thái Lan, một số văn bản chính sách của Thái đối với cộng đồng
người Việt mà tác giả đã thu thập ở một số thư viện các trường đại học lớn của
Sakôn hiện nay
Chương 3. Biến đổi và hội nhập văn hóa của cộng đồng người Việt ở
Sakôn Nakhon
Chương 4. Kết quả và bàn luận
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU,
ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Việc nghiên cứu cộng đồng người Việt ở Thái Lan đã được các học giả
người phương Tây như Pháp, Mỹ và các học giả là người Thái Lan nghiên cứu từ
rất sớm. Các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài chủ yếu tập
chung vào địa vị thân thế hoàn cảnh nhập cư và các chính sách của Thái Lan đối
với người Việt sinh sống tại Thái Lan.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, ngoài những công trình sách và các bài viết liên quan đến đề
tài đã xuất bản, gần đây còn nhiều các công trình cấp nhà nước, và cấp bộ, luận
văn liên quan đến nghiên cứu về Việt Kiều Thái Lan của các trường Đại học, Ủy
ban nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài…
Nhìn chung, cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết có
giá trị khoa học cao ở trong nước và nước ngoài liên quan đến cộng đồng người
Việt ở Đông Bắc Thái Lan. Các tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như Lịch sử, nhân học văn hóa, nghiên cứu liên ngành để nghiên cứu về
cộng đồng người Việt Nam trên đất Thái. Từ năm 1976 về trước, các công trình
chủ yếu viết về những chính sách của Thái Lan đối với người Việt và địa vị của
người Việt trên đất Thái trong những năm chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.
Từ năm 1976 đến nay, các công trình và các bài viết tập trung nghiên cứu về kinh
tế- xã hội, sự hoà nhập của cộng đồng người Việt vào xã hội Thái. Đặc biệt,
Phương pháp nghiên cứu điền dã, Phỏng vấn sâu, Thảo luận nhóm, Phương
pháp điều tra xã hội học, Phương pháp so sánh,Phương pháp tổng hợp thống kê
1.3. Địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Sakôn Nakhon nằm trong khu vực văn hóa Đông bắc (hay còn gọi I-
sản), người Việt di cư đến Sakôn Nakhon cũng trong hoàn cảnh tương tự với
người Việt đến các tỉnh vùng I-sản. Đông Bắc Thái Lan bao gồm 19 tỉnh, có diện
tích gần 160.000 km
2
. Những người dân vùng Đông Bắc có ngôn ngữ và văn hóa
gần như tương đồng với ngôn ngữ và văn hoá của người Lào.
1.3.1. Sự hình thành cộng đồng người Việt ở Đông Bắc Thái Lan
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng những nhóm người Việt đầu tiên định cư
ở Thái Lan là ở Ayuthaya từ thế kỷ XVII. Đến thời kỳ Thônburi (1767- 1782),
Thời kỳ Băng cốc (từ Triều đại Rama I - đến Rama III) đã hình thành một cộng
đồng người Việt đông đảo ở Thái Lan và sống tập trung ở hai khu vực Bang phô
và Sảm xẻn.
6
Đến giai đoạn từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945, người Việt nhập cư
vào Thái Lan vẫn diễn ra rải rác, nhưng lại mang màu sắc chính trị rõ nét hơn,
chứ không đơn thuần là kinh tế.
Đợt di cư lớn nhất của người Việt vào vùng Đông Bắc Thái Lan là vào
thời kỳ năm 1945-1946. Theo con số thống kê của cảnh sát Thái Lan thì số lượng
người Việt di cư từ Campuchia và Lào sang Thái Lan giai đoạn này khoảng
46.700 người với khoảng 13.000 gia đình, đây được cho là đợt di cư lớn nhất của
người Việt sang Thái.
