tóm tắt luận án tiến sĩ nghiên cứu sử dụng nấm metarhizium anisopliae và nấm beauveria bassiana phòng chống rệp sáp hại cà phê tại tây nguyên - Pdf 19

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng vai trò ngày
càng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Hàng năm, nước ta
xuất khẩu khoảng trên 1 triệu tấn cà phê nhân, mang lại kim ngạch gần 2 tỷ
USD. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật, rệp sáp là một trong
những loại sâu bệnh hại chủ yếu trên cây cà phê. Trong những năm qua, rệp sáp
đã gây hại trên diện rộng ở hầu hết các vùng chuyên canh cây cà phê, rệp sáp
gây hại cà phê cả giai đoạn kiến thiết cơ bản đến thời kỳ kinh doanh.
Để phòng trừ rệp sáp, hiện nay biện pháp hóa học đang được sử dụng phổ
biến. Các loại thuốc trừ sâu hóa học có hiệu lực phòng trừ rệp sáp không cao bởi
trong quá trình sinh trưởng rệp tạo ra một lớp sáp che phủ bên ngoài làm cho khi
phun thuốc rất khó tiếp xúc và tiêu diệt được chúng.
Đã có nhiều công trình trước đây tập trung nghiên cứu phòng trừ rệp sáp,
tuy nhiên việc nghiên cứu biện pháp phòng trừ rệp sáp bằng sinh học thì chưa
nhiều. Đặc biệt chưa có một chế phẩm sinh học đặc hiệu nào cho rệp sáp hại cà
phê có trên thị trường. Do đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu
sử dụng nấm Metarhizium anisopliae và nấm Beauveria bassiana phòng
chống rệp sáp hại cà phê tại Tây Nguyên”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Trên cơ sở xác định thành phần chủng nấm ký sinh rệp sáp hại cà phê, lựa
chọn chủng có ý nghĩa từ đó đi sâu nghiên cứu, xây dựng quy trình sản xuất
nhằm tạo ra chế phẩm sinh học đặc hiệu trong phòng chống rệp sáp hại cà phê
đạt hiệu quả.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Điều tra, xác định thành phần các loài rệp sáp gây hại trên cà phê và diễn
biến của một số loài rệp sáp hại chính trên cà phê tại Tây Nguyên.
2

chọn, nhân nuôi tạo chế phẩm sinh học có hiệu quả.
- Xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất và sử dụng hai chế phẩm
nấm ký sinh BIOFUN 1 từ chủng MR4 và BIOFUN 2 từ chủng BR5 để phòng
chống rệp sáp hại cà phê đạt hiệu quả kinh tế, môi trường ở Tây Nguyên và
vùng phụ cận.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Nấm ký sinh trên rệp sáp hại cà phê, các mẫu phân lập từ bệnh phẩm
ngoài tự nhiên tạm gọi là chủng.
- Rệp sáp hại cà phê tại Tây Nguyên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Xác định thành phần chủng nấm ký sinh rệp sáp hại cà phê tại vùng
nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái một số chủng nấm có độc tính
cao đối với rệp sáp hại cà phê.
- Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm nấm phòng trừ rệp sáp
hại cà phê.
- Xây dựng mô hình sử dụng chế phẩm nấm phòng chống rệp sáp hại cà
phê đạt hiệu quả.
5. Cấu trúc luận án
Luận án được trình bày trong 154 trang và 36 trang phu lục, trong đó:
- Phần mở đầu: 5 trang
- Phần nội dung gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài và
tổng quan tài liệu nghiên cứu được trình bày trong 42 trang với sự tổng hợp từ
149 tài liệu tham khảo trong đó có 36 tài liệu tiếng Việt và 113 tài liệu tiếng
Anh. Chương 2: Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu được trình bày
trong 20 trang. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận được trình bày trong
63 trang với 40 bảng số liệu và 28 hình.
- Phần kết luận và kiến nghị: 2 trang
4

