1
GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề :
Hiện nay phẫu thuật bắc cầu động mạch vành được thực hiện
khá phổ biến tại nhiều trung tâm phẫu thuật tim.Việc sử dụng mạch
máu tự thân nào làm cầu nối tùy thuộc vào trung tâm phẫu thuật, vào
vò trí mạch vành đích bò hẹp và vào giai đoạn phát triển. Nghiên cứu
nhằm đánh giá kết quả trung hạn của phẫu thuật bắc cầu động mạch
vành sử dụng toàn bộ mạch ghép động mạch.
Các mục tiêu chuyên biệt của đề tài nghiên cứu gồm :
1- Đánh giá kết quả trung hạn của phẫu thuật bắc cầu động mạch
vành sử dụng toàn bộ mạch ghép là động mạch ( có so sánh với
nhóm dùng mạch ghép là động mạch ngực trong và tónh mạch hiển
lớn ).
2- Đề xuất mạch ghép động mạch thích hợp trong phẫu thuật bắc
cầu động mạch vành.
2. Tính cấp thiết của đề tài :
Đau ngực tái phát do hẹp tắc cầu nối mạch vành có ảnh hưởng
xấu đối với tình trạng chức năng của bệnh nhân và còn có liên quan
với tăng tử vong về trung hạn sau mổ. Đề tài nghiên cứu này mở ra
triển vọng tìm được biện pháp làm giảm tỷ lệ đau ngực tái phát ở
bệnh nhân đã phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Do vậy đề tài
nghiên cứu có tính thời sự, rất cấp bách và cần thiết.
3. Những đóng góp mới của luận án :
Đây là nghiên cứu trung hạn đầu tiên về phẫu thuật bắc cầu
động mạch vành sử dụng toàn bộ cầu nối là động mạch ở Việt Nam.
Nghiên cứu này đã cho thấy việc sử dụng hoàn toàn các cầu nối bằng
động mạch tự thân là an toàn và hiệu quả. So sánh với cầu nối bằng
tónh mạch, cầu nối bằng động mạch có tỷ lệ còn thông tốt sau 3 năm
2
cao hơn có ý nghóa. Kết quả này giúp bác só phẫu thuật tim mạnh dạn
trước (interventriculaire antérieure) đi trong rãnh liên thất trước tới
đỉnh tim rồi vòng ra phía sau để nối với nhánh liên thất sau (hay
nhánh sau xuống ) của ĐMV phải. ĐM xuống trước trái có đường
kính trung bình ở đoạn đầu và đoạn giữa khoảng 2- 3mm sau đó nhỏ
dần ở đoạn xa. Về mặt giải phẫu, ĐM xuống trước trái được chia làm
3 đoạn :
° Đoạn gần thường đi chìm trong cơ tim. Tổn thương gây hẹp
thường gặp ở đoạn này.
° Đoạn giữa thường thấy rõ trên bề mặt tim và thường bắc cầu nối
trên đoạn này. Đoạn này có nhiều nhánh chéo và nhánh vách.
° Đoạn xa là đoạn tận cùng đi đến mỏm tim. Do có kích thước tương
đối nhỏ nên ít khi bắc cầu nối trên đoạn này.
- ĐM mũ trái: (left circumflex artery, artère circonflex) có hướng
xuất phát vuông góc với trục của thân chung, đi vòng sang trái trong
rãnh nhó thất trái đi xuống mặt hoành sau đó kết nối hoặc không với
các nhánh của ĐMV phải. ĐM này có các phân nhánh : nhánh động
mạch Kugel, các nhánh ĐM bờ tù (obtuse marginal branches) hay bờ
trái ( artère marginale gauche), nhánh nhó-thất ( left AV artery),
nhánh ĐM sau-bên trái (left postero-lateral branches). Thường có từ
2 đến 3 nhánh bờ tù với kích thước trung bình thay đổi từ 1,5 - 3mm .
- ĐM trung gian (ramus intermedius, artère bisectrice) là một ĐM
xuất phát trực tiếp từ thân chung và có hướng đi song song với các
nhánh chéo của ĐM xuống trước trái. ĐM này thường có kích thước
lớn 2- 3mm và khá dài, rất thích hợp để bắc cầu ĐMV.