1.3.2. Khái quát về Cộng đồng người Việt ở tỉnh Sakôn Nakhon
1.3.2.1. Đôi nét về tỉnh Sakôn Nakhon
Vùng Đông Bắc Thái Lan, trong đó có tỉnh Sakôn Nakhon là vùng đất có
lịch sử lâu đời và là một trong những khu vực được cho là nôi của nền văn hóa
Thái cổ xưa nổi tiếng với Trung tâm văn hóa Bản Chiềng. Người Việt Nam đã di
Trải qua hơn năm thập kỷ sinh sống trên đất Thái, cộng đồng người Việt ở
Sakôn Nakhon, đã điều chỉnh lối sống văn hoá để thích ứng, phù hợp với hoàn
cảnh xã hội Thái Lan, nhưng bên cạnh đó họ vẫn gìn giữ những nét đặc trưng
riêng về văn hoá của người Việt, thông qua các phong tục đời sống hàng ngày.
2.1. Sự hiện diện của văn hóa tinh thần
2.1.1. Trong công trình công cộng
Các công trình kiến trúc có sự góp công sức lớn nhất của người Việt ở
Sakôn Nakhon là hai kiến trúc về tôn giáo của người Việt cũ (di cư trước năm
1945): đó là hai nhà thờ Thiên chúa tại xã Thare, huyện Mương nằm bên cạnh hồ
Noọng Hán và một nhà thờ tại khu vực Thếtsạban Sakôn, nằm gần khu vực cổng
vào thành phố.
Tại Sakôn Nakhon hiện còn dấu tích của hai công trình kiến trúc nhỏ bé
nhưng độc đáo và mang dấu ấn rõ nét về kiến trúc và văn hóa của người Việt từ
gần 60 năm nay. Hai kiến trúc này còn thể hiện tình cảm sâu nặng của Việt Kiều
với người Thái bản địa trước khi hồi hương về nước vào năm 1960.
Công trình thứ nhất là tháp chuông được xây dựng tại chùa Phrạthạt
Chơngchum, một ngôi chùa Phật giáo Tiểu thừa lớn nhất và công trình Phật giáo
có lịch sử lâu đời nhất ở Sakôn Nakhon.
Công trình thứ hai cũng gắn với tôn giáo Thái Lan là cổng chùa Vilay tại
huyện Phăng Khôn do Việt Kiều Sakôn Nakhon xây dựng tặng nhân dịp hồi
hương. Cổng chùa này cho đến nay vẫn được các sư trụ trì thường xuyên bảo
dưỡng rất chu đáo, coi như một bảo vật của địa phương.
Sở dĩ người Việt thường xây dựng các công trình lưu niệm hồi hương
trong các khuôn viên chùa chiền coi Phật giáo là Quốc đạo, là vì rất nhiều hoạt
động văn hoá xã hội của người Thái đều gắn với chùa chiền. Việt Kiều đã xây
dựng những công trình lưu niệm tại đây nhằm bày tỏ với tình cảm biết ơn của
Việt Kiều với nhân dân bản địa.
Những ngôi nhà gỗ của người Việt hiện nay còn rất nhiều ở Thare (Việt
Kiều cũ), một số được dựng theo kiểu nhà truyền thống của người Thái. Nếu
nhìn bề ngoài, những ngôi nhà của người Việt có kiến trúc rất giống với kiểu nhà
đang, quảng bá văn hoá của người Việt trên đất Thái.
2.1.4. Trong ăn uống
Người Việt đã đem được những tinh hoa trong món ăn truyền thống của
Việt Nam đến góp với “Bếp ăn” của người Thái.
Có sự pha trộn hài hoà về gia vị trong cách nấu nướng của người Việt kết
hợp với cách nấu nướng của người Thái cũng đã đem lại những món ăn hết sức
đa dạng và phong phú.
10
Các món ăn truyền thống như giò, chả, nem và một số các món ăn khác
của Việt Nam không những chỉ dành riêng cho Việt kiều mà còn được người
Thái bản địa muốn học nghề để phát triển kinh tế.