1.2.2. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng nấm côn trùng trên thế giới
Hiện nay, đã có trên 700 loài nấm được phát hiện có liên quan đến các
bệnh trên côn trùng (Pu and Li, 1996), chúng chủ yếu nằm trong 2 lớp là
Hyphomycetes (Deuteromycotina) và Entomophthorales (Zygomycotina) (Feng,
1988a). Với những tiềm năng cho việc ứng dụng phòng trừ sâu hại rất lớn, tuy
nhiên với chỉ một số rất ít loài được nghiên cứu và phát triển cho việc phòng trừ
sâu hại. Trong vài thập kỷ qua, với sự gia tăng số lượng đăng ký thương mại hóa
trên toàn thế giới về các loài nấm côn trùng thuộc lớp Hyphomycetes với nhiều
dạng khác nhau, các loài nấm chủ yếu là: Beauveria bassiana, B. Brongniartii,
Metarhizium anisopliae, Nomuraea rileyi, Paecilomyces fumosoroseus và
Verticillium lecanii. Các chế phẩm này được sử dụng để phòng trừ phổ rộng trên
các loài sâu hại như bộ cánh màng, cánh cứng, cánh vảy, cánh thẳng và hai cánh
(shah and Goettel, 1999). Các công nghệ được nghiên cứu như lên men, tạo
dạng và sử dụng các tác nhân nấm rất hoàn hảo trên khắp thế giới và được xuất
bản bởi rất nhiều các tác giả như Burges, 1998; Caudwell and Gatehouse, 1996;
Cliquet and Jackson, 1997; Ibrahim et al., 1999; Jackson et al., 1997; Kleespies
and Zimmermann, 1998; Lacey and Kaya, 2000; Wraight and Carruthers, 1999.
1.2.3. Những nghiên về rệp sáp hại cà phê
Hiện nay có trên 70 nước trồng cà phê với diện tích khoảng 10 triệu ha,
rệp sáp hại xuất hiện ở hầu hết các vùng trồng cà phê trên thế giới, có rất nhiều
công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái và các nghiên cứu về tác hại của
chúng đối với cà phê (Zurgen Kramez và Heinz Schmutterer, 1978; Anthony và
Youdewei, 1983; Coste R., 1955…).
1.3. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.3.1. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng nấm ký sinh côn trùng
Vấn đề nghiên cứu các chủng nấm gây bệnh cho côn trùng đã được các
nhà khoa học ở một số trường Đại học và Viện nghiên cứu bắt đầu thực hiện từ
những năm 70 của thế kỷ 20. Năm 1975, Tạ Kim Chỉnh và cs đã thu thập mẫu
bệnh sâu róm thông Dendrolimus ponctatus và xác định là do loài nấm trắng
6

7
hết quả. Các diện tích cà phê bị hại nặng đã giảm năng suất cà phê nghiêm
trọng. Rệp sáp gây hại không chỉ làm ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển,
năng suất của cây cà phê trong thời điểm bị hại của năm đó, mà nó còn gây ảnh
hưởng cho vườn cà phê vào các năm sau, nếu cà phê không được chăm sóc, hồi
phục tốt (Võ Chấp, 1997). Khi rệp sáp hại cà phê ở cấp 4 (tức là trên 75% bộ
phận của cây có rệp) thì thiệt hại là 66,6% năng suất cà phê nhân (Phạm Thị
Vượng và CTV, 2004).
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy (2011), từ năm 2006 đến
2009 tại Đắk Lắk cho thấy mức độ phát sinh và mật độ của rệp sáp tua ngắn
Planococcus kraunhiae chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại cảnh, trong đó
yếu tố mưa là quan trọng nhất, ảnh hưởng rất lớn tới sự phát sinh phát triển của
rệp sáp bột tua ngắn.

