tóm tắt luân án tiến sĩ: Nghiên cứu mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế - Pdf 18



TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ HÀ NỘI - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Vào hồi… giờ, ngày… tháng… năm 2014
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Tạ Quang Bửu - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
- Thư viện Quốc gia


3. Trần Thị Ánh (2013) Hoạt động R&D: Kinh nghiệm thế giới và một số
khuyến nghị đối với Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Quản lý, số tháng 6-2013.

4. Nghiêm Sĩ Thương, Trần Thị Ánh (2010) Tác động của xác suất được tài
trợ tín dụng cho các dự án nghiên cứu - phát triển (R&D) đối với tăng
trưởng kinh tế trong điều kiện thông tin bất cân xứng. Tạp chí Nghiên cứu
tài chính kế toán, số tháng 6 - 1010.

5. Trần Thị Ánh (2010) Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán
Việt nam: những tồn tại và một số giải pháp khuyến nghị. Tạp chí Ngân
hàng, số tháng 1 - 2010.

cho hoạt động R&D cũng giống như bất kỳ thị trường nào, tức cũng có bên cung và bên cầu.
Quan hệ giữa bên cung và bên cầu xảy ra hai trường hợp là thị trường cạnh tranh hoàn hảo
và thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Thị trường tài trợ cho hoạt động R&D ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới hiện nay là thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Một trong các lý
do dẫn đến việc cạnh tranh không hoàn hảo là sự bất cân xứng về thông tin giữa người mua
và người bán. Theo F.Mishkin [41], “Sự không công bằng về mặt thông tin mà mỗi bên có
được được gọi là hiện tượng thông tin bất cân xứng”.
Vấn đề thông tin bất cân xứng, mà hệ quả của nó là sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo
đức, khiến việc tài trợ cho hoạt động R&D được không đúng người đúng mục đích, từ đó ảnh
hưởng tới tăng trưởng kinh tế. Để phản ánh hệ quả này, các mô hình của Jones [57], Ivo De
Loo và Luc Soete [54], Madsen [65] đã đề cập đến nghịch lý về mối quan hệ giữa việc tài trợ
cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế: “Ở một số quốc gia, lượng tiền đầu tư cho hoạt
động R&D liên tục tăng trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế lại có xu hướng giảm dần trong
nhiều năm liên tiếp”. Nghịch lý này đã xảy ra ở Mỹ giai đoạn 1989-1991, ở một số quốc gia
như Mỹ, Nhật Bản, Anh … giai đoạn 2000-2003 và gần đây là giai đoạn 2007-2010 [39].
Các nghiên cứu khác cho đến nay cũng đưa ra nhiều luận giải cho nghịch lý này như bài
viết Jones [57], Ivo De Loo và Luc Soete [54], Madsen [65]. Jones cho rằng những nhân tố
đột biến bất thường đã tác động ngược chiều và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; theo Ivo
De Loo và Luc Soete, hoạt động R&D về sau đã tập trung vào sự khác biệt hóa sản phẩm
nhiều hơn là sự đổi mới về mặt kỹ thuật công nghệ, điều này góp phần tăng lợi ích của người
tiêu dùng nhưng không tác động mạnh đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, những giải
thích này vẫn chưa nhận được nhiều sự đồng thuận và đang còn gây nhiều tranh luận giữa các
nhà kinh tế.
Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy không phải trong mọi trường hợp việc tăng
cường tài trợ cho hoạt động R&D đều góp phần kích thích tăng trưởng kinh tế. Vậy trong
trường hợp nào thì nên tiếp tục tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D, trong trường hợp nào
thì không nên tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D và nên sử dụng nguồn lực đó cho các
lĩnh vực ưu tiên khác?
Những phân tích trên cho thấy cần phải tiếp tục nghiên cứu để luận giải cho nghịch lý về
mối quan hệ giữa việc tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thông

mặt lý luận và nghiên cứu vận dụng kết quả vào hai nước là Việt Nam và Mỹ.
5. Ý nghĩa khoa học của đề tài
• Trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề cơ bản về mặt lý luận và tìm hiểu các mô hình kinh
tế trong và ngoài nước có liên quan, đề tài lựa chọn, phát triển và xây dựng một mô
hình kinh tế có thể áp dụng được để đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D
trong điều kiện thông tin bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế.
• Điểm mạnh của mô hình là ở chỗ xuất phát từ những điểm khác biệt trong cách tiếp
cận của mô hình với các nghiên cứu trước đây, mô hình đã chỉ ra:
- Sự tác động của tài trợ cho hoạt động R&D tới lượng sản phẩm trung gian mới



, tới tổng lượng sản phẩm trung gian của nền kinh tế 

và tới lực lượng lao
động sản xuất sản phẩm cuối cùng 

.
- Tài trợ cho hoạt động R&D có hiệu quả đối với tăng trưởng kinh tế khi tổng hợp
ảnh hưởng của các tham số này phải thỏa mãn điều kiện ràng buộc được miêu
tả ở công thức (3-45).
2

- Kết quả của đề tài góp phần đưa ra một luận giải đối với nghịch lý về mối quan
hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế còn đang được tranh
luận giữa các nhà kinh tế.
• Đề tài vận dụng mô hình nghiên cứu tại hai quốc gia là Việt Nam và Mỹ trong giai
đoạn 2005-2013, từ đó xem xét tính hiệu quả của việc tài trợ cho hoạt động R&D đối
với tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh thông tin bất cân xứng ở mỗi quốc gia.
• Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất dải xác suất được tài trợ có hiệu quả cho năm tiếp theo ở

của tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện thông tin bất cân xứng
đối với tăng trưởng kinh tế”, trên cơ sở đó xem xét những nhân tố tác động thuận chiều,
những nhân tố tác động ngược chiều và xem xét những điều kiện nên mở rộng tài trợ cho
hoạt động R&D, những điều kiện không nên mở rộng tài trợ cho hoạt động này.
Nền tảng và hướng nghiên cứu mới của luận án được mô tả ở hình 1.3.
3

