ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN THÂN NGỌC ANH ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO
ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH THẦN
CỦA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
2. TS. Nguyễn Quốc Tuấn THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan đây là công trình do tác giả nghiên cứu. Kết quả công
trình nghiên cứu khoa học này là trung thực và chưa được công bố. Người thực hiện THÂN NGỌC ANH
NHÂN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
69
2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo đến một số lĩnh vực chủ yếu trong đời
sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
69
2.1.1. Những khái niệm liên quan tới sự ảnh hưởng của Phật giáo đến
đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân 69
2.1.2. Một số nội dung cơ bản trong giáo lý, giới luật, lễ nghi, các hoạt động
của Phật giáo ảnh hưởng đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân 75
2.1.3. Ảnh hưởng của Phật giáo đến quan niệm, tư tưởng 91
2.1.4. Ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức, lối sống 106
2.1.5. Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hoá - nghệ thuật 126
2.2. Nguyên nhân, dự báo và những vấn đề đặt ra từ việc nghiên cứu
ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh
151
2.2.1. Nguyên nhân những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của Phật giáo
đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 151
2.2.2. Dự báo xu hướng biến đổi ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống
văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới 152
2.2.3. Những vấn đề đặt ra từ thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo đến
đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh 159
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 163
Chương 3: QUAN ĐIỂM XUẤT PHÁT VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CÓ TÍNH
ĐỊNH HƯỚNG NHẰM PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC, HẠN CHẾ MẶT TIÊU
CỰC ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ TINH
THẦN CỦA NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
167
3.1. Những quan điểm xuất phát về tôn giáo và công tác tôn giáo của chủ
đẹp của Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh 219
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 226
PHẦN KẾT LUẬN CHUNG
229
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
234
TÀI LIỆU THAM KHẢO
236
PHỤ LỤC
250
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo du nhập Việt Nam khoảng thế kỷ thứ II sau Công nguyên.
Trong gần 20 thế kỷ tồn tại, Phật giáo đã tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn hoá và
truyền thống yêu nước của dân tộc ta; luôn gắn bó chặt chẽ với quá trình thăng
trầm của lịch sử dân tộc Việt Nam, tích cực đóng góp công sức của mình
chống lại giặc ngoại xâm, vì nền độc lập và thống nhất đất nước.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhiều chùa đã trở thành nơi
nuôi giấu cán bộ cách mạng, có vị Hoà thượng tự thiêu để phản đối Mỹ -
Ngụy… Phải khẳng định rằng, Phật giáo đã hoà nhập và trở thành một bộ
phận không thể tách rời truyền thống văn hoá dân tộc. Với thời gian dài đồng
hành cùng dân tộc, Phật giáo đã ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội, trong đó có đời sống văn hoá tinh thần.
hành vi, nhân cách con người; ảnh hưởng tích cực đến một bộ phận trong quần
chúng nhân dân, phù hợp với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, ngoài những ảnh hưởng tích cực, bản thân Phật giáo và sự
hoạt động của tổ chức Phật giáo đang đứng trước nhiều thách thức, phát sinh
những hạn chế, có tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân
dân, như do tuyệt đối hoá đời sống tâm linh, trong Phật giáo dễ phát sinh mê
tín dị đoan. Lạm dụng thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo thực hiện
những tập tục đã lạc hậu trên quan niệm về nghiệp, nhân quả, kiếp người…
Tin theo bùa phép, ấn quyết (Mật Tông). Trong Thành hội Phật giáo vẫn còn
mâu thuẫn về phương châm hoạt động; một số chức sắc, tăng ni mất đoàn kết
nội bộ. Sự cấu kết của một số phần tử cực đoan trong Phật giáo với các thế lực
thù địch để chống phá chế độ. Do sự thay đổi nhanh chóng của đời sống xã
hội, Phật giáo buộc phải thay đổi để thích ứng, dẫn tới sự lỏng lẻo, niềm tin trở
nên đa chiều. Phật giáo không có tổ chức quốc tế, có nhiều hệ phái, thiếu
thống nhất về cách quản lý nên dễ phát sinh những tiêu cực. Mặc dù nhiều giá 3
trị đạo đức của Phật giáo có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, góp phần điều chỉnh
hành vi đạo đức của con người, nhưng đạo đức Phật giáo chưa bao quát đạo
đức xã hội và chưa đáp ứng được hết yêu cầu của đạo đức mới. Phật giáo
không xem con người của xã hội trong quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế,
chính trị mà chỉ đơn giản trong quan hệ đạo đức giữa ranh giới thiện - ác.