CHƯƠNG II
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm, thời gian, vật liệu nghiên cứu và dụng cụ thí nghiệm
2.1.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm ngiên cứu: Viện Bảo vệ thực vật, Viện KH Nông lâm nghiệp
Tây Nguyên và các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai.
- Thời gian nghiên cứu: Từ 2009 đến 2011.
2.1.2. Vật liệu nghiên cứu
Các chủng nấm côn trùng được phân lập từ các nguồn khác nhau, các loài
rệp sáp, các vườn cà phê vối và các loại môi trường dùng trong nghiên cứu bao
gồm: Czapek-Dox, Sabouraud, MT1, MT2, MT3, N1 và N2
2.1.3. Dụng cụ thí nghiệm
Nồi hấp khử trùng, tủ sấy vô trùng, buồng cấy vô trùng, tủ lạnh, tủ định ôn,
máy lắc, đèn cực tím, kính hiển vi, buồng đếm hồng cầu, pocan, hóa chất các loại,
máy cất nước, máy ảnh, cốc thuỷ tinh, ống nghiệm, pipet, đĩa petri, que cấy, bình
tam giác, phễu, cối sứ, đũa thuỷ tinh, bông, giấy thấm, dụng cụ phun thuốc….

tuyển bằng phản ứng enzyme ngoại bào trên các cơ chất chitine, lipid, cenllulose
và glucose. Sau đó lựa chọn chủng nấm bằng phương pháp đánh giá hiệu lực
9
trên cơ thể rệp sáp.
2.3.3. Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất chế phẩm sinh học phòng
chống rệp sáp hại cà phê
Quy trình lên men xốp: Tiến hành thí nghiệm trên 5 công thức giá thể
nuôi cấy khác nhau: CT1: Giá thể gạo: 100%; CT2: Giá thể gạo + Ngô: 50 – 50;
CT3: Giá thể ngô: 100%; CT4: Giá thể gạo + bã mía: 50 – 50; CT5: Giá thể bã
mía: 100%. Chỉ tiêu theo dõi: Số lượng bào tử/gr chế phẩm.
- Nghiên cứu một số dạng phụ gia thích hợp để tạo dạng và kéo dài thời
gian bảo quản chế phẩm. Lựa chọn và xác định 3 loại phụ gia để tiến hành thí
nghiệm, ký hiệu là PG1, PG2, PG3 (thành phần phụ gia là các chất trơ). Các
dạng phụ gia được phối trộn với bào tử tinh theo 3 tỷ lệ về trọng lượng như sau:
CT1: Bào tử nấm; CT2: Bào tử nấm/Phụ gia: 1/6; CT3: Bào tử nấm/Phụ gia:
1/9; CT4: Bào tử nấm/Phụ gia: 1/12. Tiến hành bảo quản ở điều kiện thường
(phòng thí nghiệm), sau mỗi tháng bảo quản lấy mẫu và kiểm tra chất lượng chế
phẩm sau các tháng bảo quản. Chỉ tiêu theo dõi: Số lượng bào tử nảy mầm.
- Nghiên cứu hỗn hợp chất bám dính khi sử dụng chế phẩm: Đánh giá hỗn
hợp chất bám dính trên môi trường nuôi cấy để biết được khả năng nảy mầm của
bào tử. Hỗn hợp nồng độ chất bám dính theo khuyến cáo của nhà sản xuất là 0,3
phần vạn, bổ sung vào môi trường và sau đó cấy dung dịch hòa từ chế phẩm nấm ở
nồng độ 10
-5
vào các đĩa, đặt trong điều kiện định ôn 5 ngày và tiến hành đếm số
lượng bào tử nảy mầm. Chỉ tiêu theo dõi: Số lượng bào tử nảy mầm.
2.3.4. Khảo nghiệm chế phẩm và xây dựng mô hình đánh giá hiệu quả phòng
chống rệp sáp hại cà phê
2.3.4.1. Đánh giá hiệu lực của chế phẩm trong phòng thí nghiệm
Đánh giá hiệu lực của các chế phẩm nấm trong phòng thí nghiệm, nhà