2.2. Giáo dục truyền thống, bảo tồn tiếng Việt
Người Việt ở Sakôn (đặc biệt là thế hệ Việt Kiều thứ nhất, tản cư sau năm
1946) luôn trăn trở với việc bảo tồn tiếng Việt. Điều này chính là sự thể hiện tinh
thần yêu nước và lòng khát khao bảo tồn văn hoá Việt Nam. Đối với những
người Việt bắt đầu tản cư sang đất Thái mà được sinh ra và lớn lên tại Lào hoặc
Việt Nam thì không gặp khó khăn gì trong vấn đề sử dụng tiếng Việt. Nhưng đối
với thế hệ người Việt được sinh ra trên đất Thái thì sẽ rất khó khăn đối với trong
việc sử dụng thành thạo tiếng Việt. Lý do cơ bản là vào những năm 50 đến
những năm 70 của thế kỷ XX, chính quyền Thái đã đưa ra một số chính sách
quản lý, và đàn áp rất gắt gao Việt Kiều ở các tỉnh Đông Bắc của Thái Lan.
Thế hệ Việt Kiều trên 40 tuổi (thế hệ thứ 2) thì sử dụng tiếng Việt và tiếng
Thái tương đương (nhưng cả 2 thứ tiếng đều không giỏi).
Khi giao tiếp trong gia đình Việt Kiều, thông thường nếu có thế hệ thứ
nhất và thế hệ thứ hai, mọi người họ thường sử dụng tiếng Việt; nếu có cả thế hệ
thứ ba thì họ thường sử dụng tiếng Thái. Trong các công việc có tính chất tổ chức
cộng đồng, thì cũng hầu hết mọi người sử dụng tiếng Thái (đám cưới, đám tang,
đón mừng năm mới).
Trong tình hình hiện nay, nếu thế hệ Việt Kiều không học tiếng Việt thì
khoảng 50 năm tới (tương đương với thế hệ Việt Kiều sang sinh sống ở Thái Lan
và dọn dẹp lại các ngôi mộ tổ tiên.
Trong những ngày lễ lớn của đất nước Kiều bào Sakon thường có những
hoạt động lớn hướng về đất nước và vẫn mang đậm những phong tục tập quán
của văn hoá Việt Nam. Vì vậy mong muốn của thế hệ Việt Kiều cao tuổi là cần
phải được giữ gìn và duy trì những hoạt động này cho các thế hệ sau.
2.3.4. Tôn giáo tín ngưỡng
Việt Kiều ngày càng hướng tới đến các ngôi chùa Phật giáo của Thái Lan.
Việt Kiều sinh sống ở khu vực Thếtsạban Sakon thường đến chùa Phrạthạt
Chơng Chum để cúng lễ (thăm bun). Các nghi lễ hành đạo ở đây cũng theo văn
hoá Phật giáo của người Thái.
Phần lớn giáo dân ở Sakon là Việt Kiều cũ và sinh hoạt theo Giáo hội
Công giáo Thái Lan. Tiến hành các nghi lễ tại Thánh đường vào các chiều thứ
bảy hàng tuần. Nhà thờ cũng là nơi để gặp gỡ và tổ chức cho Việt Kiều giáo dân
trong các buổi lễ kết hôn, tang ma, hay đặc biệt vào đêm Noel 24/12, Tết Dương
lịch hàng năm.
Việc thờ cúng tổ tiên của Việt Kiều Sakôn hiện nay cũng đang giản tiện đi
và ngày càng phai nhạt dần. Với lòng hướng về cội nguồn tổ tiên, mong muốn
thiết tha nhất của Việt Kiều là lập được một đền thờ các vị vua Hùng tại Sakôn
12
để hướng về cội nguồn, để cho nền văn hoá Việt Nam mãi trường tồn trong các
thế hệ Việt Kiều.
