tóm tắt luận án tiến sĩ NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ NHÂN Tố sinh thái chủ đao theo các đai ở dãy nui hoang liên sơn - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
*********
Trương Ngọc Kiểm

NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI MỘT SỐ
NHÂN TỐ SINH THÁI CHỦ ĐẠO THEO CÁC ĐAI
ĐỘ CAO Ở DÃY HOÀNG LIÊN SƠN (THUỘC TỈNH LÀO
CAI) PHỤC VỤ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TÓM TẮT DỰ THẢO LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC


bản đồ chuyên đề minh hoạ bao gồm: Mở đầu (5 trang), Chương 1. Tổng quan
tài liệu (36 trang), Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
(14 trang), Chương 3. Kết quả và thảo luận (85 trang), Kết luận và Kiến nghị (2
trang), Tài liệu tham khảo (13 trang), Phần phụ lục (200 trang). 2

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUY LUẬT ĐAI CAO
1.1.1. Trên thế giới
Bản chất của quy luật đai cao mang tính đặc thù địa phương phụ thuộc vào
đai cơ sở chân núi cùng các yếu tố khác nên ở mỗi vùng trên thế giới đều có
những công trình khác nhau liên quan đến quy luật này. Một số công trình tiêu
biểu của các tác giả như A.Hensen (1920), Meusel (1943), Stearn (1960),
Stainton (1972), Dobremer (1972), Hara et al. (1978-1982), Kapos et al. (2000),
Rainer W. Bussmann (2006), J.M.Ninot & A.Ferré (2008) Các nghiên cứu
này đều tập trung vào việc phân chia các đai độ cao trên cơ sở phân hoá điều
kiện tự nhiên, hướng phơi địa hình,
1.1.2. Ở Việt Nam
Do đồi núi ở Việt Nam phân hoá liên tục từ Bắc vào Nam nên sự phân hoá
lãnh thổ chịu sự chi phối rất rõ nét của quy luật đai cao. Thái Văn Trừng (1978)
chia các đai: nhiệt đới ẩm (dưới 700m ở miền Bắc và dưới 100m ở miền Nam),
á nhiệt đới úi thấp tầng dưới (từ 700m - 1600m ở miền Bắc và từ 1000m -
1800m ở miền Nam), ôn đới ấm núi thấp tầng trên (từ 1600m - 2400m ở miền
Bắc và từ 1800m – 2600m ở miền Nam), ôn đới lạnh núi vừa tầng dưới: trên
2400m ở miền Bắc và 2600m ở miền Nam. V.M. Friđlanđ chia theo ranh giới
đất tương quan so sánh giữa 2 miền Bắc - Nam. Vũ Tự Lập (1976) chia thành 3
đai: Từ 0 - 600m (đai nội chí tuyến gió mùa chân núi, gồm các á đai), Từ 600 -
2.600m (đai á chí tuyến gió mùa trên núi, gồm các á đai), Trên 2.600m (đai ôn

Nghiên cứu của Edward W. Beals (1969) là nghiên cứu đầu tiên có vai trò
định hướng cho các nghiên cứu sự thay đổi thảm thực vật theo đai cao sau này.
Tiếp đó, nhiều công trình ở các khu vực khác nhau đánh giá sự thay đổi cấu
trúc, thành phần loài, nhóm loài ưu thế, mật độ quần xã thực vật theo các đai độ
cao.