Krông Pắk – tỉnh Đắk Lắk. Diện tích mô hình 3ha và diện tích đối chứng là 3ha.
Phun chế phẩm vào các cao điểm của rệp sáp trong mô hình.
Chỉ tiêu đánh giá: Tỷ lệ cành bị nhiễm rệp.
Các phương pháp x ử lý số liệu
11
1. Xử lý thống kê bằng chương trình IRRISTAT và SAS.
2. Hiệu lực của chế phẩm được hiệu đính theo công thức ABBOTT ( đối với
thí nghiệm trong phòng và nhà lưới ) và theo công thức Henderson- tilton (đối
với thí nghiệm ngoài đồng).

CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thành phần và diễn biến tỷ lệ cành cà phê bị rệp sáp hại tại Tây
Nguyên năm 2009, 2010
3.1.1. Thành phần rệp sáp hại cà phê tại Tây Nguyên
Qua điều tra thu thập được 7 loài rệp sáp hại cà phê tại Đắk Lắk và Gia
Lai, thuộc 2 họ của bộ cánh đều là họ rệp sáp bột Pseudococcidae (5 loài), họ
rệp sáp mềm Coccidae (2 loài). Trong 7 loài rệp sáp đã xác định được, có 2 loài
là rệp sáp bột tua ngắn Planococcus kraunhiae Kuwana và loài rệp sáp mềm
xanh Coccus viridis Green là những loài có tần suất xuất hiện với mật độ cao và
ảnh hưởng lớn tới năng suất và chất lượng cà phê tại Đắk Lắk và Gia Lai. Từ kết
quả nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành các nghiên cứu tập trung vào 2 loài rệp
gây hại chính là rệp sáp bột tua ngắn và rệp sáp mềm xanh.
3.1.2. Diễn biến tỷ lệ cành cà phê bị một số loài rệp sáp chính hại tại Tây
Nguyên năm 2010
- Rệp sáp mềm xanh: Tỷ lệ cành cà phê bị nhiễm tại Buôn Ma Thuột qua
các kỳ điều tra cho thấy trong năm có 2 cao điểm là trung tuần tháng 3 và đợt 2
từ tháng 8 đến tháng 9 tương ứng với tỷ lệ cành bị nhiễm ở vườn kiến thiết cơ
bản đợt 1 là 78,89, đợt 2 là 68,89. Vườn kinh doanh đợt 1 là 13,33%, đợt 2 là
20,33%. Tại Cưkuin cũng xuất hiện 2 cao điểm tỷ lệ cành bị nhiễm vào trung

Thu thập mẫu rệp sáp bị nấm ký sinh ngoài tự nhiên, phân lập và giám
định các loài nấm bằng hình thái học và giải trình tự gene, kết quả về thành phần
các loài nấm ký sinh trên rệp sáp hại cà phê dược trình bày trong bảng 3.1.
13
Bảng 3.1. Thành phần các loài nấm ký sinh trên rệp sáp hại cà phê
(năm 2009 – 2011)
TT

Loài nấm
Ký hi
ệu
chủng

Ký chủ
Địa điểm
thu

1 Metarhizium anisopliae

MR1 Rệp sáp bột Đắk Lắk
MR2 Rệp sáp bột Đắk Lắk
MR3 Rệp sáp bột Sơn La
MR4 Rệp sáp bột Đắk Lắk
MR6 Rệp sáp mềm xanh Nghệ An
MR7 Rệp sáp bột Đắk Lắk
MR8 Rệp sáp bột Gia Lai
MR9 Rệp sáp bột Gia Lai

