BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN VÂN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ
NÔNG SINH HỌC ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ RA HOA
CỦA GIỐNG THUỐC LÁ K.326 TRỒNG TẠI MIỀN BẮC
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Mã số : 62.62.01.10
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2013
Thuốc lá (Nicotiana tabacum L.) là một cây công nghiệp ngắn ngày, có nguồn
gốc từ châu Mỹ. Hiện nay, thuốc lá được trồng trên 120 quốc gia từ 60
o
vĩ Bắc đến
40
o
vĩ Nam. Thuốc lá là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản
xuất và đóng góp một phần đáng kể cho ngân sách Nhà nước. Vì vậy việc sản xuất
thuốc lá ở nước ta đã được Chính phủ và các Bộ ngành quan tâm định hướng phát
triển. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng thuốc lá ở nước ta còn ở mức hạn chế so
với các nước sản xuất thuốc lá truyền thống trong khu vực và trên thế giới.
Trong những năm qua chúng ta đã nhập nội một số giống thuốc lá tốt để
thay thế cho các giống thuốc lá bản địa đã mang lại hiệu quả to lớn cho ngành
thuốc lá Việt Nam. Trong các giống thuốc lá nhập nội thì giống K.326 là giống ổn
định nhất về năng suất và chất lượng nên nó được trồng rộng rãi trong cả nước.
Hạn chế lớn nhất của giống này là ra hoa sớm làm giảm năng suất và chất lượng
thuốc lá nguyên liệu. Do vậy việc nghiên cứu các yếu tố và các biện pháp ảnh
hưởng đến sự ra hoa của giống thuốc lá K.326 có ý nghĩa to lớn trong việc điều
chỉnh ra hoa của giống này.
Sự sinh trưởng của các cơ quan dinh dưỡng như thân lá và sự ra hoa của
thực vật có một mối quan hệ mật thiết và đây là quan hệ ức chế tương quan. Khi
thân lá sinh trưởng mạnh thì ức chế sự hình thành hoa và ngược lại. Vì vậy, việc
điều chỉnh mối quan hệ tương quan ức chế giữa sự sinh trưởng của thân lá và sự ra
hoa của giống K.326 cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh ra hoa của
chúng theo ý muốn. Mối quan hệ ức chế tương quan giữa qua trình sinh trưởng
thân lá và ra hoa trong cây được điều chỉnh bằng sự cân bằng hormon nên các chất
điều hòa sinh trưởng ngoại sinh có khả năng điều chỉnh tốt mối quan hệ này.
Thuốc lá thuộc nhóm cây ngày ngắn nên quang chu kỳ ngày dài hoặc quang
gián đoạn ảnh hưởng rất lớn đến sự phân hóa hoa của chúng theo hướng kích thích sinh
trưởng thân lá và trì hoãn sự xuất hiện hoa ở cây thuốc lá giống K.326. Ngoài ra việc
hoa): kéo dài thời gian sinh trưởng sinh dưỡng, làm tăng chiều cao cây và số lá.
- Xác định được mối quan hệ tương quan giữa sinh trưởng thân lá và ra hoa
khi sử dụng các chất điều hòa sinh trưởng. Các chất kích thích sinh trưởng đã kích
thích rõ rệt đến sinh trưởng thân lá và có xu hướng kìm hãm sự ra hoa. Ngược lại,
các chất ức chế sinh trưởng đã ức chế khá mạnh đến sinh trưởng thân lá và có khả
năng kích thích cây ra hoa sớm hơn đối với giống thuốc lá K.326.
- Việc cắt ngọn cây thuốc lá để tạo thân mới từ chồi nách có ảnh hưởng đến
sự ra hoa trong đó thân mới mọc từ chồi nách lá số 5 kìm hãm thời gian ra hoa và
làm tăng năng suất giống thuốc lá K.326.
5. Cấu trúc luận án
Luận án gồm 113 trang không kể tài liệu tham khảo: mở đầu 4 trang, tổng
quan tài liệu 35 trang, nội dung và phương pháp nghiên cứu 12 trang, kết quả
nghiên cứu và thảo luận 61 trang, kết luận và đề nghị 2 trang. Luận án gồm 47
bảng, 17 biểu đồ hình vẽ. Luận án sử dụng 116 tài liệu tham khảo: 66 tài liệu tiếng
Việt và 50 tài liệu tiếng Anh.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Giới thiệu về cây thuốc lá
1.1.1. Nguồn gốc
Trong lịch sử, cây thuốc lá được trồng đầu tiên ở châu Mỹ từ hơn 6000 năm
trước Công Nguyên (Dẫn theo Akchurst B.C, 1981). Loài Nicotiana tabacum L.
3
được trồng đầu tiên ở Trung, Nam Mỹ và Nicotiana justica được trồng ở Bắc Mỹ.