4

1.3.2. Ở Việt Nam
Những nghiên cứu đầy đủ về sự phân hoá thảm thực vật theo đai cao
không nhiều mà thường chỉ là một trong các nội dung nghiên cứu về hệ thực
vật. Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Loschau (1960) đưa ra khung phân loại 4
trạng thái rừng ở Quảng Ninh, Trần Ngũ Phương (1970, 1995) đã chia các đai
độ cao dựa vào điều kiện địa hình, tính chất sinh thái và thành phần thực vật.
Trên quan điểm sinh thái phát sinh, Thái Văn Trừng (1978) chia thảm thực vật
Việt Nam thành hai nhóm: Nhóm I - Các kiểu thảm ở độ cao dưới 1000m ở
miền Nam, dưới 700m ở miền Bắc. Nhóm II - Các kiểu thảm vùng núi có độ
cao trên 1000m ở miền Nam và trên 700m ở miền Bắc. Vũ Tự Lập (1976) sử
dụng độ ưu thế của các loài cây trong ô tiêu chuẩn để xác định các quần hợp, ưu
hợp và phức hợp của thảm thực vật. Phan Kế Lộc (1985) [80] đã vận dụng
khung phân loại thảm thực vật của UNESCO (1973) để đưa ra khung phân loại
thảm thực vật ở Việt Nam theo thứ bậc: 1. Lớp quần hệ > 1.A. Phân lớp quần
hệ > 1.A1. Nhóm quần hệ > 1.A1.1. Quần hệ > 1.A1.1.1. Phân quần hệ với
5 lớp quần hệ như sau: Lớp quần hệ rừng rậm, Lớp quần hệ rừng thưa, Trảng
cây bụi, Trảng cây bụi lùn, Trảng cỏ. Bảng phân loại này được một số tác giả áp
dụng để tiến hành phân loại thảm thực vật trong nghiên cứu của mình . Nguyễn
Vạn Thường (1995) đã chia 4 vùng sinh thái Bắc Trung Bộ căn cứ vào độ cao
so với mặt biển.
1.4. NGHIÊN CỨU SINH THÁI HỌC ĐẤT TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI
THẢM THỰC VẬT, ĐỘ CAO ĐỊA HÌNH VÀ SINH KHÍ HẬU

nông, lâm nghiệp, du lịch và nghỉ dưỡng ở Sapa.
1.5.2. Nghiên cứu về sinh thái học đất: có công trình của Fridland và Vũ
Ngọc Tuyên (1959), Phạm Gia Tu và Vũ Ngọc Tuyên (1962), Tôn Thất Chiểu
(1992), Kemp et al (1995). Nguyễn An Thịnh (2007) đưa ra hệ thống phân loại
dất khu vực SaPa gồm 6 nhóm với 10 loại đất.
6

1.5.3. Nghiên cứu về thảm thực vật: bắt đầu từ các nghiên cứu của các nhà
thực vật người Pháp Pê-tê-lô, Pierre,…đến các tác giả Võ Văn Chi (1970),
Kem, L.M Chan và M.Dilger (1994), Nguyễn Nghĩa Thìn, Daniel Harder
(1996), Trần Đình Lý (1996), Trần Đình Lý, Đỗ Hữu Thư, Lê Đồng Tấn
(1997); Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Thời (1998), Andrew T., Steven Sw./
Mark G., Hanna S. (1999), Trương Ngọc Kiểm (2007), Nguyễn Quốc Trị
(2009) và Trần Minh Hợi (2012). Các nghiên cứu này tập trung đánh giá tính đa
dạng về thành phần loài, các chỉ số đa dạng, mô tả và hệ thống hoá các trạng
thái thảm thực vật ở các phần khác nhau của khu vực Hoàng Liên Sơn phục vụ
bảo tồn và phát triển bền vững.
1.5.4. Luận điểm phân đai cao ở khu vực Hoàng Liên Sơn (tỉnh Lào Cai)
Trước đây, có nhiều nhà khoa học đã phân đai độ cao theo những tiêu
chuẩn khác nhau nên có sự chênh lệch về các mốc độ cao địa hình giữa các đai
theo các quan điểm khác nhau. Nguyễn Vạn Thường (1995) chia 4 vùng sinh
thái căn cứ vào độ cao so với mặt nước biển. Thái Văn Trừng (1999) phân đai
theo các nhân tố sinh thái phát sinh thảm thực vật. Vũ Tự Lập (2006) phân đai
dựa trên sự phân hóa chế độ nhiệt ẩm của khí hậu. Nguyễn Quốc Trị (2009)
chia cố định các đai chênh lệch mỗi 500m để xem xét sự biến đổi trong cấu trúc
thảm thực vật theo độ cao. Nguyễn An Thịnh (2007) phân tích những biến đổi
trong điều kiện tự nhiên, thảm thực vật theo độ cao dựa trên quan điểm phân đai
tự nhiên của Vũ Tự Lập và quan điểm sinh thái phát sinh của Thái Văn Trừng
đã chia 05 đai: dưới 700m; từ 700 - 1700m; từ 1700 - 2200m; từ 2200 - 2800m
và trên 2800m.