14
bassiana là những loài có mức độ xuất hiện gây bệnh trên rệp sáp nhiều. Đây là
kết quả lần đầu tiên xác định về thành phần các loài nấm ký sinh trên rệp sáp hại
cà phê tại Việt Nam.
Cùng với kết kết quả thu thập, phân lập và giám định các mẫu vật thuộc
các loài sâu hại khác được thu thập bổ sung ở các vùng khác nhau đến năm 2011
đã thu thập được 25 chủng thuộc 6 loài nấm gồm: 9 chủng nấm Metarhizium
anisopliae trong đó 4 chủng từ Đắk Lắk, 2 chủng từ Gia Lai, 1 chủng từ Sơn La,
1 chủng từ Nghệ An và 1 chủng từ Hà Nội. 12 chủng Beauveria bassiana trong
đó 4 chủng từ Đắk Lắk, 4 chủng từ Nghệ An, 2 chủng từ Sơn La, 1 chủng từ Hà
Nội và 1 chủng từ Bắc Giang. 1 chủng Cordyceps nutans từ Đắk Lắk , 1 chủng
Cephalosporium lanosoniveum từ Đắk Lắk , 1 chủng Toxicocladosporium sp. và
1 chủng Paecilomyces cicadae từ Đắk Lắk.
3.2.2. Kết quả lựa chọn môi trường nuôi cấy nấm
Để xác định môi trường nuôi cấy nấm và nhân giống cấp 1 vừa đạt hiệu
quả kỹ thuật về khả năng phát triển và sinh lượng enzyme ngoại bào lớn nhất,
vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế. Qua thử nghiệm 5 loại môi trường khác nhau, đã
xác định được môi trường N1 là môi trường khả thi nhất dùng để tiến hành các
thí nghiệm và sản xuất giống cấp 1 trong quy trinh sản xuất chế phẩm.
3.2.3. Nghiên cứu khả năng phát triển của các chủng nấm ở các mức nhiệt độ
khác nhau
Tiến hành thí nghiệm khả năng phát triển của các chủng nấm ở các mức
nhiệt độ 15; 20; 25; 30 và 35
0
C, ẩm độ 85%. Kết quả cho thấy các chủng nấm
phát triển thích hợp nhất ở mức nhiệt độ 25
o
C, hầu hết các chủng nấm phát triển
kém ở nhiệt độ 30
o

3,3
h

BR2 9,3
efg

9,6
def

7,0
ef

6,3
hi

7,0
fg

BR4 13,3
d

13,8
bc

9,0
cd

12,3
c


5,0
gh

BR7 10,0
ef

9,0
ef

8,0
de

10,6
cde

8,0
ef

BR8 13,6
cd

13,6
bc

14,0
e

11,0
cde


8,6
def

BR11 15,6
b

15,3
ab

14,6
ab

15,0
b

12,3
bc

BR12 8,3
fgh

7,0
fg

9,0
cd

8,8
fgh


hi

7,3
f

BR15 10,0
ef

10,3
de

10,3
c

7,3
gh

10,6
cd

BR16
16,3
a

12,0
cd

9,3
cd


(x10
8
)
Ban
đầu
3
tháng
6
tháng
9
tháng
12
tháng
MR4
Thường (bt/ml) 2,23 1,79
a

1,44
a

0,90
c

0,64
c

Hút chân không (bt/ml) 2,02 1,88
a

1,72


1,74
c

Hút chân không (bt/ml) 5,11 4,88
a

4,44
a

4,25
b

4,17
b

Glyceryl (bt/ml) 5,07 4,92
a

4,52
a

4,35
a

4,23
a

CV % 0,5 5,9 0,5 0,6
Ghi chú: Trong phạm vi cột của từng chủng nấm, các chữ cái a; b; c… chỉ sự sai khác

BR5 3,36
a

2,27
b

3,10
a

3,16
a

1,17
c

0,51 14,1
MR4 1,89
a

1,70
a

1,54
ab

1,40
b

0,89
c

Bảng 3.5. Chất lượng chế phẩm tinh sau các tháng bảo quản
khi phối trộn với các dạng phụ gia khác nhau
(Viện BVTV, 2010 – 2011)
Thời gian
bảo quản
Số bào tử sống/gr chế phẩm (x10
12
)
BBT BTT+PG1 BTT+PG2 BTT+PG3
Ban đầu 4,79
a