2.4. Quan hệ ứng xử
Văn hoá ứng xử hàng ngày giữa các thành viên gia đình Việt Kiều tại
Sakon cũng vẫn được duy trì theo cách ứng xử văn hoá trong trong gia đình
người Việt truyền thống, có tôn ti trật tự, kính trên nhường dưới, con cái là chỗ
dựa cho cha mẹ khi đau yếu, về già. Chính vì được hưởng nền giáo dục tốt từ ông
bà cha mẹ nên con em Việt Kiều rất chịu khó làm ăn và học hành đạt được những
vị trí cao trong xã hội. Việc ứng xử với nhau trong cộng đồng của người Việt
thường mang tính tương trợ giúp đỡ nhau rất cao. Thể hiện rõ ràng nhất thông
qua qua việc tang ma, nó thể hiện đúng tình cảm của con người Việt Nam coi
văn hoá của người Việt Sakon nói riêng và Việt Kiều Thái Lan nói chung có
những nét đặc thù riêng thông qua những nét sinh hoạt văn hoá hàng ngày so với
các cộng đồng người Việt khác trên thế giới. Người Việt ở Sakôn luôn tự điều
chỉnh lối sống văn hoá một cách thích ứng nhất với cuộc sống hiện tại. Nên
người Việt đã có những nét văn hóa đặc trưng riêng là giao lưu và tiếp biến với
văn hóa bản địa ở cả lĩnh vực văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.
14
CHƯƠNG 3
BIẾN ĐỔI VÀ HỘI NHẬP VĂN HÓA
CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở SAKON NAKHON
3.1. Về ngôn ngữ
Cộng đồng Người Việt ở Sakôn hiện nay đang sử dụng hai ngôn ngữ phổ
biến nhất là tiếng Thái Lan và tiếng Việt (ngoài ra cũng có một số Việt Kiều có
tiếng Anh nhưng không sử dụng phổ biến trong giao tiếp cộng đồng). Cả hai
ngôn ngữ này đều có giá trị và vai trò khác nhau trong cộng đồng xã hội người
Thái ở tỉnh Sakôn Nakhon.
- Đối với thế hệ Việt Kiều thứ ba trở đi chủ yếu sử dụng tiếng Thái trong
giao tiếp hàng ngày. Tiếng Việt đang trong tình trạng dần dần bị mai một nhanh
chóng ở thế hệ thứ ba, chính vì vậy, khi Việt Kiều sử dụng tiếng Việt để giao tiếp
cũng bị ảnh hưởng và pha trộn của tiếng Thái.
Nhìn chung, việc sử dụng tiếng Việt của các thế hệ Việt Kiều sau này ở
Sakôn đã giảm đi rất nhiều trong cộng đồng người Thái gốc Việt đặc biệt là ở
những nơi công cộng. Do nhiều nguyên nhân mà tiếng Việt ít được sử dụng trong
cộng đồng, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là các thế hệ con em Việt Kiều được
sinh ra trên đất Thái đã được công nhận là công dân Thái Lan nên họ coi Thái
Lan là đất nước họ, và quê hương họ chỉ còn là gắn bó về nguồn gốc mà thôi.
3.2. Hội nhập với các phong tục của người Thái
3.2.1. Về phong tục hôn nhân
Hiện nay, việc tổ chức lễ cưới của Việt Kiều đã thay đổi gần như hoàn
toàn theo phong tục của người bản địa.
địa phương cùng Việt Kiều đã treo đèn kết hoa và những tấm băng rôn lớn chức
mừng năm mới bằng ba thứ tiếng Việt, Thái và Trung. Vào đêm giao thừa Việt
Kiều thường lập một bàn thờ cúng đón giao thừa tại giữa trung tâm thành phố.
Mối quan hệ giữa người Việt Kiều và nhân dân Thái bản địa luôn có
những tình cảm tốt giành cho nhau, người Việt luôn biết ơn đến tình cảm giúp đỡ
của người Thái, đặc biệt khi họ mới sang Thái ngày đầu.
3.3. Những nguyên nhân chính tác động đến quá trình biến đổi văn
hóa
3.3.1.Tác động của các chính sách Thái Lan
Hàng loạt các chính sách của Thái trước đây đã tác động tiêu cực đến
cộng đồng Việt Kiều. Việc chính phủ Thái cấm dạy và học tiếng Việt trong một
thời gian dài cũng là nguyên nhân mất dần đi ngôn ngữ và bản sắc văn hóa của
người Việt.
16
Chủ trương hòa đồng xã hội của chính quyền Thái Lan đã từng bước ảnh
hưởng đến việc bảo lưu văn hóa của mọi cộng đồng người nhập cư (Việt, Ấn,
Hoa).