1.1.2 Động mạch vành phải : xuất phát từ lỗ ĐMV phải ở xoang
vành phải đi ra mặt trước tim vòng sang phải đi trong rãnh nhó thất
4
phải sau đó đi xuống mặt hoành của tim vào rãnh liên thất sau và
phân chia ra 2 nhánh tận cùng : ĐM xuống sau phải (right posterior
descending artery) hay ĐM liên thất sau (interventriculaire
BN. Một lợi điểm lớn khác là có thể can thiệp ngay trên các cầu nối
bò hẹp trong khi chụp. Ngoài ra cả MSCT 64 lẫn chụp mạch vành
chọn lọc đều cho phép phát hiện các thương tổn hẹp mới trên ĐMV
tự nhiên của BN.
Bảng 1.1: các tiêu chuẩn lượng giá độ thông cầu nối và bệnh lý thành mạch
theo Fitgizbon “Nguồn Fitgizbon, 1996 ”[49].
Mức độ
Đònh nghóa
Độ thông nối A
B
O
Thông hoàn toàn
Hẹp lòng cầu nối < 50% đường kính ở đoạn
gần , đoạn xa hoặc hẹp tại thân cầu nối
Tắc nghẽn hoàn toàn
Độ bệnh lý thành mạch I
II
III
HP
LPKhông có biến đổi lớp nội mạc
Biến đổi nội mạc không đều < 50% bề mặt
Biến đổi nội mạc không đều > 50% bề mặt
Sang thương nặng gây hẹp > 50% đường kính
Sang thương nhẹ gây hẹp < 50% đường kính
HP : high profile lesion
Chương 2: ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7
2.1. Thiết kế nghiên cứu :
Nghiên cứu được thiết kế theo kiểu nghiên cứu đoàn hệ tiến
cứu, có so sánh hai nhóm không ngẫu nhiên. Biến cố kết cục là đau
ngực tái phát xuất hiện sau mổ và hẹp tắc cầu nối mạch vành.
2.2. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân :
Dân số nghiên cứu là những người bệnh hẹp động mạch vành
đơn thuần được phẫu thuật bắc cầu động mạch vành tại Viện Tim
thành phố HCM trong các năm 2008-2010. Bệnh nhân được phẫu
thuật trong khoảng thời gian này vừa được chăm sóc theo một qui
trình thống nhất từ trước đến sau mổ, vừa được theo dõi đủ thời gian
cần thiết cho nghiên cứu.Theo mục tiêu nghiên cứu bệnh nhân được
chọn vào nghiên cứu bao gồm 2 nhóm như sau :
- Nhóm 1: toàn bộ cầu nối động mạch vành đều sử dụng mạch ghép
động mạch.
-Nhóm 2: ngoại trừ cầu nối động mạch ngực trong trái- động mạch
xuống trước trái còn lại đều sử dụng mạch ghép tónh mạch hiển.
2.3. Qui trình phẫu thuật :
Bệnh nhân được phẫu thuật tim mở với sự trợ giúp của máy
tim phổi nhân tạo. Chúng tôi sử dụng hệ thống tuần hoàn ngoài cơ
thể với một canula động mạch và một canula tónh mạch hai tầng.
- Kỹ thuật bảo vệ cơ tim là hạ thân nhiệt toàn thân xuống đến 28
o
C -
32
o
C và truyền dung dòch làm liệt tim dạng tinh thể lạnh kết hợp với
trong năm đầu. Sau đó hẹn tái khám mỗi 2-3 tháng. Điện tim 12
chuyển đạo được thực hiện mỗi lần tái khám. X-quang ngực thẳng
được kiểm tra mỗi năm một lần. Siêu âm tim kiểm tra được thực hiện
mỗi 6-12 tháng. Chụp mạch vành hoặc MSCT 64 kiểm tra khi
9
bệnh nhân có đau ngực tái phát.
Các thuốc điều trò bệnh nền và điều trò suy tim được tiếp tục
dùng tùy theo tình trạng của từng bệnh nhân. Thuốc kháng kết tập
tiểu cầu được dùng bao gồm Clopidogrel 75mg và Aspirine 81mg.
Thuốc ức chế canxi được dùng cho các bệnh nhân có sử dụng động
mạch quay làm cầu nối .
2.5. Thu thập số liệu :
Việc thu thập số liệu được thực hiện theo một biểu mẫu thống
nhất. Các số liệu được thu thập gồm số liệu trước mổ, số liệu phẫu
thuật và số liệu theo dõi sau mổ.
2.5.1. Số liệu trước mổ : gồm tuổi, giới, bệnh nền và các yếu tố nguy
cơ, phân độ suy tim theo NYHA, nhòp tim (nhòp xoang hay rung
nhó), các số liệu siêu âm tim (kích thước cuối tâm trương thất trái,
phân suất tống máu thất trái ), dạng tổn thương mạch vành.