Thuốc lá được trồng ở Châu Á, Châu Phi vào cuối thế kỷ 16 (Colins and Hawks,
1993). Tại Việt nam, cây thuốc lá đã xuất hiện từ thời Vua Lê Thần Tông (Khoảng
năm 1660) (Dẫn theo Lê Đình Thụy và Bùi Văn Tài (1987)
1.1.2. Phân loại
Theo Wilson and Loomis (1967), thuốc lá thuộc giới thực vật (Plant), phụ
giới có phôi (Embryophyta), ngành có mạch dẫn (Tracheophyta), phụ ngành
hành như thí nghiệm về sự ra hoa in vitro của cây cà chua (Lycopersicon
4
esculentum Mill) (Dielen et al., 2001), cây cải dầu (Brassica napus) (Koh and
Loh, 2000), cây hoa Bát Tiên (Euphorbia millii) (Dewir, 2006), cây Syamopsis
tetragonoloba (Gurusaravanan, 2012) Taylor (2007) đã nghiên cứu ảnh hưởng
của đường glucose và saccharose đến sự ra hoa in vitro của cây Kniphofia
leucocephala
1.5. Tuối sinh lý và sự ra hoa ở thực vật.
Khi cắt thân để tạo chồi mới tức là đã kìm hãm sự ra hoa của cây. Càng cắt
sát gốc thì mức độ kìm hãm ra hoa càng cao. Với cây thuốc lá, biện pháp cắt ngọn
để tạo chồi mới phát triển thành cây thuốc lá trẻ hơn có tác dụng kìm hãm đáng kể
thời gian ra hoa của chúng. Tùy theo tuổi cây thuốc lá được cắt ngọn mà thời gian
ra hoa trì hoãn được nhiều hay ít.
1.6. Hạn với sinh trưởng và ra hoa của thực vật
Nhiều nghiên cứu đã khẳng định hạn là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ nhất
đến sự sinh trưởng, ra hoa và hình thành năng suất ở các cây trồng như với lúa
(Lafitte et al., 2006; Paled and Aspinall, 1981), với cây ngô (Denmead et al., 1960;
Balanos and Edmeades, 1996), với cây cỏ ngọt (Nguyễn Lam Điền, 2005), với
cây vừng (Trần Thị Thanh Huyền, 2011)…
1.7. Các chất điều hòa sinh trưởng với sự sinh trưởng và ra hoa của thực vật
Người ta chia các chất điều hòa sinh trưởng thành hai nhóm là các chất kích
thích sinh trưởng (auxin, gibberellin, cytokinin…) và chất ức chế sinh trưởng (acid
absisic, ethylen…). Mối quan hệ giữa hai nhóm chất này trong cây biểu thị bằng
sự cân bằng hormon. Có hai quá trình quan trọng diễn ra trong cây được điều
chỉnh bằng các chất điều hòa sinh trưởng là quá trình sinh trưởng của các cơ quan
dinh dưỡng và quá trình ra hoa. Đây là mối tương quan ức chế giữa sự sinh trưởng
dinh dưỡng và sự ra hoa (Hoàng Minh Tấn và cs., 2006). Chính vì vậy mà có thể
dùng các chất điều hòa sinh trưởng để điều chỉnh quá trình sinh trưởng và ra hoa
của thực vật.
1.8. Quang chu kỳ điều chỉnh ra hoa ở thực vật
nicotine 1,6 - 3,0%, hàm lượng đường khử 15 - 30%, hương vị được đánh giá ở
mức cao và tính chất hút đạt loại tốt. Hạn chế lớn nhất của giống này là ra hoa sớm.
- Vật liệu nghiên cứu gồm: + Các hóa chất cảm ứng ra hoa trong nuôi cấy
mô: NH
4
NO
3
, CoCl
2
, paclobutrazol, glucose và saccharose đều ở dạng tinh khiết.
+ Nghiên cứu QCK sử dụng: 2 loại đèn chiếu sáng (ánh sáng trắng và ánh
sáng đỏ).
+ Nghiên cứu các chất điều hòa sinh trưởng sử dụng: αNAA (α Naphtyl
acetic acid) và GA
3
(Acid gibberellic) dạng bột với hoạt chất 70-80%. Ethrel
(Chlor ethylen phosphoric acid) dạng dung dịch với hoạt chất là 70%. PIX
(Merpiquat Chlorid) là dung dịch có nồng độ 40%. Alar (SADH: Sucsinic acid
dimetyl hydrazid) dạng bột.
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự ra hoa in vitro của giống thuốc lá K.326
- Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật (tưới nước và cắt ngọn) đến
sinh trưởng và ra hoa của thuốc lá K.326.
- Ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng (các chất kích thích sinh
trưởng và ức chế sinh trưởng) đến sinh trưởng và ra hoa của thuốc lá K.326.
- Ảnh hưởng của quang chu kỳ (quang chu kỳ ngày dài và quang gián đoạn)
đến sinh trưởng và ra hoa của thuốc lá K.326.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.3.1.1. Nuôi cấy in vitro
2
. Bố trí ngoài đồng ruộng hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp, mỗi ô 30 m
2
.
Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của αNAA đến sinh trưởng và ra hoa của giống thuốc lá
K.326
CT1: Phun nước lã (Đ/C); CT2: αNAA 20ppm; αNAA 40ppm; αNAA 60ppm.
Bố trí như TN cắt ngọn, phun vào giai đoạn 20, 30, 40 và 50 ngày sau trồng.
Lượng phun từ 300 - 500 lít/ha.
(Các thí nghiệm 4, 5, 6 và 7 bố trí và cách phun tương tự TN 3).
Thí nghiệm 4: Ảnh hưởng của GA
3
đến sinh trưởng và ra hoa của giống thuốc
lá K.326
CT1: Nước lã (Đ/C); CT2: GA
3
10ppm, CT3: GA
3
20ppm, CT4: GA
3
40ppm.
Thí nghiệm 5: Ảnh hưởng của ethrel đến sinh trưởng và ra hoa của giống thuốc lá
K.326
CT1: Nước lã (Đ/C), CT2: Ethrel 400ppm; CT3: Ethrel 600ppm; CT4:
Ethrel 800ppm.
Thí nghiệm 6: Ảnh hưởng của PIX đến sinh trưởng và ra hoa của giống thuốc
lá K.326
CT1: Nước lã (Đ/C); CT2: PIX100ppm; CT3: PIX 200ppm; CT4: PIX 300ppm
7
Thí nghiệm 7: Ảnh hưởng của Alar đến sinh trưởng và ra hoa của giống thuốc
* Các chỉ tiêu theo dõi ngoài đồng ruộng và trong nhà lưới bao gồm:
- Các chỉ tiêu sinh trưởng: Được quan sát, theo dõi, đo đếm và thu thập số
liệu theo các chỉ tiêu sau:
+ Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến chạc ba phân nhánh hoa.
+ Tổng số lá (lá): Đếm số lá/ cây sau trồng 20 ngày (10 ngày theo dõi 1lần).
+ Kích thước lá (cm): Đo chiều dài và chiều rộng lá tại vị trí lớn nhất của lá
số 5, số 10 và lá số 15 khi cây ra hoa.
+ Đường kính thân (cm): Đo tại vị trí cách mặt đất 20 cm khi cây ra hoa.
8
+ Khối lượng của lá (gam): Cân khối lượng 10 lá cùng vị trí (số 5, 10 và 15)
khi cây ra hoa.
- Thời gian ra hoa: Theo dõi thời gian từ ngày trồng đến thời điểm ra hoa
10%, 50% và 90% ở các công thức thí nghiệm.
- Năng suất (tạ/ha): Cân khối lượng lá sau khi sấy ở các công thức thí nghiệm.
Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo đúng phương pháp nghiên cứu cây
thuốc lá của Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá.
2.3.3. Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm
Các số liệu thu thập được sử dụng Microsoft Word và Microsoft Exel để
tính toán số liệu, thiết kế bảng biểu. Sử dụng phần mềm chuyên dụng MSTATC
của trường Đại học Michigan (Michigan State Univesity, 1986), chương trình
IRRISTAT để xử lý số liệu, so sánh sai khác có ý nghĩa thí nghiệm bằng LSD.Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Nghiên cứu sự ra hoa in vitrro của giống thuốc lá K.326
Đã thử nghiệm 3 nhóm hợp chất có khả năng cảm ứng ra hoa của một số đối
tượng thực vật. Đó là NH
4
NO
(cm)
Số
lá
(lá/cây)
Sau 12 tuần Sau 16 tuần Sau 18 tuần
Tỷ lệ
cây
PSNH
(%)
Tỷ lệ
ra nụ
(%)
T
ỷ lệ
ra
hoa
(%)
Tỷ lệ
cây
PSNH
(%)
T
ỷ lệ ra
nụ
(%)
Tỷ lệ
ra
88,90 11,10 0 88,90 66,67 0 88,90 66,67
55,56
4 120 88,90 5,63
12,56
88,90 88,90 0 88,90 88,90 33,33 88,90 88,90
44,44
CV
(%)
0,70 0,60
LSD
(0,05)
0,13 0,27
9
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của việc gây hạn sinh lý trong môi trường nuôi cấy
bằng bổ sung đường glucose ở nồng độ cao (60 – 120 g/l)
đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và ra hoa
Công
thức
Nồng độ
glucose
(g/l)
Tỷ lệ
sống
Tỷ lệ
ra hoa
(%)
Tỷ lệ
cây
PSNH
(%)
Tỷ lệ
ra nụ
(%)
Tỷ lệ
ra hoa
(%)
1
(ĐC)
30 100 8,90
19,89
0 0 0 0 0 0 0 0 0
2 60 88,90 8,47
18,44
11,11 0 0 33,33 0 0 88,90 55,56
11,11
trong môi trường nuôi cấy làm cây thuốc lá không thể hút đủ nước, chúng gặp hạn
sinh lý nồng độ càng tăng thì mức độ hạn sinh lý cũng càng tăng lên.