1.6.1.5. Thủy văn: hệ thống thủy văn khá dày đặc, gồm hệ thống sông
Hồng và các hệ thống suối lớn: Nậm Tha, Ngòi chăn, Ngòi Nhủ, suối Đun, suối
Bo và suối Mường Hoa.
1.3.1.6. Tài nguyên rừng: gồm 168.156,93 ha đất có rừng.
1.3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội dãy Hoàng Liên
1.3.2.1. Dân số: 203.448 người thuộc nhiều dân tộc khác nhau trong đó
chiếm ưu thế là người Kinh, Mông, Dao.
8

1.3.2.2. Lao động và tập quán: người dân sống chủ yếu bằng nông
nghiệp, nghề rừng và những ngành nghề thủ công truyền thống. Tập quán canh
tác chủ yếu dụa vào độ phì tự nhiên sẵn có của đất, không sử dụng bón phân, kể
cả phân hữu cơ là nguồn tại chỗ, năng suất thấp, đời sống chủ yếu phụ thuộc
vào thiên nhiên. Giống mới chưa được sử dụng rộng rãi.
1.3.2.3. Văn hóa xã hội: cộng đồng dân cư gồm nhiều dân tộc khác nhau
công việc tuyên truyền giáo dục, bài trừ các hủ tục, phát huy thuần phong mỹ
tục còn hạn chế. Nạn thất học, mù chữ và trẻ em không được đến lớp vẫn còn
tồn tại. Cơ sở vật chất thiếu thốn, đội ngũ giáo viên ít. Cơ sở y tế nghèo nàn,
thuốc men thiếu thốn, đội ngũ mỏng, không đáp ứng được nhu cầu phòng và
chữa bệnh cho đồng bào vùng cao. Công tác vệ sinh, phòng bệnh chưa được
chú ý đúng mức, các loại bệnh như bướu cổ, sốt rét,…còn tồn tại.
1.3.2.4. Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng: được đầu tư nâng cấp và
làm mới bằng nhiều nguồn vốn khác nhau nhưng xét một cách tổng thể ở dãy
Hoàng Liên thì điều kiện giao thông của khu vực còn gặp nhiều khó khăn. Các
đường liên xã, liên thôn chủ yếu là đường mòn.
Chương 2. PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm: dãy Hoàng Liên Sơn thuộc địa phận tỉnh Lào Cai (giới hạn bởi
sông Hồng chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam).
2.1.2. Thời gian: từ 5/2010 - 9/2013 với 8 đợt khảo sát (120 ngày) thực địa.

Thiết lập 5 trạm quan trắc để đo đồng thời các chỉ tiêu khí hậu (nhiệt độ,
độ ẩm không khí, độ ẩm của đất, tốc độ gió, hướng gió, cường độ ánh sáng)
theo 05 đai độ cao với các thiệt bị hiện đại.
2.3.2.3. Nghiên cứu thổ nhưỡng
Đào, quan sát và mô tả phẫu diện đất ở các đai độ cao khác nhau và đại
diện cho các trạng thái thảm thực vật khác nhau; thu mẫu đất theo các tầng, bảo
quản để phân tích các đặc tính lý - hoá của đất.
10