2.5.2. Số liệu phẫu thuật : gồm loại cầu nối (động mạch ngực trong
trái và phải, động mạch quay hay tónh mạch hiển lớn), số cầu nối
thực hiện được, kiểu nối ( nối đơn hay nối liên tiếp) và thời gian phẫu
thuật –hồi sức ( thời gian kẹp ĐMC, thời gian chạy tuần hoàn ngoài
cơ thể, thời gian thở máy, thời gian nằm săn sóc đặc biệt).
2.5.3. Số liệu tái khám sau mổ : gồm phân độ chức năng theo
NYHA, các số liệu siêu âm tim ( kích thước cuối tâm trương thất trái,
phân suất tống máu thất trái ), thời điểm xuất hiện đau ngực tái phát
sau mổ, các biến chứng muộn (nhồi máu cơ tim, hẹp tắc cầu nối), can
thiệp tái tưới máu ( mổ lại hoặc thông tim can thiệp) và tử vong
muộn .
NMCT < 2 tuần
Tai biến MM não
- Nong MV can thiệp
- EuroSCORE
68 (75,5%)
58,3 ± 8,56
69 (76,7%)
35 (38,9%)
23 (25,6%)
3 (3,3%)
2 (2,2%)
3 (3,3%)
34 (37,8%)
7 (7,8%)
5 (5,6%)
4 ( 4,4%)
2,43 ± 1,28
31 (55,4%)
65,6 ± 7,03
47 (83,9%)
21 (37,5%)
15 (26,8%)
2 (4,3%)
2 (3,6%)
3 (5,3%)
16 (28,6%)
33 (36,7)
02 (3,6)
22 (39,3)
32 (57,1)
Tổng cộng
90 BN
56 BN
Tổng số cầu nối thực hiện được ở nhóm 1 là 292 và ở nhóm 2 là 198.
Số cầu nối thực hiện trung bình lần lượt ở mỗi nhóm là:
- nhóm 1 : 3,24 ± 0,66
- nhóm 2 : 3,54 ± 0,57
Không có khác biệt có ý nghóa về số cầu nối trung bình thực hiện
được giữa 2 nhóm ( p = 0,65) .
Về các loại mạch ghép sử dụng trong nghiên cứu được trình bày
trong bảng sau :
Bảng 3.4 : Các loại mạch ghép được sử dụng
Loại mạch ghép
Số bệnh nhân
%
ĐM ngực trong trái
ĐM ngực trong phải
- Nguyên cuống
- Cắt rời
ĐM quay trái
TM hiển trong
146
47
7
40
122,75 ± 26,7
67,1 ± 13,3
3,43 ± 0,6
2,63 ± 3,0
32,8 ± 57,1
16,6 ± 7,7
< 0,001
0,127
0,026
0,001
< 0,001
< 0,001
3.3. Theo dõi sau mổ và các biến chứng muộn :
3.3.1 Theo dõi sau mổ : trong quá trình theo dõi hậu phẫu, chúng tôi
ghi nhận những biến chứng có liên quan xảy ra theo thời gian. Các
biến chứng này bao gồm : đau ngực tái phát, tử vong muộn (có hoặc
không liên quan đến phẫu thuật), nhồi máu cơ tim mới, hẹp hoặc tắc
cầu nối động mạch vành, cần can thiệp mạch vành, mổ lại .
Thời gian theo dõi của các bệnh nhân trong nhóm bệnh của
chúng tôi là từ 6 tháng tới 36 tháng. Thời gian theo dõi trung vò là 23
tháng. Với các bệnh nhân không đến tái khám tại bệnh viện (mặc dù
đã được gửi thư mời) sau 1 năm thì được gọi là mất theo dõi. Có 2
BN bò mất theo dõi trong nghiên cứu này. Thời gian theo dõi trung
bình của toàn bộ BN là 18,45 ± 8,9 tháng với tổng thời gian theo dõi
là 2402 tháng.
3.3.2 Đau ngực tái phát:
Trong thời gian theo dõi, chúng tôi ghi nhận có 12 trường
hợp bò đau ngực tái phát trong đó nhóm 1 có 4 bệnh nhân (4,4%) và
nhóm 2 có 8 bệnh nhân (14,3%). Tỷ lệ dồn ước tính số bệnh nhân
không bò đau ngực tái phát tính theo phương pháp Kaplan-Meier
14
nong chỗ hẹp 75% trên miệng nối ĐM quay- ĐMV phải đoạn 3. Sau
nong, miệng nối thông tốt .