Việc gia tăng hàm lượng đường saccharose và glucose trong môi trường đã
làm gia tăng stress hạn nên có tác dụng kích thích cây thuốc lá K.326 tạo hoa in
vitro. Nồng độ saccharose 30 g/l hoặc glucose 30 g/l là nồng độ đường của môi
trường cơ bản cho cây thuốc lá sinh trưởng phát triển bình thường trong ống
nghiệm. Ở nồng độ này, cây thuốc lá K.326 không có cảm ứng ra hoa và không
xuất hiện hoa. Như vậy thì vai trò dinh dưỡng của đường không có ảnh hưởng đến
sự ra hoa in vitrro của chồi thuốc lá. Nhưng ở các công thức có nồng độ đường
saccharose và glucose cao (60 - 120 g/l) đã xuất hiện ngồng hoa, tỷ lệ cây phát sinh
ngồng hoa đạt 100% tổng số cây sống và tỷ lệ hình thành hoa cũng rất cao, nhất là ở
nồng độ đường 90 g/l và 120 g/l (bảng 3.1 và 3.2).
Như vậy, đường saccharose và glucose nồng độ 60 - 120 g/l đã kích thích sự
hình thành hoa của giống thuốc lá K.326 do chúng gây nên hạn sinh lý trong môi
trường nuôi cấy và đến lượt stress hạn lại cảm ứng sự ra hoa của chúng. Đường
glucose kích thích sự hình thành nụ và hoa chậm hơn so với đường saccharose vì
đường saccharose khi thủy phân cho ra 2 đường đơn nên áp suất thẩm thấu của môi
trường cao hơn có nghĩa mức độ hạn cao hơn. Bổ sung đường glucose hoặc
saccharose với hàm lượng 90 g/l đều cho tỷ lệ cây ra hoa cao nhất (55,56%).
10
3.2 Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và ra hoa của
giống thuốc lá K.326
3.2.1. Ảnh hưởng của tần suất tưới nước đến sinh trưởng và ra hoa của giống
thuốc lá K.326.
Tần suất tưới nước gồm: 6 ngày, 9 ngày, 12 ngày, 15 ngày và 18 ngày tưới
1 lần với lượng nước như nhau 0,5 lít cho mỗi chậu. Kết quả nghiên cứu được ghi
nhận trong bảng 3.3 và 3.4.
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của tần suất tưới nước đến một số chỉ tiêu sinh trưởng
cho cây thuốc lá sinh trưởng nên có số là tương đương nhau ở tất cả các công thức
tưới và sự sai khác không có ý nghĩa thống kê.
- Về khối lượng của lá: Tần suất tưới nước từ 6 - 12 ngày/1 lần không làm
giảm khối lượng lá nhưng công thức tưới nước 15 ngày và 18 ngày 1 lần làm giảm
11
khối lượng tươi của lá (giảm 1,7 - 3 g/lá), nhưng sự giảm này không có ý nghĩa
thông kê.
- Về đường kính thân: Việc tưới nước 6 - 12 ngày/lần không ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng về đường kính thân cây thuốc lá, tuy nhiên tưới nước 15 ngày và 18
ngày 1 lần thì không đảm bảo đủ ẩm cho đất trong chậu để cây thuốc lá tăng
trưởng đường kính thân bình thường. Sự sai khác về đường kính thân giữa công
thức 15 và 18 ngày tưới 1 lần so với đối chứng và so với các công thức tưới nước
khác là có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của tần suất tưới nước đến thời gian ra hoa
Công thức
(ngày/lần tưới)
Thời gian từ trồng đến ra hoa (ngày)
10% ra hoa 50% ra hoa 90% ra hoa
1. (Đ/C) 56,7 58,3 60,7
2. (6 ngày) 56,3 57,7 61,0
3. (9 ngày) 56,3 59,7 62,0
4. (12 ngày) 54,7 57,7 60,0
5. (15 ngày) 52,7 55,7 58,3
6. (18 ngày) 50,3 53,3 55,6
CV
(%)
2,8 2,8 3,1
LSD
(0,05)
2,4 2,5 2,9
Thân từ chồi
nách lá số…
Chi
ều cao
cây
Số
lá
Kích thước lá 10 Năng su
ất
khô
Dài Rộng
(cm)
(lá/cây)
(cm)
(cm)
(t
ạ/ha)
Không cắt (Đ/C)
135,6 22,5 50,9 24,0 17,4
5
130,4
21,9
4,5
4,1
LSD
(0,05)
1,4 1,6 2,2 1,9 1,2
Việc cắt ngọn tạo thân mới đã có ảnh hưởng đến sinh trưởng thân lá của cây
thuốc lá. Trừ công thức cắt lúc có 5 lá có chiều cao thấp nhất, còn các công thức
còn lại có chiều cao bằng hay cao hơn đối chứng không cắt. Với thuốc lá thì số lá,
kích thước lá và năng suất là quan trọng nhất. Về số lá thì công thức cắt ngọn khi
có 10 lá cho số lá cao nhất, các công thức còn lại chênh lệch nhau không nhiều. Về
kích thước lá (dài, rộng lá) thì hai công thức cắt lúc 5 và 10 lá (cắt ngọn khi cây tại
vị trí lá số 5 đến lá số 10) cho kích thước lá vượt trội so với trồng tự nhiên và các
công thức khác, trong đó công thức cắt ngọn lúc có 5 lá cho kích thước lá lớn nhất.