3.3.2.Yếu tố từ bên trong cộng đồng
Đối với cộng đồng người Việt ở Sakôn, thì dường như việc mong muốn
hoà nhập với văn hoá Thái càng ngày càng diễn ra nhanh chóng trong những năm
gần đây.
3.3.3. Yếu tố bên ngoài cộng đồng
Hội nhập văn hóa của người Việt Sakôn vào xã hội Thái không gặp khó
khăn hay trở ngại lớn về ngôn ngữ, ẩm thực, trang phục…
Biến đổi văn hoá của người Việt Sakôn vào xã hội Thái, đặc biệt là do từ
khi chính quyền Thái cấp quốc tịch cho Việt kiều.
3.3.4. Yếu tố toàn cầu hoá
Trước ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, người Thái bản địa cũng như
Việt kiều cũng đều tiếp thu những nét văn hóa nổi bật từ phương Tây…
3.5. Một số so sánh về văn hóa tinh thần của Việt kiều Sakôn Nakhon
Trường hợp cộng đồng người Việt ở Sakôn tuy có những nét khác biệt về
văn hóa so với các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, nhưng đều có nét chung là Việt Kiều
Thái Lan đều liên lạc thường xuyên và thống nhất với nhau. Ngày nay, các chi
hội Việt Kiều ở Đông Bắc đều sinh hoạt chung dưới tổ chức Tổng hội Việt Kiều
Thái Lan, họ vẫn là một phần của dân tộc Việt Nam, vẫn luôn hướng về quê
hương đất nước, theo dõi từng bước phát triển của dân tộc.
18
CHƯƠNG 4
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
So với các cộng đồng người nước ngoài khác sinh sống trên đất Thái, thì
người Việt phải chịu thiệt thòi hơn bởi phải chịu một loạt những chính sách
“nghẹt thở” của Thái Lan vì những lý do chính trị đã ảnh hưởng đến quan hệ
ngoại giao giữa Việt Nam và Thái Lan trong suốt giai đoạn từ những năm 1950
đến 1975. Việt kiều luôn bị tự ti mặc cảm và phải sống trong tâm lý nặng nề suốt
trong thời gian khoảng 30 năm. Và phải đến sau những năm 1990, Thái Lan mới
có những chính sách cởi mở hơn đối với cộng đồng người Việt. Bắt đầu từ thời
gian này cộng đồng người Việt ở Thái Lan được hình thành rõ nét nhất trong đó
có Sakôn Nakhon: về số lượng, tính chất cộng đồng mạnh mẽ, tinh thần yêu nước
càng được khơi dậy tăng cao.
Người Việt ở trong đó có Sakôn Nakhon cũng như các tỉnh Đông Bắc
Thái Lan rất chịu khó làm ăn, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau và giữ được mối quan
hệ tốt đẹp với nhân dân Thái. Việt Kiều đã dần dần đã tạo dựng được cuộc sống
ổn định, có điều kiện cho con cái học hành thành đạt. Không những vậy Việt
kiều còn cống hiến sức người sức của giúp đỡ quê hương trong những năm chiến
tranh giải phóng dân tộc. Cộng đồng người Việt ở Sakôn Nakhon đã góp một
phần không nhỏ vào quá trình xây dựng và phát triển kinh tế vùng Đông Bắc nói
riêng và Thái Lan nói chung.
Việt Kiều Sakôn Nakhon luôn sống hoà đồng với xã hội và nhân dân Thái
Lan được người Thái yêu mến che chở giúp đỡ trong những lúc khó khăn. Điều
này còn được thể hiện qua tình cảm của những người Việt đã từng sống nhiều
trong các nghi lễ tang ma, đây là một trong những phong tục còn giữ được nhiều
nét văn hóa truyền thống gần với ở trong nước nhất, kể từ các công việc khâm
liệm cho đến mai táng. Một số lý do chính khiến cho việc tổ chức tang lễ không
thay đổi nhiều:
- Việt Kiều thế hệ thứ nhất (di cư năm 1945 - 1946) vẫn còn nhiều người
hiện đang sống và họ còn rất nhiều kinh nghiệm về phong tục tang lễ của người
Việt.