- Trong nhóm 2, có 3 bệnh nhân được nong chỗ hẹp trên cầu nối : 1
BN bò hẹp 90% miệng nối từ ĐMNT trái xuống ĐMTTX ( nong thất
bại ) và 2 BN khác bò hẹp ≥ 75% đoạn cuối cầu nối tónh mạch xuống
ĐMV phải ( nong thành công ).
3.4.6 Tử vong muộn
Theo kết quả tái khám và thăm dò, chúng tôi ghi nhận có
3 bệnh nhân tử vong muộn (không kể 2 bệnh nhân bò mất theo dõi ).
Bao gồm : 1 bệnh nhân tử vong do nhiễm trùng máu đi kèm suy tim (
18 tháng sau mổ ) và 1 bệnh nhân tử vong muộn không rõ nguyên
nhân ( 24 tháng sau mổ ). Cả hai BN này đều thuộc nhóm 2. BN còn
lại thuộc nhóm 1, đột tử sau 21 tháng theo dõi. Tỷ lệ sống còn ước
tính theo biểu đồ Kaplan-Meier ở nhóm 1 là 98,2 ± 1,8% và nhóm 2
là 80,5 ± 1,8% ( p < 0,001 ).
403020100
SO THANG THEO DOI
1.0
0.8
0.6
- 1 cầu nối TM hiển xuống nhánh sau xuống ĐMV phải .
Tổng cộng, tỷ lệ cầu nối còn thông tốt như sau :
ĐMNT trái : nhóm 1 : 33/33 = 100%
nhóm 2 : 27/28 = 96,4%
ĐMNT phải : 15/16 = 93,75%
ĐM quay trái : 29/31 = 93,5%
TM hiển trong : 51/60 = 85%
Như vậy, tổng cộng các biến chứng muộn có liên quan đến phẫu
thuật như sau ( không tính biến cố xảy ra với cầu nối ĐMNT trái-
ĐMXTT do cầu nối này là như nhau ở cả hai nhóm) :
16
- Nhóm 1 : 10 biến cố / 90 BN ( 11,1%)
- Nhóm 2 : 21 biến cố/ 56 BN ( 37,5%)
Chương 4: BÀN LUẬN
4.1 Kết quả trung hạn và sự ưu thế của cầu nối động mạch
4.1.1 Lợi ích lâu dài của cầu nối bằng động mạch trong bệnh hẹp
mạch vành : giảm thiểu các biến cố tim mạch lớn liên quan.
Các biến cố lớn có liên quan đến phẫu thuật bắc cầu ĐMV
bao gồm : đau ngực tái phát , nhồi máu cơ tim mới , mổ lại ( do hẹp,
tắc nghẽn cầu nối ), tái thông tim can thiệp ( do hẹp, tắc nghẽn cầu
nối) và tử vong muộn. Với các biến chứng muộn liên quan đến phẫu
thuật ít hơn có ý nghóa ở nhóm động mạch hóa toàn bộ cầu nối thì
chắc chắn là những BN này sẽ có mức độ an toàn cao hơn cũng như
chất lượng cuộc sống tốt hơn đặc biệt là với các BN ở xa, ít có điều
kiện tái khám thường xuyên. Nghiên cứu của Muneretto cho thấy
nhóm cầu nối tónh mạch có tỷ lệ đau ngực tái phát và nhồi máu cơ
tim mới sau mổ cao gấp 4 đến 5 lần nhóm cầu nối động mạch. Tỷ lệ
nhồi máu cơ tim mới và tử vong muộn của nhóm cầu nối tónh mạch
cũng tăng gấp 2 lần so với nhóm cầu nối động mạch trong nghiên
4.1.3 Phân tích các bệnh nhân bò hẹp hoặc tắc cầu nối sớm
Loại trừ các nguyên nhân gây hẹp hoặc tắc miệng nối sớm
do lỗi kỹ thuật, còn lại các BN bò hẹp hoặc tắc cầu nối động mạch
vành đều có liên quan chặt chẽ với bệnh nền ( đái tháo đường, rối
loạn chuyển hoá lipid…) , yếu tố nguy cơ ( nghiện thuốc lá, …), bệnh
lý hẹp mạch vành và loại cầu nối sử dụng.