Hai công thức cắt ngọn khi cây có 5 và 10 lá cho năng suất cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với trường hợp không cắt cũng như cắt muộn sau khi cây có trên 10 lá.
Giữa hai công thức cắt ngọn ở lá thứ 5 và thứ 10, sự sai khác về năng suất không
có ý nghĩa thống kê.
Số liệu bảng 3.6 cho thấy việc cắt ngọn tạo thân mới của cây thuốc lá K.326 đã
ảnh hưởng đến thời gian ra hoa. Tuy nhiên, tùy theo vị trí của thân mới tạo nên mà
ảnh hưởng khác nhau đến thời gian ra hoa. Chỉ có công thức cắt ngọn ở lá số 5 tức
thân mới tái sinh từ chồi nách lá số 5 có thời gian ra hoa chậm hơn so với đối chứng
13
và so với các công thức khác. Ở công thức này, thời gian bắt đầu ra hoa (tỷ lệ ra hoa
10%) chậm hơn 8 ngày; thời gian ra hoa rộ (50%) chậm hơn 7,4 ngày và kết thúc ra
hoa (90%) chậm hơn 8 ngày. Các công thức còn lại có thời gian ra hoa xấp xỉ đối
chứng (công thức lá số 10 và 15). Công thức cắt ngọn ở lá số 20 tức thân mới tái sinh
từ chồi nách lá số 20 có thời gian ra hoa sớm hơn đối chứng khoảng 3 - 4 ngày.
20 52,3 55,7 58,3
CV
(%)
3,2 3,1 3,1
LSD
(0,05)
2,9 2,9 3,0
Theo quan niệm về tuổi sinh học thì trên một cây nếu đi từ gốc đến ngọn thì
tuổi của cơ quan càng tăng dần nên cơ quan càng gần gốc cây thì càng non trẻ, thể
hiện thế năng sống mạnh mẽ hơn. Quan niệm về tuổi sinh học trên được ứng dụng
rộng rãi trong sản xuất bằng phương pháp đốn cây tạo hình, tạo tán và cải tạo
vườn cây. Việc cắt ngọn cây thuốc lá càng gần gốc (lá số 5 và số 10) đã ức chế sự
xuất hiện hoa làm cho thời gian ra hoa chậm hơn đối chứng, tương đương với kỹ
thuật đốn đau trong sản xuất. Tuy nhiên, nếu thân mới tái sinh từ chồi nách các lá
gần ngọn (lá số 15 và lá số 20) thì tuổi chồi già hơn nên khả năng sinh trưởng thân
lá bị giảm và sự ra hoa của chúng có xu hướng bị kích thích và hoa xuất hiện sớm
hơn (thân tái sinh từ chồi lá số 20 cây ra hoa sớm nhất).
3.3. Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng lên sự sinh trưởng và ra hoa
của giống thuốc lá K.326
3.3.1. Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến sinh trưởng và ra
hoa của giống thuốc lá K.326
Chất kích thích sinh trưởng trong cây chủ yếu bao gồm auxin, gibberellin và
cytokinin trong dó auxin và gibberellin có vai trò sinh lý quan trọng nhất. Hai thí
nghiệm được tiến hành với auxin (αNAA) ở các nồng độ 20, 40, 60 ppm và
gibberellin (GA
3
) ở các nồng độ 10, 20, 40 ppm.
3.3.1.1. Ảnh hưởng của αNAA đến sinh trưởng và ra hoa của giống thuốc lá K.326
Kết quả ảnh hưởng của αNAA với nồng độ từ 20 - 60ppm cho cây thuốc lá
41,7
40 110,8 26,9 23,5 65,6 20,4 44,3
60 114,2 26,3 22,2 61,8 19,3 43,3
CV
(%)
2,8 1,7 4,1 3,9 4,9 3,8
LSD
(0,05)
4,9
0,7
ns
4,1
1,5
2,6Ở thời điểm 60 ngày sau trồng khi cây thuốc lá gần như ngừng sinh trưởng,
αNAA ở các nồng độ 20 - 60 ppm đều làm tăng rõ rệt chiều cao cây thuốc lá so
vớí đối chứng, còn về các chỉ tiêu số lá/cây, kích thước lá và khối lượng tươi của
lá số 15 thì chỉ có nồng độ 40ppm mới làm tăng một cách có ý nghĩa so với đối
chứng (bảng 3.7).
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của αNAA đến thời gian ra hoa
đến sinh trưởng và ra hoa của giống thuốc lá K.326.
Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của GA
3
đến sinh trưởng và ra hoa của
giống thuốc lá K.326 được thể hiện trong bảng 3.9 và 3.10.
Về sinh trưởng: Xử lý GA
3
có tác dụng kích thích sự sinh trưởng thân lá.