Những hoạt động xã hội của Phật giáo rất hữu ích nhưng chưa triệt để, nó chỉ
góp phần san bằng xã hội bằng đạo đức chứ không phải là cải tạo điều kiện
sống. Cho nên triết lý đạo đức Phật giáo chưa theo kịp thời đại mới, chưa đạt
đến trình độ của đạo đức xã hội, không thể thay thế đạo đức xã hội. Những
khiếm khuyết đó đã hạn chế sự dấn thân của con người vào xã hội. Một số nội
dung trong giáo lý, giới luật, lễ nghi của Phật giáo lạc hậu so với sự phát triển
của xã hội. Những năm qua do sự phát triển nhanh về số lượng chức sắc, tăng
động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm phương hại
đến lợi ích chung của đất nước, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân”
[42, tr.122-123]. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài: “Ảnh hưởng của Phật
giáo đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh”
làm chủ đề nghiên cứu cho luận án tiến sĩ Triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần ở Việt
Nam nói chung và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng từ lâu đã được nhiều
nhà khoa học quan tâm với nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về Phật
giáo và ảnh hưởng của nó đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Có thể khái quát các công trình đó theo ba hướng sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về quá trình du nhập, tồn tại và phát triển của Phật
giáo ở Việt Nam; về tư tưởng Phật giáo Việt Nam và những đóng góp của
Phật giáo Việt Nam cho xã hội có những tác giả sau: Nguyễn Đăng Thục
(1974), Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn xuất bản; Lê Mạnh Thát (1975), Khương
Tăng hội toàn tập, Tu thư Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn; Trần Văn Giàu (1975),
Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà 5
Nội; Lê Mạnh Thát (1979), Toàn nhật thiền sư toàn tập, Viện Phật học Vạn
Hạnh, Thành phố Hồ Chí Minh; Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng
Việt Nam (1986), Viện triết học, Hà Nội; Nguyễn Tài Thư (1991), Lịch sử
Phật giáo Việt Nam, Viện triết học, Hà Nội; Nguyễn Hiền Đức (1995), Lịch sử
Phật giáo Đàng trong, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh; Doãn Chính
(1998), Lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại, Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội; Nguyễn Duy Hinh (1999), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội; Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo
Sử luận I-II-III, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội; Lê Mạnh Thát (2001), Lịch sử
Phật giáo Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh; Lê Mạnh
Minh Chi, trong các bài viết của cuốn sách Truyền thống văn hoá và Phật
giáo Việt Nam chỉ ra dòng tư tưởng cơ bản ảnh hưởng tới sự hình thành nền
văn hoá và con người Việt Nam, trong đó có sự ảnh hưởng của Phật giáo; bàn
về truyền thống văn hoá Việt Nam; sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hoá
Việt Nam; bản sắc của Phật giáo miền Nam; Phật giáo trong đời sống của
người Việt…
Mật Thể, với tác phẩm Việt Nam Phật giáo sử lược đã trình bày nguồn
gốc của Phật giáo, sơ lược sự thăng trầm của Phật giáo Việt Nam qua các thời
kỳ; sự ảnh hưởng của các hệ phái, tổ sư của Phật giáo đối với lịch sử, xã hội
Việt Nam.