Phân tích theo mô hình các nguy cơ tương xứng kiểu Cox cho
thấy các yếu tố có ý nghóa dự báo với tỷ số nguy cơ (HR) > 1,1 và
18
Bảng 4.6 : dự báo các yếu tố làm tăng nguy cơ xảy ra biến cố
Loại biến Tỷ số nguy cơ (HR) 95% biên độ tin cậy p
Tắc, hẹp cầu nối ( phân tích mô hình các nguy cơ tương xứng Cox)
Giới nam 0,95 0,28 – 3,15 0,9
Tăng HA 0,71 0,17 – 2,87 0,63
Tiểu đường 1,01 0,28 – 3,59 0,09
Rối loạn CH lipid 0,68 0,14 - 3,21 0,67
Nghiện thuốc lá 0,99 0,30 - 3,22 0,9
NMCT trước mổ 1,17 0,59 - 2,30 0,6
Hẹp 3 thân chính 3,15 0,38 – 26,2 0,03
Hẹp thân chung >50% 1,58 0,77 – 3,24 0,21
Cầu nối tónh mạch 3,62 0,23 - 57 0,04
Cầu nối ĐM quay 0,48 0,04 – 5,47 0,03
Cầu nối ĐMNT phải 1,13 0,13 - 3,5 0,63
Đau ngực tái phát ( phân tích mô hình các nguy cơ tương xứng Cox)
Giới nam 1,16 0,34 – 3,88 0,08
Tăng HA 1,65 0,35 - 7,62 0,5
Tiểu đường 0,85 0,20 - 2,01 0,5
Rối loạn CH lipid 0,88 0,24 - 3,29 0,8
Nghiện thuốc lá 1,16 0,37- 3,6 0,08
dụng như là một mạch ghép có cuống hoặc như một mạch ghép tự do
để tạo thành một phức hợp cầu nối. Hơn nữa, phức hợp mạch ghép
với hai ĐMNT và hoặc ĐM quay còn làm giảm đáng kể biến chứng
tai biến mạch máu não sau mổ do không phải nối đầu gần trên ĐMC
lên. Trong nghiên cứu của chúng tôi, ĐMNT phải được sử dụng trong
53% số trường hợp (47) trong đó chỉ 7 trường hợp có thể sử dụng
20
nguyên cuống ( 1 trường hợp nối vào ĐMV phải và 6 trường hợp nối
vào ĐM trung gian). 40 trường hợp còn lại, ĐMNT phải được cắt rời
và nối đầu gần với ĐM quay (30) hoặc ĐMNT trái (10 trường hợp)
để tạo thành phức hợp mạch ghép. Lý do hạn chế sử dụng ĐMNT
phải nguyên cuống ở BN Việt Nam đó là không đủ chiều dài nên
không thể nối đến các ĐM bờ tù phía sau tim . Với BN châu Âu và
châu Mỹ người ta có thể sử dụng ĐMNT phải nguyên cuống, luồn
sau ĐMC lên và nối tới các ĐM bờ trái hoặc nối tới ĐMV phải và
nhánh của nó. Kỹ thuật này gần như không thể thực hiện cho BN
Việt Nam do chiều dài ĐMNT phải không đủ, đặc biệt là với BN nữ
do có chiều dài xương ức ngắn hơn. Chúng tôi đã cải tiến kỹ thuật
này bằng cách cắt rời ĐMNT phải sau đó nối tận bên vào ĐM quay
(30 trường hợp). 10 trường hợp còn lại được nối vào ĐMNT trái để
tạo thành phức hợp cầu nối kiểu chữ T hoặc chữ Y . Với 2 kiểu nối
dài này sẽ không còn bò hạn chế độ dài mạch ghép và nhờ đó ĐMNT
phải có thể nối xuống đến các ĐM bờ trái và nhánh ĐMV phải phía
sau tim. Khác với các tác giả khác, chúng tôi ưu tiên nối đầu gần
ĐMNT phải vào ĐM quay vì 2 lý do : (1) ĐM quay có đường kính
lớn hơn ĐMNT trái nên nối nhanh hơn, ít bò hẹp miệng nối hơn ; (2)
khi nối với ĐM quay chúng ta sẽ có 2 nguồn cung cấp máu riêng biệt
cho toàn bộ hệ thống ĐMV của bệnh nhân.