GA
3
kích thích sự tăng trưởng rõ rệt chiều cao cây và chiều dài lá nhưng làm
giảm đường kính thân và ít ảnh hưởng đến số lá và chiều rộng lá so với không xử
15
lý. Vai trò sinh lý đặc trưng của GA là kích thích sự dãn tế bào theo chiều dọc nên
dẫn đến tăng chiều cao cây và chiều dài lá.
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của GA
3
đến một số chỉ tiêu sinh trưởng
Về ảnh hưởng của xử lý GA
3
đến sự ra hoa của giống thuốc ká K.326 (bảng
3.10) thì phun GA
3
có tác dụng trì hoãn sự ra hoa của thuốc lá: Thời gian bắt đầu
ra hoa (đạt tỷ lệ ra hoa 10%) chậm hơn khoảng 5 ngày và kết thúc ra hoa (đạt tỷ lệ
ra hoa 90%) kéo dài hơn 3 ngày so với đối chứng không xử lý.
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của GA
3
đến thời gian ra hoa
Ethrel là một chất ức chế sinh trưởng đã và đang được sử dụng rộng rãi cho
nhiều loại cây trồng để điều chỉnh quá trình sinh trưởng, kích thích cây ra hoa, xúc
tiến quá trình chín của nhiều loại quả. Kết quả nghiên cứu tác động của ethrel đến
sinh trưởng và ra hoa của cây thuốc lá được ghi nhận trong bảng 3.11 và 3.12.
N
ồng độ
GA
3
(ppm)
60 ngày sau tr
ồng
Kích thư
ớc lá số 15 (cm)
Cao
cây(cm)
S
ố lá/cây
ĐK
thân(mm)
Dài Rộng
0 (Đ/C)
95,7
25,7
23,2
Cao cây Số lá/cây ĐK thân Chiều dài Rộng P lá
(cm) (lá) (mm) (cm) (cm) (g/lá)
0 (Đ/C) 99,8 26,7 23,4 62,8 20,4 37,7
400 80,1 28,6 23,8 53,9 17,9 36,0
600 67,3 30,4 25,5 52,9 17,0 28,3
800 62,5 33,7 25,2 55,4 18,2 29,3
CV
(%)
4,1 3,3 5,0 3,4 3,4 5,1
LSD
(0,05)
5,6 1,5 1,9 3,3 1,0 3,0
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của ethrel đến thời gian ra hoa
ĐVT: Ngày sau trồng
Nồng độ ethrel(ppm) Ra hoa 10% Ra hoa 50% Ra hoa 90%
0 (Đ/C ) 60,3 63,3 67,7
400 57,7 61,3 63,3
600 58,3 61,7 63,3
800 57,7 60,3 60,7
CV
(%)
1,0 1,6 1,3
LSD
(0,05)
1,0 1,6 1,3
- Ethrel từ nồng độ 400 đến 600 ppm có ảnh hưởng ức chế rất mạnh lên sự
sinh trưởng chiều cao cây, chiều dài, chiều rộng và khối lượng lá. Nồng độ ethrel
càng tăng thì ảnh hưởng ức chế lên sinh trưởng thân lá càng rõ hơn; nhưng ethrel
(%)
3,1 2,9 2,2 1,9 4,6 6,6
LSD
(0,05)
4,3 ns 0,8 1,8 1,4 4,2
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của PIX đến thời gian ra hoa của giống thuốc lá K.326
ĐVT: Ngày sau trồng
Nồng độ PIX(ppm) Ra hoa 10% Ra hoa 50% Ra hoa 90%
0 (Đ/C ) 59,3 61,3 66,3
100 58,3 61,0 63,0
200 58,7 61,3 63,7
300 58,3 61,3 63,3
CV
(%)
1,1 1,2 1,0
LSD
(0,05)
1,0 1,2 1,1
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Dương Xuân Diêu (2013) về ảnh
hưởng của PIX đối với cây bông là: ức chế mạnh sinh trưởng chiều cao và chiều
dài cành cây bông, không ảnh hưởng nhiều đến thời gian ra hoa nhưng làm tăng
các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất bông.
3.3.2.3. Ảnh hưởng của xử lý Alar đến sinh trưởng và ra hoa của giống thuốc lá K.326
Alar cũng được xếp vào các chất ức chế sinh trưởng được sử dụng để điều
chỉnh ra hoa đậu quả của nhiều cây ăn quả của một số nước, còn với thuốc lá thì
không có nghiên cứu nào được công bố. Kết quả bảng 3.15 và 3.16 phản ánh ảnh
hưởng của alar đế sinh trưởng và ra hoa của cây thuốc lá.
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của Alar đến một số chỉ tiêu sinh trưởng
63,7
67,3
3000 59,0 65,0 66,3
4
.