Trần Hồng Liên, trong cuốn sách Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ,
tác giả đã khái quát những biến đổi lịch sử, những đặc thù của Phật giáo Nam
bộ; những dấu ấn của Phật giáo trong sinh hoạt, nếp sống, văn hoá, tín ngưỡng
của các tầng lớp nhân dân; vai trò của Phật giáo trong công tác giáo dục; hiện
trạng và xu hướng phát triển của Phật giáo trong tương lai…
Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của tư tưởng triết học
Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần ở Việt Nam, như các công trình
Phật giáo và nền văn hoá Việt Nam của Thích Mãn Giác, Ban tu thư Đại học
Vạn Hạnh, Sài Gòn xuất bản, 1967; Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư 7
tưởng Việt Nam, Viện Triết học, Hà Nội, 1986; Đạo đức học Phật giáo (Nhiều
tác giả), Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí
Minh, 1995; Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người
Việt Nam hiện nay do Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1997; Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo
trong đời sống văn hoá tinh thần ở Việt Nam của Nguyễn Hữu Tuấn, luận án
tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999; Vài
suy nghĩ về sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hoá Việt Nam của Minh
Phân tích ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo đối với hệ tư tưởng chính
trị trong lịch sử dân tộc, nghệ thuật dân tộc, đạo đức dân tộc. Từ đó vạch ra
hướng đi của Phật giáo Việt Nam, đưa ra một số giải pháp về tuyên truyền
giáo dục, ban hành pháp luật, chính sách tôn giáo với văn hoá, nâng cao trình
độ cho đồng bào Phật giáo, đào tạo cán bộ làm công tác Phật giáo, nâng cao
hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tín ngưỡng Phật giáo với văn hoá
nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo
trong đời sống văn hoá tinh thần ở Việt Nam hiện nay.
Với Nhận thức, thái độ, hành vi đối với Phật giáo của cộng đồng dân cư
Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, tác giả Trần
Văn Trình đã nêu lịch sử hình thành Phật giáo; một số nội dung của giáo lý,
giới luật, lễ nghi, tổ chức của Phật giáo; quá trình du nhập, phát triển của Phật
giáo vào Việt Nam. Đặc điểm, vị thế, vai trò, hạn chế của Phật giáo Việt Nam.
Những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo. Đưa ra
một số phương pháp tiếp cận xã hội học nghiên cứu tôn giáo. Tình hình kinh
tế, xã hội, sự phát triển của Phật giáo Việt Nam trong thời gian gần đây. Khái
quát đặc điểm địa lý, lịch sử, văn hoá có liên quan đến sự hình thành, phát
triển của Phật giáo ở Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh. Phân tích thực
trạng nhận thức, thái độ, hành vi đối với Phật giáo của cư dân Hà Nội, Huế,
Thành phố Hồ Chí Minh. Nhu cầu tôn giáo, sơ sở hình thành nhận thức, thái 9
độ, hành vi. Nhận thức đối với Phật giáo; thái độ, hành vi của người dân đối
với đạo Phật. Những yếu tố tác động đến xu hướng biến đổi về nhận thức, thái
độ, hành vi đối với Phật giáo; chỉ ra xu hướng biến đổi nhận thức, thái độ,
hành vi đối với Phật giáo của cư dân Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đưa ra một số giải pháp để Phật giáo hoạt động đúng pháp luật. Trong đó có
các giải pháp về phía Đảng, Nhà nước; về phía Giáo hội; về công tác nghiên
cứu; về công tác giáo dục và đào tạo.
làm rõ những đặc trưng của văn hoá Phật giáo, tác động của những giá trị văn
hoá ấy đối với lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc bộ.
Trần Cao Phong (1999), Phật giáo Huế và ảnh hưởng của tư tưởng Phật
giáo đến sự hình thành nhân cách con người Huế hiện nay, luận văn thạc sĩ
triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tác giả nêu
những tư tưởng chủ yếu của Phật giáo ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách
con người Huế; những nét nhân cách con người Huế hiện nay mang dấu ấn
của tư tưởng Phật giáo. Tìm ra phương hướng phát huy những giá trị văn hoá,
đạo đức; đấu tranh loại bỏ những mặt tiêu cực của Phật giáo nhằm góp phần
xây dựng con người mới, nền văn hoá mới ở Huế hiện nay.
Võ Thị Bích Thuý (2001), Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn
hoá tinh thần nhân dân Lâm Đồng hiện nay, luận văn thạc sĩ khoa học tôn
giáo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Tác giả phân tích ảnh
hưởng của Phật giáo đến đạo đức, lối sống, văn hoá - nghệ thuật trong đời
sống văn hoá tinh thần của nhân dân ở Lâm Đồng; nêu những vấn đề đặt ra
của Phật giáo Lâm Đồng hiện nay; trên cơ sở ấy, tìm ra một số giải pháp nhằm
phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của Phật giáo đối với đời sống văn
hoá tinh thần của nhân dân Lâm Đồng.
Chủ yếu các tác giả phân tích ảnh hưởng của Phật giáo đối với lối sống,
sự hình thành nhân cách, văn hoá - nghệ thuật trong các tầng lớp nhân dân.