2.3.3. Các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
2.3.3.1. Phân tích, xử lý mẫu thực vật và đánh giá thảm thực vật
* Xác định tên khoa học và lập bảng danh lục thực vật bậc cao có mạch
phân bố ở khu vực Hoàng Liên Sơn (tỉnh Lào Cai) theo các bước: phân loại sơ
bộ, so mẫu chuẩn bảo tàng và xác định tên loài, kiểm tra và hiệu chỉnh tên khoa
học, Lập bảng danh lục.
* Phân tích, đánh giá thảm thực vật
- Phân tích phổ dạng sống của các loài thực vật bậc cao có mạch: áp dụng
hệ thống của Raunkiaer (1934) theo các sách chuyên khảo thực vật hiện có.
- Mô tả, phân tích, hệ thống hoá các kiểu thảm thực vật trên cơ sở các
thang phân loại trước đó của Thái Văn Trừng (1978) Phan Kế Lộc (1985) kết
hợp các kết quả nghiên cứu ô tiêu chuẩn.
- Đánh giá sự biến đổi của thảm thực vật theo độ cao: về số lượng và
thành phần loài; trạng thái và cấu trúc thảm thực vật, phân bố các loài đặc
trưng, các loài quý hiếm, các loài đặc hữu, mối tương quan giữa các đai.
2.3.3.2. Phân tích, xử lý số liệu khí hậu
Các dữ liệu về khí hậu thu được sẽ được xử lý sơ bộ, sắp xếp và phân chia
theo các cấp độ khác nhau phù hợp với điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên
cứu phục vụ việc thành lập bản đồ sinh khí hậu (phân hoá khí hậu theo các đai
độ cao khác nhau).
2.3.3.3. Phân tích mẫu đất

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. SỰ PHÂN HOÁ CÁC NHÂN TỐ KHÍ HẬU THEO ĐAI ĐỘ CAO
3.1.1. Chế độ bức xạ và số giờ nắng
Từ thu đông sang xuân hè, số giờ nắng tăng dần, gia tăng nhiệt còn từ
xuân hè sang thu đông số giờ nắng giảm dần, giảm nhiệt. Đai núi trung bình và
núi cao, số giờ nắng thấp nhất vào tháng 6 - 7 do nhiều mưa, sương mù. Từ thấp
lên cao, số giờ nắng và mức độ dao động số giờ nắng có xu hướng tăng lên.
Cường độ chiếu sáng biến thiên rõ rệt theo nhịp điệu ngày đêm, tăng dần
từ sáng sớm và thường đạt cực đại trong khoảng từ 8 giờ đến 15 giờ sau đó
giảm dần đến tắt hẳn vào 18 giờ đến 19 giờ; càng lên cao số giờ nắng càng tăng
và cường độ chiếu sáng cũng càng tăng
12

3.1.2. Nhiệt độ
Chế độ nhiệt ở Hoàng Liên Sơn khá phức tạp, vừa chịu ảnh hưởng cơ chế
gió mùa vừa có sự phân hoá mang tính phi địa đới do địa hình núi cao. Ở tất cả
các đai, nhiệt độ có xu hướng tăng dần từ tháng 1 (tháng lạnh nhất) đến tháng 6
- tháng 7 (tháng nóng nhất) rồi giảm dần cho đến tháng 1 năm sau. Mức độ
chênh lệch cũng như trị số trung bình của nhiệt độ không khí cao nhất và thấp
nhất trung bình tháng và năm thì không lớn. Chênh lệch giữa các tháng mùa
đông và các tháng mùa hè trị số cực trị của nhiệt độ trung bình từ 10 - 12
0
C.
Biến trình nhiệt độ ngày đêm phản ánh rõ sự giảm nhiệt theo đai độ cao,
càng lên đai cao nền nhiệt và biên độ giao động nhiệt càng giảm, trung bình 0,5
- 0,7
o
C/100m, giảm mạnh nhất lên tới 1,27
o
C/100m từ đai 1700-2200m lên đai