000
59,3
64,0
65,3
CV
(%)
1,1 1,1 0,9
LSD
(0,05)
1,0 1,1 1,0
Khác với ethrel và PIX đã trình bày ở trên, Alar với các nồng độ 2.000 – 4.000
ppm hầu như không có ảnh hưởng ức chế đáng kể lên sinh trưởng của thân lá cây
thuốc lá, nhưng có ảnh hưởng đến thời gian ra hoa của thuốc lá theo hướng trì hoãn
sự ra hoa: Thời gian bắt đầu ra hoa (đạt tỷ lệ 10%) chậm hơn 2 ngày, ra hoa rộ (đạt tỷ
lệ 50%) chậm hơn 4,3 ngày (nồng độ 3.000ppm) và kết thúc ra hoa (đạt tỷ lệ 90%)
chậm hơn 4 ngày (nồng độ 2.000ppm) so với không xử lý.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài được trình bày trên đây cho thấy rõ rằng tồn
tại một mối quan hệ tương quan sinh trưởng thể hiện khá rõ ở cây thuốc lá khi sử
ĐK thân
(mm)
Cao cây Số lá Dài Rộng
(cm) (lá/cây) (cm) (cm)
14 giờ sáng
10 giờ tối
0 (Đ/C) 96,4 24,3 64,2 19,0 14,3
10 101,8 27,7 55,6 17,7 14,7
20 102,0 29,0 56,5 17,9 14,7
30 105,6 30,6 57,4 17,6 15,7
LT 107,5 32,8 56,9 18,4 16,7
16 giờ sáng
8 giờ tối
0 (Đ/C) 94,1 23,0 64,5 19,0 14,7
10 104,1 27,5 55,6 18,2 15,1
20 103,2 30,2 55,7 18,2 15,8
30 106,2 31,5 54,8 17,9 15,7
LT 113,0 32,7 54,7 17,9 18,1
18 giờ sáng
6 giờ tối
0 (Đ/C) 98,1 22,7 63,3 18,2 14,3
10 103,6 29,2 58,8 17,9 15,4
20 107,4 32,6 56,5 18,5 16,6
30 113,9 33,6 56,8 18,1 16,7
LT 118,8 34,5 60,0 18,4 18,7
LSD
0,05
(QCK) 4,3 0,6 ns ns ns
động QCK
(T) (ngày)
Thời gian đạt tỷ lệ ra hoa… (ngày sau trồng)
10% 50% 90%
Ngày
Tăng so
Đ/C
(ngày)
Ngày
Tăng
so Đ/C
(ngày)
Ngày
Tăng
so Đ/C
(ngày)14 giờ sáng
0 (Đ/C)
10
20
30
LT
58,0
58,7
66,3
67,7
16 giờ sáng
0 (Đ/C)
10
20
30
LT
58,7
66,0
68,0
68,3
69,3
0
7,3
9,3
9,6
10,6
60,7
70,3
76,0
79,3
85,0
0
9,6
15,3
18,6
24,3
60,0
67,7
77,0
87,3
90,7
0
7,7
17,0
27,3
30,7
62,7
76,0
80,0
83,3
97,3
0
13,3
17,3
20,6
34,6
6 giờ tối
LSD
0,05
(QCK)
LSD
0,05
(T)
21
kỳ ngày dài càng tăng thì hiệu quả ức chế càng lớn. Công thức xử lý quang chu kỳ
liên tục có thời gian chậm ra hoa lớn nhất, có thể đạt được từ 22 đến 34 ngày.
Hiệu quả ức chế mạnh mẽ của quang chu kỳ ngày dài lên sự ra hoa là vô
cùng có ý nghĩa trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu. Bản chất của tác động này là
do phytochrom (Lincoln and Eduardo, 1998). Với cây ngày ngắn đêm dài như
thuốc lá thì cần giảm lượng P730 thì mới ra hoa nên cần đêm dài để biến P730
thành P660. Quang chu kỳ ngày dài tạo điều kiện để chuyển hóa hoàn toàn P660
thành P730 và do đó mà ức chế ra hoa của cây ngày ngắn là giống thuốc lá K.326.
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả ức chế sự hình thành hoa sớm của hoa cúc
bằng chiếu sáng bổ sung (Đặng Văn Đông, 2006) và kích thích Thanh Long hình
thành hoa khi chiếu sáng bổ sung ngày dài (Nguyễn Văn Kế, 2006)
3.3.2 . Ảnh hưởng của quang gián đoạn đến sinh trưởng và ra hoa của giống
thuốc lá K.326
Quang gián đoạn được tạo ra trong thí nghiệm bằng cách chiếu sáng 1 giờ
vào giữa đêm (23h30 - 0h30) bằng ánh sáng đỏ và ánh sáng trắng. Thời lượng tác
động của quang gián đoạn là 10, 20, 30 ngày và liên tục cho đến ra hoa. Thời gian
bắt đầu tác động QGĐ là khi cây thuốc lá có 2 - 3 lá (sau trồng 10 ngày). Ánh sáng
của đèn đỏ có tỷ lệ các tia sáng đỏ cao dặc biệt là ánh sáng 660 nm. Ánh sáng
trắng có một tỷ lệ ánh sáng 660 nm thấp hơn ánh sáng đỏ.