4.2.2 ĐM quay : ĐM quay bên tay không thuận hoặc lấy cả hai bên
rất dễ lấy, không mất nhiều thời gian, các biến chứng liên quan khá
nguyên khối cũng chỉ khoảng 25-30 phút , thời gian này gần tương
đương với thời gian cần thiết để lấy ĐMNT bên trái. Và chúng ta có
thể lấy đồng thời vừa ĐMNT vừa ĐM quay nên thời gian mổ sẽ
không dài hơn khi so với nhóm lấy TM. Một nghiên cứu của Vũ Trí
22
Thanh năm 2007 cũng cho thấy việc sử dụng ĐM quay làm cầu nối
ĐMV là khả thi và có kết quả ngắn hạn tốt. Trong nghiên cứu của
chúng tôi 95,5% số trường hợp ở nhóm 1 có sử dụng ĐM quay làm
cầu nối với biến chứng liên quan sau mổ rất thấp và tỷ lệ cầu nối ĐM
quay còn hoạt động tốt sau 3 năm rất cao : 93,5%.
4.3.3 ĐM vò mạc nối : rất được các tác giả Nhật, Hàn quốc ưa thích
do có độ thông nối lâu dài cũng khá cao ( 62% - 86% sau 5 năm) tuy
nhiên có khá nhiều bất lợi khi lấy mạch ghép này như phải mở phúc
mạc ( làm tăng nguy cơ nhiễm trùng sau mổ, tăng nguy cơ biến
chứng dạ dày), thời gian lấy khá lâu và dễ chảy máu, độ dài tương
đối hạn chế và dễ gập góc khi đi xuyên cơ hoành nên mạch ghép này
chỉ nối tốt cho ĐMV phải và nhánh của nó . Santos nghiên cứu so
sánh ngẫu nhiên giữa hai nhóm ĐM vò mạc nối phải và ĐM quay
cùng được nối Y với ĐMNT trái sau đó nối xuống ĐM bờ trái. Tử
vong phẫu thuật và NMCT chu phẫu là như nhau ở cả hai nhóm. Tuy
nhiên khi chụp cầu nối sau mổ 2 tuần, tác giả ghi nhận tỷ lệ còn
thông của cầu nối ĐM quay cao hơn có ý nghóa so với cầu nối ĐM vò
mạc nối : 89,6% so với 67% , p = 0,025. Sau thời gian theo dõi TB là
26,5 ± 7,5 tháng, tỷ lệ đau ngực tái phát ở nhóm có cầu nối ĐM vò
mạc nối lên đến 10% trong khi nhóm có cầu nối ĐM quay là 0%.
Tác giả này kết luận là không khuyến khích sử dụng ĐM vò mạc nối
trong vai trò một mạch ghép tự do . Vai trò của ĐM vò mạc nối về
dài hạn cũng chỉ tương đương với tónh mạch hiển và thấp hơn động
mạch quay . Ưu thế lớn nhất của ĐM vò mạc nối là có đường kính
khá lớn và là một mạch ghép có cuống nên có thể tái tưới máu ngay
đường khó kiểm soát , BN có cấu trúc xương ức xốp : chọn ĐM quay
- BN nặng nhưng chưa phải mổ cấp cứu : chọn ĐM quay.
24
- BN có tiền sử chấn thương nặng vùng cẳng tay hoặc có bệnh mạch
máu ngoại biên, BN suy thận mạn giai đoạn trễ : lấy ĐMNT phải.
KIẾN NGHỊ
- Với BN còn trẻ < 60-65 tuổi, nên mạnh dạn sử dụng phương
pháp sử dụng toàn bộ cầu nối là động mạch trong phẫu thuật bắc
cầu động mạch vành nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống về
trung hạn và dài hạn cho bệnh nhân.
- Cầu nối ĐM là ĐM quay và ĐMNT phải cần được ưu tiên chọn
lựa . Việc chọn lựa cần phù hợp với tuổi, bệnh nền, số cầu nối
cần thiết và tính chất cuộc mổ của từng bệnh nhân.
- Đề xuất xây dựng phác đồ chụp mạch vành hoặc MSCT 64 kiểm
tra sau mổ về lâu dài trên nhóm BN không bò đau ngực tái phát
để có thể đánh giá chính xác tỷ lệ còn thông của các mạch ghép
theo thời gian từ đó làm cơ sở dữ liệu để chọn lựa các loại mạch
ghép phù hợp với từng nhóm đối tượng BN khác nhau cũng như
phát hiện sớm các trường hợp bò hẹp cầu nối động mạch vành để
có thể can thiệp kòp thời.
- Nghiên cứu thêm về phương thức lấy và sử dụng ĐM vò mạc nối
cho phẫu thuật bắc cầu động mạch vành để có thêm nhiều chọn
lựa mạch ghép là động mạch.