3.1.7. Tổng kết đặc điểm và sự biến đổi của các nhân tố khí hậu theo các
đai độ cao ở khu vực Hoàng Liên Sơn (thuộc tỉnh Lào Cai)
Bảng 3.3. Đặc điểm các đai khí hậu khu vực Hoàng Liên Sơn
Các đặc trưng khí hậu
Đai độ cao (mét)
dưới
700
700
- 1700
1700
- 2200

2200
- 2800
trên
2800
Tổng số giờ nắng trung bình 1573,4

1540 1471,8

1525 1568
Lượng mưa trung bình năm (mm)

1600 -
1900
1900-
2400
> 2400

> 2500

rộng của các cây quý hiếm phục vụ mục đích bảo tồn đa dạng sinh học.
3.2. SỰ PHÂN HOÁ CÁC NHÂN TỐ THỔ NHƯỠNG THEO ĐAI CAO
3.2.1. Phân bố các loại đất ở khu vực Hoàng Liên Sơn (tỉnh Lào Cai)
Thổ nhưỡng có sự phân hóa rõ nét theo quy luật đai cao, hình thành 4 đai
đất. gồm 5 nhóm với 15 loại đất:
A/ Nhóm đất feralit đỏ vàng núi thấp (độ cao dưới 700m)
1. Đất feralit đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Fj)
2. Đất feralit vàng đỏ trên đá macma axit/granit (Fa)
3. Đất feralit vàng nhạt trên đá cát (Fq)
4. Đất feralit vàng nâu trên phù sa cổ (Fp)
5. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl)
B/ Nhóm đất mùn đỏ vàng núi trung bình (700 -1700m)
6. Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (HFj)
7. Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit (HFa)
8. Đất mùn vàng nhạt trên đá cát (HFq)
C/ Nhóm đất mùn alit núi cao (1700 - 2200, 2200 - 2800)
9. Đất mùn alit vàng nhạt trên đá macma axit (Ha)
10. Đất mùn alit vàng đỏ trên đá sét và biến chất (Hj)
11. Đất mùn alit nâu vàng trên đá vôi (mầu 31) (Hv)
D/ Nhóm đất mùn thô than bùn núi cao (>2800m)
12. Đất mùn thô than bùn núi cao (A)
E/ Nhóm đất khác
13. Đất phù sa ngòi suối (Py)
14. Đất phù sa sông (Pb) (được bồi/ không được bồi, lầy)
15. Đất dốc tụ đa nguồn gốc (D)
15

3.2.2. Đặc điểm phẫu diện đất ở các đai độ cao
Qua các phẫu diện đất rừng - đất trống và trảng cỏ, thấy có sự khác biệt
về hình thái của đất theo độ cao cũng như ở các trạng thái thảm phủ thực vật.

7 Photpho dễ tiêu Giảm Giảm Tăng
8 Kali dễ tiêu Giảm Tăng Tăng
9 Hàm lượng sắt Tăng Giảm -
10 Hàm lượng nhôm

Tăng Giảm -
3.3. SỰ THAY ĐỔI CẤU TRÚC THẢM THỰC VẬT THEO ĐỘ CAO
3.3.1. Đặc điểm hệ thực vật bậc cao có mạch ở khu vực Hoàng Liên Sơn
16