- Với người Thái, sau khi gia đình có người thân qua đời họ thường đưa
về nhà chùa làm lễ và sau đó đem đi hỏa táng, vì vậy nếu người Việt chọn hình
thức địa táng chỉ có cách là làm theo các phong tục tang ma ở trong nước mà
thôi.
- Thế hệ Việt Kiều thứ hai tại Sakôn hiện nay mặc dù họ sinh ra trên đất
Thái nhưng vẫn còn mang rất nhiều nét trội trong văn hóa Việt. Thế hệ này cũng
đã chứng kiến được những thăng trầm của cha mẹ họ trên đất Thái và họ cũng
luôn kính trọng những ý kiến của cha mẹ mình.
- Về mặt không gian địa lý, ngày nay điều kiện đi lại giữa hai nước dễ
dàng hơn, thông tin đại chúng da dạng hơn, do vậy Việt Kiều ở Sakon có nhiều
điều kiện về nước hơn để ngày càng cảm thấy gắn bó với quê hương.
20
Việc bảo tồn và phát huy văn hóa này được thế hệ Việt kiều thế hệ thứ
nhất và thứ hai rất quan tâm như vấn đề bảo tồn và truyền dạy tiếng Việt cho
các thế hệ sau, thông qua văn hóa ẩm thực và trang phục áo dài và đặc biệt
như đã phân tích là trong phong tục tang ma
Hiện nay việc bảo tồn nền văn hóa truyền thống của Cộng đồng người
Việt ở Sakôn Nakhon vẫn còn gặp tương đối nhiều thuận lợi nhưng cũng có
những khó khăn nhất định như: Các thế Việt kiều thứ ba trở đi còn rất ít người
biết tiếng Việt, vì ít được học tiếng Việt và tiếp xúc nhiều với văn hóa Thái,
nên thế hệ này cũng hiểu biết hạn chế về các phong tục văn hóa Việt truyền
thống.
Xu hướng biến đổi, hội nhập về văn hóa tinh thần
Lan mà cả đối với những người Việt đã hồi hương. Việc hòa nhập vào văn hóa
Thái còn được Việt Kiều hồi hương đã về định cư ở trong nước nhưng vẫn còn
hiện diện trong các cuộc gặp gỡ nhớ đến cho họ cơ hội cùng ôn lại những ngày
đã qua ở I- sản.
Mặc dù vậy nhưng văn hóa Việt vẫn chưa bao giờ hội nhập hoàn toàn vào
văn hóa Thái. Văn hóa Việt Nam có thể đã bị nhạt đi và pha trộn với văn hóa
Thái. Tuy nhiên, nền văn hóa này chưa bao giờ bị đồng hóa vào nền văn hóa
Thái; Nó có cách này hoặc cách khác để duy trì sự tồn tại trong người Việt ở mỗi
tỉnh Đông Bắc Thái Lan.
Một số đánh giá liên quan đến kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là vấn
đề vẫn còn những nhạy cảm nhất định, trong đó có Việt Kiều tại Thái Lan. Kết
quả nghiên cứu công trình của cũng đã thu thập được những thông tin đáng tin
cậy và đã đáp được những mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài đặt ra, đó
là phác dựng được một bức tranh tương đối về đời sống văn hóa tinh thần thông
qua một số nét sinh hoạt hàng ngày sử dụng ngôn ngữ, tôn giáo và tín ngưỡng,
văn hóa ứng xử giao tiếp, phong tục cưới hỏi và tang ma…Tuy vậy, cần phải đi
sâu vào nghiên cứu các lĩnh vực văn hóa tinh thần hàng ngày khác như phong tục
sinh đẻ, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ dân gian, quan sát và tham dự các dịp văn
hóa lễ hội của cộng đồng (ít nhất là một năm) để có cái nhìn sâu sắc hơn, đầy đủ
hơn về văn hóa của cộng đồng người Việt ở Thái Lan. Nghiên cứu tổng thể về
văn hóa của Việt Kiều Thái Lan sẽ là những nguồn tư liệu quý giá cho các
nghiên cứu về người Việt Nam ở nước ngoài sau này để nhằm phát huy về giữ
gìn văn hóa truyền thống của người Việt Nam ở nước ngoài, luôn gắn bó với quê
hương đất nước, trở thành nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp phát triển của
Việt Nam.