0,47
a

0,48
a

0,47
a

1 tháng 4,65
a

0,46
a

0,45
b


0,40
c

0,38
e

0,34
cd

5 tháng 1,73
e

0,38
d

0,36
f

0,34
cd

6 tháng 0,33
f

0,37
d

0,32
g



0,18
j

0
f

10 tháng 0
g
0,26
h

0
k
0
f

11 tháng 0
g
0,24
i

0
k
0
f

12 tháng 0
g
0,22

9
số bào tử nảy mầm/gr sản phẩm so với 5,57
x 10
9
số bào tử nảy mầm ở công thức không hỗn hợp với chất bám dính.
3.3.4. Xây dựng quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm
Qua các kết quả thí nghiệm về công nghệ sản xuất, chúng tôi đã xây dựng
quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm nấm để phòng chống rệp sáp hại cà phê.
3.4. Khảo nghiệm chế phẩm và xây dựng mô hình đánh giá hiệu quả phòng
chống rệp sáp hại cà phê
3.4.1. Đánh giá hiệu lực của chế phẩm trong phòng thí nghiệm
Tiến hành đánh giá hiệu lực của 2 loại chế phẩm là BIOFUN 1 (MR4) và
BIOFUN 2 (BR5) trên 2 loài rệp là rệp sáp mềm xanh và rệp sáp bột tua ngắn tại
2 địa điểm là Viện BVTV và Viện KHNLN Tây Nguyên, kết quả thí nghiệm cho
thấy: Trong điều kiện phòng thí nghiệm tại Viện BVTV, hiệu lực trừ các loài rệp
sáp của chế phẩm đạt cao nhất là 71,8%. Tại Đắk Lắk, hiệu quả phòng trừ rệp
sáp đạt cao nhất vào tháng 9 (24,4
0
C, ẩm độ 87%) là 77,78% đối với chế phẩm
BIOFUN 2 trên rệp sáp bột tua ngắn, chế phẩm BIOFUN 1 là 74,45% đối với
rệp sáp thân gốc.
3.4.2. Đánh giá hiệu lực của chế phẩm trong nhà lưới
Các thí nghiệm đánh giá chế phẩm trên rệp sáp trong nhà lưới tại Viện
Bảo vệ thực vật và nhà lưới tại Tây Nguyên. Trong điều kiện nhà lưới tại Viện
BVTV, hiệu lực của chế phẩm
BIOFUN 2
trừ rệp mềm xanh đạt cao nhất 68,5%
sau 14 ngày xử phun. Chế phẩm
BIOFUN 1
đạt 67,2%.

5 0 8,6
b

20,0
b

40,2
b

53,9
a

65,9
b

2,5 0 4,6
c

15,1
c

30,2
c

46,4
b

55,1
c


66,9
a

2,5 0 7,4
c

23,1
c

38,0
b

43,6
b

55,0
b

CV% 2,0 1,6 0,9 0,8 0,9
3.4.3. Đánh giá hiệu lực của chế phẩm nấm trên đồng ruộng
- Đánh giá diện hẹp
Từ kết quả thí nghiệm trong phòng và nhà lưới, chúng tôi tiến hành đánh
giá hiệu lực của các chủng nấm trên đồng ruộng ở diện hẹp. Kết quả thí nghiệm
trình bày trong bảng 3.7.
Bảng 3.7. Hiệu lực của chế phẩm
BIOFUN 1

BIOFUN 2
đối với rệp sáp
mềm xanh trên đồng ruộng diện hẹp (Đắk Lắk, 3/2011)


8,2 4,90

5 1,83
k

20,77
i
52,48
e
64,31
c

57,72
d

67,01
b

2,5 1,49
k

11,95
j
22,82
i
33,23
gh

37,12

gf

31,14
e

43,31
d

60,17
bc

62,86
b

2,5 1,44
h

13,42
g

21,82
f

24,33
f

35,70
e
37,90
e

ồng
độ
(gr/lít)
TP
Tỷ lệ cành nhiễm rệp sáp qua các ngày theo dõi (%)
1NSP 3NSP 5NSP