Ngoài ra, còn có những công trình nghiên cứu một số vấn đề liên quan
đến đời sống văn hoá tinh thần cũng được thực hiện trong một số cuốn sách,
luận án, tạp chí, kỷ yếu, chẳng hạn: Kimura Taiken (1969), Nguyên thuỷ Phật 11
giáo tư tưởng luận, Vạn Hạnh, Sài Gòn; Kimura Taiken (1969), Đại thừa Phật
giáo tư tưởng luận, Vạn Hạnh, Sài Gòn; Kimura Taiken (1969), Tiểu thừa
Phật giáo tư tưởng luận, Vạn Hạnh, Sài Gòn; O.O.RoZenBerg (1990), Phật
Mục đích: Luận án làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá
tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất một số giải
pháp có tính định hướng để giữ gìn và phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế
ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nhiệm vụ:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở xã hội, tiền đề lý luận cho quá trình du nhập và
phát triển của Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh, các giai đoạn phát triển
của Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh; chỉ ra những đặc điểm cơ bản của
Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ hai, trình bày và phân tích thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo đến
một số lĩnh vực chủ yếu, từ đó tìm ra nguyên nhân, đưa ra dự báo, nêu những
vấn đề đặt ra trong quá trình ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá
tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ ba, trên cơ sở thực trạng ảnh hưởng của Phật giáo đến một số lĩnh
vực chủ yếu trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh, đề xuất một số giải pháp có tính định hướng nhằm giữ gìn, phát huy ảnh
hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của Phật giáo đến đời sống văn
hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu ảnh hưởng của Phật giáo đến một số
lĩnh vực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh như quan niệm, tư tưởng; đạo đức, lối sống; văn hoá - nghệ thuật. Đối
tượng chịu ảnh hưởng của Phật giáo chủ yếu là chức sắc, tăng ni, phật tử và
một số người dân có niềm tin, có tình cảm với Phật giáo.
Phạm vi nghiên cứu: Văn hoá tinh thần là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn,
nhưng do mục đích của đề tài, luận án giới hạn việc nghiên cứu ảnh hưởng của 13
14
đề tài nghiên cứu; các báo cáo tôn giáo của Ban Tôn giáo và Dân tộc, của
Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh; số liệu thống kê của Cục thống
kê Thành phố Hồ Chí Minh; các số liệu, tài liệu do tác giả điều tra, khảo sát
thực tế.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Luận án có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn, nhất là trong quá trình
xây dựng đời sống văn hoá tinh thần hiện nay.
Về ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo
đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, như:
Ảnh hưởng đến quan niệm, tư tưởng; đạo đức, lối sống; văn hoá - nghệ thuật.
Về ý nghĩa thực tiễn: Luận án góp phần vào việc xây dựng những cơ sở,
luận cứ khoa học để củng cố, hoàn thiện quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về tôn giáo và công tác tôn giáo trong tình hình mới.
Luận án được vận dụng có thể giúp cho thực hiện công tác quản lý Phật
giáo của Thành hội Phật giáo, Ban Tôn giáo và Dân tộc ở Thành phố Hồ Chí
Minh được tốt hơn; góp phần nâng cao hơn nữa đời sống văn hoá tinh thần của
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu
có nội dung liên quan đến Phật giáo; cũng như có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo để nghiên cứu, giảng dạy, học tập môn Tôn giáo học, Triết học,
Chính trị học, Văn hoá học trong các trường Đại học, Cao đẳng và các trường
Chính trị tỉnh, thành trong cả nước.
7. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thứ nhất, luận án đã chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của Phật giáo ở
Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ hai, luận án đã làm rõ được ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của Phật
giáo đến quan niệm, tư tưởng; đạo đức, lối sống; văn hoá - nghệ thuật trong
16
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA
PHẬT GIÁO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1. CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG CHO QUÁ TRÌNH DU NHẬP,
PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.1.1. Cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội cho sự du nhập và phát triển
của Phật giáo ở Thành phố Hồ Chí Minh
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, mỗi một hình thái ý thức
xã hội hình thành, phát triển bao giờ cũng phản ánh và chịu sự quy định của
điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định; đồng thời nó là sự tiếp thu, kế thừa
những quan niệm, tư tưởng đã hình thành trước nó; do vậy để tìm hiểu, nhận
xét, đánh giá, chỉ ra những đặc điểm cơ bản của Phật giáo ở Thành phố Hồ
Chí Minh và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hoá tinh thần của nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra những giải pháp định hướng nhằm
khai thác, phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu
cực phát sinh từ Phật giáo, phải làm rõ cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội, tiền đề
văn hoá, tư tưởng cho sự du nhập và phát triển của Phật giáo ở Thành phố Hồ
Chí Minh. Đúng như C.Mác và Ăngghen đã từng khẳng định: “Ý thức không
bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức… Không phải ý
thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” [94, tr.37-38].