Mặc dù chỉ chiếm 1,01% diện tích trên đất liền nhưng khu vực Hoàng
Liên Sơn hiện lưu giữ 3252 loài, 1126 chi, 230 họ thuộc 6 ngành thực vật bậc
cao có mạch chiếm 31,6% tổng số loài, 50,13% tổng số chi và 68,86% tổng số
họ hiện có ở Việt Nam. Trong đó, ngành Ngọc lan - Magnoliophyta chiếm ưu
thế tuyệt đối với 2889 loài (chiếm 88,84%), 1006 chi (chiếm 89,34%), 195 họ
(chiếm 84,79%). Điều này khẳng định Hoàng Liên Sơn là một trong những
trung tâm đa dạng thực vậc vào bậc nhất của Việt Nam.
Dù phân bố ở nơi có hệ thống núi cao nhất của Việt Nam nhưng hệ thực
vật Hoàng Liên Sơn vẫn mang tính chất nhiệt đới điển hình. Lớp Ngọc lan luôn
chiếm tỷ trọng lớn hơn so với lớp Loa kèn ở tất cả các bậc từ 4-5 lần, cụ thể ở
bậc loài là 4,39 lần, bậc chi là 4,00 lần, bậc họ là 5,5 lần.
10 họ đa dạng nhất có 1000 loài, 321 chi, (chiếm 30,75% tổng số loài và
28,51% tổng số chi), 10 chi đa dạng nhất có 322 loài chiếm 9,90% tổng số loài
của toàn khu vực.
Hệ thực vật khu vực Hoàng Liên Sơn có 236 loài cây quý hiếm (chiếm
7,26% tổng số loài), trong đó có 163 loài trong SĐVN, 83 loài trong danh mục
của IUCN, 48 loài theo NĐ32 và 22 loài trong danh mục CITES.
Trong tổng số 3252 loài thực vật bậc cao có mạch phân bố ở khu vực
Hoàng Liên Sơn có 775 loài đặc hữu chiếm 23,83% tổng số loài của toàn khu
hệ. Số loài đặc hữu Hoàng Liên Sơn là 77 loài (chiếm 2,37%), đặc hữu Bắc Bộ

+ +
VA5a + + +
VB2a + +
VB3a + +
VC2a + +
VD1a + + +
Nhân tác + + + +
Dưới 700m, theo lý thuyết có rừng kín nhiệt đới thường xanh gió mùa
trên núi thấp nhưng do tác động mạnh của con người nên kiểu rừng này chỉ còn
ở dạng thứ sinh, tối đa 2 tầng cây gỗ. Mức độ tác động của con người ở đai
700m- 2200m ít hơn nên rừng có từ 2 đến 3 tầng. Rừng có xu hướng giảm số
tầng tán và giảm chiều cao cây ở các đai trên 2200m, bản chất thảm thực vật
chuyển từ á nhiệt đới thấp tầng trên (2 tầng) sang á nhiệt đới núi vừa tầng dưới
(1 tầng), thảm thực vật có bản chất giống với thực vật ôn đới theo vĩ độ. Tỷ lệ
của trảng (gồm trảng cỏ và trảng cây bụi) cũng phân hóa theo độ cao. Ở các
vùng thấp, trảng hình thành do tác động chặt phá khai thác gỗ hoặc đốt nương
làm rẫy làm suy thoái rừng thì ở những đai cao, trảng được hình thành một cách
tự nhiên nên diện tích trảng của các đai là khá lớn nhưng trong tương lai, với
việc quản lý tốt công tác phát triển rừng thì rõ ràng diện tích trảng của các đai
thấp là thấp hơn so với các đai cao.
3.3.4. Sự thay đổi cấu trúc thảm thực vật theo độ cao
3.3.4.1. Số lượng và thành phần các bậc taxon
18

Bảng 3.23. Sự thay đổi thành phần các bậc taxon theo các độ cao
TT

Đai độ cao
Ngành Họ Chi Loài
SL

71,74

493 43,78

1023

31,46

4 2200-2800m

3 50 89 38,69

186 16,52

319 9,81
5 Trên 2800m

3 50 43 18,69

77 6,84 116 3,57
Tổng số 6 100 230

100 1126

100 3252

100
Nếu như không tính đai dưới 700 m thì càng lên cao thì thành phần các
bậc taxon càng ít phong phú hơn, thấp nhất là đai trên 2800m, cao nhất là đai
700 - 1700m. Phần lớn các loài tập trung ở đai độ cao dưới 1700 m, chỉ có 28

phần loài của hệ thực vật theo chiều cao địa hình ở Hoàng Liên Sơn.
3.1.4.4. Sự thay đổi thành phần các loài quý hiếm
Bảng 3.27. Phân hoá số loài quý hiếm theo các đai độ cao ở Hoàng Liên Sơn
Đai độ cao < 700m