7NSP

10NSP 14NSP

MR4

10 43,33

42,82 38,22 32,44 21,11 16,55 10,11
5 33,33

28,88 24,88 19,55 13,88 11,77 9,33
2,5 48,88

38,88 31,11 25,55 21,11 18,88 16,20
BR5

10 22,22

21,11 18,88 16,22 13,33 6,67 3,33
5 23,33

22,22 18,88 14,44 13,55 9,88 6,66

tháng 8. Kết quả cho thấy: Ở ruộng mô hình, sau khi phun chế phẩm ở 2 thời kỳ
này tỷ lệ hại giảm đi đáng kể so với trước khi xử lý chế phẩm và tỷ lệ này thấp
hơn nhiều so với tỷ lệ hại ở các ruộng đối chứng.
Tiến hành theo dõi diễn biến tỷ lệ nấm ký sinh trên rệp sáp xanh mềm
trong mô hình được trình bày trong hình 3.1
0
10
20
30
40
50
60
70
80
Tỉ lệ ký sinh %
Ngày theo dõi
Rệp sáp
Nấm ký sinh

Hình 3.1. Tỷ lệ nấm ký sinh trên rệp sáp mềm xanh trong mô hình
tại Krông Păk qua các kỳ điều tra
Trong ruộng mô hình trước khi phun chế phẩm, tỷ lệ rệp sáp xanh mềm bị
ký sinh tự nhiên là 16,7%, sau khi phun chế phẩm lần 1 tỷ lệ này đã đạt 56,7%
và sau khi phun chế phẩm lần 2 vào giai đoạn tháng 8 tỷ lệ rệp sáp xanh mềm bị
nấm ký sinh đạt đến 70,1%. Nguồn rệp bị nhiễm nấm bệnh này sẽ là nguồn lưu
tồn bào tử trên đồng ruộng để ký sinh cho các lứa rệp về tiếp theo.
23
Tính chi phí về bảo vệ thực vật trong ruộng mô hình và ruộng đối chứng
do nông dân sản xuất đại trà cho thấy: Hiệu quả kinh tế tổng thu tăng giữa ruộng
mô hình so với ruộng nông dân tại Đắk Lắk đạt 6.300.000 đồng/ha.

,
BIOFUN 2
với chất bám dính khi sử dụng
phun trên đồng ruộng là Tween hoặc nước rửa chén Sunligh cho hiệu quả cao nhất.
5. Trong điều kiện phòng thí nghiệm, hiệu lực phòng trừ rệp sáp bột tua ngắn đạt
cao nhất là 77,78% đối với chế phẩm
BIOFUN 2

BIOFUN 1
là 72,22%; trên
rệp sáp mềm xanh là 71,8% và 70,7%. Trong điều kiện nhà lưới, hiệu lực chế
phẩm
BIOFUN 2
đạt 68,9 % và chế phẩm
BIOFUN 1
đạt 66,2%.
6. Hiệu lực của chế phẩm
BIOFUN 1
trên đồng ruộng diện hẹp với rệp sáp mềm
xanh là 73,28% sau 10 ngày phun, trên rệp sáp bột là 70,35% sau 14 ngày phun.
Chế phẩm
BIOFUN 2
trên rệp sáp mềm xanh đạt 72,09% sau 14 ngày phun, trên
rệp sáp bột đạt 70,9%.
Hiệu lực của chế phẩm trên diện rộng tại CưKuin cho thấy, tỷ lệ cành bị
nhiễm rệp khi phun chế phẩm
BIOFUN 2
ở nồng độ 10 gr/lít giảm từ 22,22%
xuống còn 3,33% sau 14 ngày xử lý, tại Buôn Ma Thuột từ 57,78% trước khi
phun xuống còn 5,56%. Trong khi ở công thức đối chứng, tỷ lệ bị nhiễm rệp hầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status