Kết quả theo dõi về các chỉ tiêu sinh trưởng thân lá và thời gian ra hoa dưới
tác động của quang gián đoạn được ghi nhận trong bảng 3.19 và 3.20
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của quang gián đoạn đến một số chỉ tiêu sinh trưởng
Ánh sáng quang
gián đoạn (QGĐ)
Thời gian
tác động
QCK (T)
70 ngày sau trồng Lá số 15
ĐK thân
22
Có thể thấy rõ rằng mặc dù chỉ chiếu sáng 1 giờ vào giữa đêm nhưng ảnh
hưởng của nó đến sinh trưởng thân lá của thuốc lá là khá rõ. Ở các công thức có thời
gian xử lý quang gián đoạn khác nhau kể cả bằng ánh sáng đỏ và ánh sáng trắng,
chiều cao cây và số lá của các công thức xử lý quang gián đoạn đều cao hơn có ý
nghĩa so với đối chứng. Công thức xử lý quang gián đoạn liên tục cho đến ra hoa có
chiều cao cây và số lá cao nhất, chênh lệch so đối chứng ở ánh sáng đỏ là 12 cm
chiều cao và 6 lá/cây và ở ánh sáng trắng là 12 cm và 7 lá/cây. Ở thí nghiệm này thì
hiệu quả kích thích sự sinh trưởng thân lá của ánh sáng đỏ và trắng là tương đương.
Kết quả đó chứng tỏ rằng ánh sáng đèn tác động vào ban đêm có tác dụng kích thích
sự sinh trưởng về chiều cao cây và tăng số lá. Ánh sáng đèn có cường độ không cao
và có tỷ lệ ánh sáng có bước sóng dài nhiều hơn nên kích thích sự sinh trưởng dãn
của tế bào gây nên sự tăng trưởng chiều cao dẫn đến tăng số lá. Đây cũng là hiệu quả
tích cực khi người ta muốn tăng chiều cao của thân bằng biện pháp thắp đèn ban đêm
cho một số cây hoa để tăng chất lượng cành hoa. Kết quả này cũng phù hợp với kết
quả nghiên cứu của Đặng Văn Đông và Nguyễn Quang Thạch (2005) trong nghiên
cứu quang gián đoạn đối với cây hoa cúc cũng là một cây ngày ngắn.
Kết quả mong muốn nhất của thí nghiệm này là hiệu quả ức chế sự ra hoa
của thuốc lá khi tác động quang gián đoạn.
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của quang gián đoạn đến thời gian ra hoa
Quang gián đoạn
(QGĐ)
Thời gian tác
động QGĐ
(T) (ngày)
Thời gian đạt tỷ lệ ra hoa… (ngày sau trồng)
10% 50% 90%
22,0
60,0
66,3
68,3
82,0
88,3
0
6,3
8,3
22,0
28,3
63,3
90,0
90,3
92,7
93,3
0
26,7
27,0
29,4
30,0
Ánh sáng trắng
0 (Đ/C)
10
20
30
LT
22,0
29,3
LSD
0,05
(QGĐ)
LSD
0,05
(T)
LSD
0,05
(QGĐ xT)0,8
0,9
1,2
0,9
1,0
1,4
1,4
0,8
1,1 Việc xử lý quang gián đoạn cho giống thuốc lá K.326 đã ảnh hưởng rất
rõ rệt đến sự hình thành hoa của chúng. Tất cả các công thức xử lý quang gián
23
đoạn đều khác biệt về thời gian ra hoa khá rõ rệt so với đối chứng. Thời gian xử
, paclobutrazol bổ sung vào môi trường nuôi cấy
không gây cảm ứng ra hoa in vitro của giống thuốc lá K.326. Việc gây hạn sinh lý
bằng bổ sung đường saccharose, glucose ở nồng độ cao (60 - 120 g/l) vào môi
trường nuôi cấy đã có ảnh hưởng kích thích ra hoa của giống thuốc lá K.326 trong
điều kiện nuôi cấy in vitro. Bổ sung đường glucose hoặc saccharose với hàm lượng
90 g/l đều cho tỷ lệ cây ra hoa cao nhất đạt 55,56% sau 18 tuần nuôi cấy
2. Việc gây hạn bằng cách hạn chế cung cấp nước (15 - 18 ngày tưới 1 lần)
có ảnh hưởng ức chế mạnh đến sinh trưởng chiều cao thân, giảm khối lượng lá và
kích thích ra hoa sớm hơn 4 ngày (15 ngày tưới 1 lần) và 6,5 ngày (18 ngày tưới 1
lần) so với đối chứng tưới nước giữ ẩm bình thường.
3. Cắt ngọn tạo thân mới từ chồi nách lá số 5, 10, 15 và lá 20 không ảnh
hưởng rõ rệt đến sinh trưởng của cây mới tái sinh (chiều cao, số lá, kích thước và
khối lượng lá) nhưng thân mới tái sinh từ chồi nách lá số 10 cho sinh trưởng thân