700-
1700m

1700-
2200m
2200-
2800m
>2800m

HLS
Tổng số loài 1988 2790 1023 319 116 3252
Loài quý hiếm

(%)
125
(52,97)
203
(86,02)

91
(38,56)
24
(10,17)
6
(2,54)

(82,32)

217
(28,00)
59
(7,61)
19
(2,45)
775
(100)
% tổng số loài 16,85 22,87 21,21 18,49 16,38 23,81

Số loài đặc hữu thay đổi theo các đai độ cao, càng lên cao số loài đặc hữu
giảm đi. Đai từ 700 -1700m có số lượng loài đặc hữu nhiều nhất.
20

3.1.4.5. Sự thay đổi phổ dạng sống
Công thức phổ dạng sống 5 đai độ cao như sau:
SB (I) = 81,24Ph + 3,92Ch + 1,51Hm + 5,38Cr + 7,95Th
SB (II) = 80,49Ph + 5,16Ch + 2,23Hm + 5,13Cr + 6,99Th
SB (III) = 78,96Ph + 5,87Ch + 2,05Hm + 6,46Cr + 6,66Th
SB (IV) = 77,74Ph + 6,90Ch + 0,63Hm + 9,40Cr + 5,33Th
SB (V) = 72,41Ph + 7,76Ch + 0,86Hm + 11,21Cr + 7,76Th
Đi từ chân núi đến đỉnh núi ở Hoàng Liên Sơn, tổ thành loài ưu thế cũng
thay đổi, tỷ lệ nhóm cây chồi trên (Ph) đặc biệt là nhóm cây gỗ lớn (Mg), cây
gỗ trung bình (Me), cây dây leo (Lp) có xu hướng giảm đi trong khi nhóm cây
chồi sát đất (Ch) và nhóm cây chồi ẩn (Cr) tăng lên. Bản chất thảm thực vật
chuyển từ á nhiệt đới sang á ôn đới núi cao.
3.1.4.6. Chiều cao cây gỗ
Bảng 3.31. Sự thay đổi chiều cao cây gỗ theo độ cao

3.5.1. Định hướng bảo tồn đa dạng thực vật
Đai 700-1700m là đai cần quan tâm đặc biệt bởi tập trung đến 85,79%
tổng số loài, 86,02% số loài quý hiếm và 82,32% số loài đặc hữu của toàn khu
vực Hoàng Liên Sơn (tỉnh Lào Cai). Đai này bị tác động nghiêm trọng bởi các
hoạt động khai thác, tàn phá không kiểm soát được của con người, hiện chỉ còn
khu vực Văn Bàn là lưu giữ được những vạt rừng tương đối nguyên sơ với 3
tầng cây gỗ và 5 tầng rừng điển hình còn hầu hết là các trạng thái rừng thứ sinh,
rừng tái sinh, rừng sản xuất. Vì vậy, cần thiết lập, khoanh vùng bảo vệ nghiêm
ngặt một số điểm trọng yếu về đa dạng thực vật ở đai độ cao 700-1700m.
Đai 1700-2200m có nhiều điều kiện thích hợp để hình thành vùng phân
bố mở rộng của các loài đặc hữu, loài quý hiếm trong bối cảnh có nhiều dấu
hiệu chứng tỏ sự dịch chuyển của các loài thực vật lên độ cao hơn do nhiệt độ
trung bình tăng, trái đất nóng lên. Do đó, cần có quy hoạch để đai 1700-2200m
thành vùng đệm hoặc vùng ưu tiên bảo vệ đa dạng thực vật ở khu vực Hoàng
Liên Sơn.
22