Về kinh tế: Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích tự nhiên là 2.093,7
nhà Nguyễn. Đến cuối thế kỷ XVII, Sài Gòn đã trở thành một trung tâm lớn,
có bến sông, một phố chợ, là ngã tư giao dịch với bên ngoài, trở thành một
đồn luỹ chiến lược, có vị trí quan trọng. Vì đất rộng, người thưa, Nhà nước
phong kiến đã khuyến khích nhân dân khẩn hoang, tự do chiếm hữu ruộng đất
phát triển nông nghiệp, thậm chí cho mua bán nô tì, khuyếch trương thương
mại. Với chính sách trên làm cho chế độ tư hữu phát triển mạnh mẽ, ruộng đất
được tập trung, việc mua bán luá gạo đã biến luá gạo thành hàng hoá. Buôn
bán diễn ra nhộn nhịp, tập trung đông thương nhân Âu, Á, là nơi xuất bến của
nhiều thương thuyền ngoại quốc và Việt Nam đem gạo, muối, tơ lụa, đồi
mồi… đến Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, Inđônêxia, Philippin để bán. 18
Năm 1800, Nguyễn Đính đắp thành Bát Quái, lập Gia Định Kinh rồi
chuyển thành Gia Định Thành. Từ đó, Gia Định trở thành trung tâm cai trị,
thương mại [10, tr.14].
Cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, kinh tế Sài Gòn phát triển khác trước rất
xa. Khẩn khai đất đai được mở rộng nhiều. Sài Gòn trở thành nơi đô hội nhộn
nhịp với hai thị trấn là Sài Gòn - Gia Định và Chợ Lớn, có khoảng 100.000 đến
150.000 dân; là trung tâm thương mại giao tiếp với phương Tây. Là Thành phố
sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, một trong những
trung tâm xuất nhập khẩu lớn của khu vực Đông Nam Á [10, tr.15].
Mặc dù đã đạt được những thành tựu lớn về nông nghiệp, thương nghiệp,
nhưng trong thời kỳ đầu khai phá vùng đất mới, thiếu thốn đủ bề, người dân
phải chống chọi với cọp beo, thú dữ, phát hoang rừng để canh tác, thành lập
làng xã. Mặt khác, do cơ sở vật chất còn sơ khai, thiên tai tàn phá, làm cho đời
sống của người dân bấp bênh, túng thiếu, để cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng
tươi tốt, họ đã tìm đến với Phật giáo để được phù hộ, vỗ về, an cư, lạc nghiệp.
Theo chân những cư dân Việt, Hoa đến Gia Định để tìm cuộc sống mới có cả
cửa sản xuất, từng bước hình thành mô hình quản lý mới theo hướng tự chủ, tự
cân đối trang trải trong sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, kinh tế phát triển nhảy
vọt, tăng trưởng cao gần bốn lần so với giai đoạn trước. Giai đoạn 1980 - 1985
tốc độ bình quân 8,2%/năm [167, tr.27].
Giai đoạn này Thành phố là địa phương dẫn đầu cả nước về kinh tế,
nhưng vì hậu quả của nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, đã thui chột
tiềm năng, động lực phát triển kinh tế, làm cho đời sống của các tầng lớp nhân
dân rơi vào khó khăn, bất ổn. Lúc này Phật giáo tuy không có điều kiện phát
triển nhưng một bộ phận nhân dân vẫn có niềm tin vào đức Phật.
Giai đoạn từ năm 1986 đến nay:
Thực hiện đường lối đổi mới bằng tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của
Đảng, những năm 1986 - 1990 Thành phố nhanh chóng phát triển các thành phần
kinh tế, nhưng do thiếu nhiều chính sách để quản lý dẫn đến sai sót để kẻ xấu lợi