Trong thời gian làm việc tại Đại học Rajabat Sakôn, chúng tôi đã có cơ
hội gặp gỡ một số thế hệ Việt Kiều, trong đó có những người đang tham gia và
22
nắm giữ các chức vụ cao trong Hội người Việt Nam ở Sakôn. Những Việt Kiều
Nghiên cứu tổng thể đối với toàn bộ cộng đồng người Việt Nam tại Thái Lan (kể
cả cộng đồng người Việt Nam di cư đến Thái Lan từ đầu thế kỷ XX). Qua nghiên
cứu về trường hợp một cộng đồng người Việt tại Thái Lan, chúng tôi thấy rằng
hiện nay xu hướng biến đổi và hội nhập văn hóa của thế hệ Việt kiều thứ ba trở
đi là rất nhanh chóng. Việc hội nhập là điều kiện tất yếu xảy ra nhưng qua nghiên
23
cứu để làm sao có thể phát huy việc bảo lưu gìn giữ văn hóa truyền thống Việt,
bên cạnh sự hội nhập vào dòng chảy văn hóa Thái. Khi mà yếu tố văn hóa truyền
thống còn trong tinh thần của người Việt thì tinh thần của họ đối với quê hương
đất nước vẫn còn sâu đậm. Điều này rất có ý nghĩa với chủ trương của Đảng và
nhà nước Việt Nam là Coi bộ phận người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận
không thể tách rời của dân tộc.
KẾT LUẬN
Cộng đồng người Việt Nam ở Thái Lan đã trải qua nhiều thời kỳ gian khó
vất vả, nhưng với bản tính cần cù chịu khó và chịu đựng của người Việt đến nay
đã trở thành một trong những cộng đồng người nước ngoài thành đạt ở Thái Lan.
Thông qua phân tích và xem xét đời sống văn hoá tinh thần của cộng đồng
người Việt tại tỉnh Sakôn Nakhon ta có thể thấy rằng các thế hệ Việt kiều hiện
nay đang có các xu hướng bảo lưu, gìn giữ và biến đổi hội nhập văn hóa vào xã
hội Thái.
Nhằm đáp ứng được những nguyện vọng gìn giữ văn hóa truyền thống của
Việt Nam của Việt Kiều Thái Lan, trước sự hội nhập văn hóa Thái của người
Việt Sakôn nói riêng và Việt Kiều Thái Lan nói chung vào xã hội Thái đang ngày
càng nhanh chóng, cùng với các chủ trương chính sách Đại đoàn kết dân tộc của
Đảng và nhà nước Việt Nam đối với Việt Kiều, sau nhiều năm tìm hiểu nghiên
cứu, phỏng vấn Việt Kiều Sakôn, thấy được tâm tư nguyện vọng của Việt Kiều
thế hệ thứ nhất và thứ hai, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số khuyến nghị sau
đây:
1. Nhà nước cần quan tâm hơn nữa đến đời sống văn hoá của cộng đồng
người Việt Nam ở Sakôn nói riêng và Việt Kiều Thái Lan nói chung. Nên cử các
Sakôn cũng như Việt Kiều Thái Lan có khả năng về tài chính và đang kinh doanh
thành đạt về đầu tư vào trong nước. Nên tận dụng nguồn lực của Việt Kiều ở
Thái Lan trong việc tổ chức quảng bá du lịch, cơ hội đầu tư Việt Nam đến với
Việt Kiều thế hệ thứ ba và với người Thái bản địa.
7. Và cuối cùng là nhà nước tạo mọi điều kiện có thể để hỗ trợ cộng đồng
người Việt Nam ở Thái Lan tiếp tục giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa và truyền
thống dân tộc và động lực cho sự đoàn kết cộng đồng và gắn kết cộng đồng Việt
Kiều với cộng đồng trong nước.
25