Đối với các đai trên 2200m cần giữ nguyên trạng để bảo vệ các kiểu thảm
thực vật, các hệ sinh thái đặc trưng vùng núi cao tạo cảnh quan phục vụ phát
triển du lịch bền vững
3.5.2. Định hướng phát triển du lịch bền vững
Với mục tiêu kết hợp hài hoà giữa lợi ích cộng đồng, xoá đói giảm nghèo
với vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, giữ gìn các hệ sinh thái, cảnh quan tự
nhiên, đề xuất phân vùng xây dựng và phát triển du lịch tại khu vực Hoàng Liên
Sơn với 3 vùng trọng tâm: Vùng du lịch tại Tp, Lào Cai và huyện Sa Pa; Vùng
du lịch tại huyện Bát Xát; Vùng du lịch tại huyện Văn Bàn và 8 tuyến điểm du
lịch có thế mạnh phát triển:
 Tuyến: Bát Xát - Mường Vi - Sa Pa,
 Tuyến: Bát Xát - Mường Vi - Mường Hum - Y Tý - Sa Pa,
 Tuyến: Sa Pa - Tả Van - Bản Hồ - Séo Trung Hồ,

độ ẩm không khí trung bình tăng lên, biên độ chênh lệch dao động nhiệt độ và
độ ẩm ngày đêm giảm; số giờ nắng, cường độ chiếu sáng, lượng mưa, cường độ
và tốc độ gió tăng lên.
2.2. Khi đi từ thấp lên cao, pH
KCl
, hàm lượng photpho dễ tiêu, ion sắt,
nhôm trong đất đều giảm trong khi độ mùn, hàm lượng Nitơ tổng số, Kali tổng
số, Kali dễ tiêu đều tăng. Đồng thời, theo chiều sâu của phẫu diện đất, độ mùn,
hàm lượng Nitơ tổng số, Nitơ dễ tiêu, Photpho tổng số, Photpho dễ tiêu, Kali dễ
tiêu đều giảm trong khi pH
KCl
, hàm lượng sắt và nhôm đều tăng lên.
2.3. Càng lên cao, số loài thực vật trong mỗi đai, mỗi ô tiêu chuẩn giảm đi
trung bình 10 - 13 loài/100m; số loài đặc hữu, số loài quý hiếm, số tầng tán
rừng có xu hướng giảm; tổ thành loài ưu thế cũng thay đổi, tỷ lệ nhóm cây chồi
trên (Ph) đặc biệt là nhóm cây gỗ lớn (Mg) giảm mạnh, nhóm cây chồi sát đất
(Ch) và nhóm cây chồi ẩn (Cr) tăng lên. Bản chất thảm thực vật chuyển từ á
nhiệt đới sang á ôn đới núi cao.
3. Mối quan hệ giữa đất - thảm thực vật - khí hậu là hệ thống động, luôn
biến đổi theo hướng xác lập một trạng thái cân bằng giữa các thành phần. Mối
24

tương tác khí hậu - đất dần thay đổi thành “khí hậu + thảm thực vật” - đất trong
quá trình phát triển của thảm thực vật.
4. Đai 700-1700m tập trung 85,79% tổng số loài, 86,02% số loài quý
hiếm và 82,32% số loài đặc hữu của toàn khu vực nên cần được quy hoạch bảo
tồn nghiêm ngặt. Đai 1700-2200m cần ưu tiên bảo vệ, phát triển thành vùng
đệm, vùng phân bố mở rộng của các loài quý hiếm, các loài đặc hữu. Các đai
trên 2200m cần được giữ nguyên trạng để bảo vệ các HST núi cao đặc trưng.
5. 3 trung tâm du lịch với 8 tuyến điểm và 6 loại hình du lịch cần được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status