16
- Xây dựng mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin
bất cân xứng đối với tăng trưởng kinh tế
- Trên cơ sở đó xem xét những nhân tố tác động thuận chiều, những nhân tố tác động ngược chiều
tới tăng trưởng kinh tế;
- Xem xét những điều kiện nên tăng cường tài trợ cho hoạt động R&D, những điều kiện không
nên tăng cường tài trợ cho hoạt động này.
- Vận dụng vào điều kiện Việt Nam và Mỹ.
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY CÓ LIÊN QUAN
- Là những nhà kinh tế
đầu tiên ngiên cứu về
thông tin bất cân xứng
- Các lý thuyết của các
ông là nền tảng co các
nghiên cứu sau này.
- Là những nhà kinh tế
đầu tiên nghiên cứu về
mô hình OGM
- Kết quả của những
nghiên cứu này được
ứng dụng nhiều trong
kinh tế học.
-

IVO DE LOO
LUC SOETE
MADSEN
HƯỚNG NGHIÊN CỨU MỚI VÀ MÔ HÌNH MỤC TIÊU
Nền tảng và hướng nghiên cứu mới

Hình 1.3: Nền tảng và hướng nghiên cứu mới của đề tài
4 CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TÀI TRỢ CHO
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Chương này của luận án giới thiệu tổng quan về tăng trưởng kinh tế, về tài trợ cho hoạt
động R&D, về mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D trong điều kiện thông tin bất cân
xứng và tăng trưởng kinh tế.
2.1. TỔNG QUAN VỀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
2.1.1. Khái niệm và mục tiêu của tăng trưởng kinh tế
Luận án đưa ra quan điểm về tăng trưởng kinh tế như sau: Tăng trưởng kinh tế là sự gia
tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời
gian nhất định (thường là một năm tài chính).
2.1.2. Vai trò của tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế có vai trò: (1) là tiền đề
vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống và thỏa
mãn nhu cầu ngày càng tăng của người dân; (2) tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp; (3) củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín
và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội.
2.1.3. Các chỉ tiêu đo lường tăng trưởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối của tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP), thu nhập bình quân đầu người

Hoạt động R&D được chia thành 3 hoạt động cơ bản là nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
ứng dụng và nghiên cứu phát triển.
Mục tiêu tổng quát của hoạt động R&D là nghiên cứu và khám phá các tri thức mới trong
các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.
5

Theo OECD, lĩnh vực nghiên cứu của hoạt động R&D được chia thành 2 lĩnh vực chính
là: (1) khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, (2) khoa học xã hội và nhân văn.
Nguồn tài trợ: Theo Cục Khoa học Quốc gia Mỹ (Naional Science Foundation) [39],
nguồn tài trợ cho hoạt động R&D được chia thành 4 nhóm là Chính phủ; khối doanh nghiệp;
các viện nghiên cứu và các trường đại học; các tổ chức phi lợi nhuận và các nguồn khác.
Chủ thể thực hiện: Gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học, hoặc khối các doanh
nghiệp:
Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định mua kết quả nghiên cứu hay trực tiếp nghiên cứu
hoạt động R&D ở các doanh nghiệp: gồm đặc tính độc quyền; tốc độ tăng trưởng kinh tế; yếu
tố rủi ro; chi phí.
2.2.2. Việc tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong điều kiện
thông tin bất cân xứng
Theo Mishkin [41], sự không công bằng về thông tin mà mỗi bên có được được gọi là
thông tin bất cân xứng. Thông tin bất cân xứng tạo ra những vấn đề ảnh hưởng đến thị trường
tài chính, đó là: (1) Lựa chọn đối nghịch và (2) Rủi ro đạo đức.
Sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng đã làm thị trường tài chính bị bóp méo và
ảnh hưởng nghiêm trọng tới bên tài trợ vốn (ví dụ chính phủ, các ngân hàng thương mại…):
cản trở việc tài trợ vốn hiệu quả đúng người đúng mục đích và ảnh hưởng tới tốc độ tăng
trưởng kinh tế của quốc gia.
2.2.3. Mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong
điều kiện thông tin bất cân xứng và tăng trưởng kinh tế
Mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế cho tới nay đã được
nghiên cứu bởi rất nhiều nhà kinh tế và cho thấy hai quan điểm khác nhau. Thứ nhất, quan
điểm về mối quan hệ thuận chiều giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế. Một

3.1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH
Mô hình nghiên cứu ở đây là mô hình với sự mở rộng của sản phẩm trung gian theo đó
sự phát triển của khoa học công nghệ nói chung, hoạt động R&D nói riêng đã tạo ra sự mở
rộng của số lượng các sản phẩm trung gian (intermediate goods). Nguồn vốn để tài trợ cho
hoạt động R&D (dự án R&D) ở trong mô hình được thực hiện thông qua thị trường tín dụng.
Ngoài ra, mô hình xem xét sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng (informational
frictions). Các quan hệ trong mô hình được mô tả chi tiết ở hình 3.1.
3.2. XÂY DỰNG NHỮNG ĐIỀU KIỆN CỤ THỂ CHO MÔ HÌNH
3.2.1. Mô tả môi trường kinh tế của mô hình
* Về thời gian: Thời gian được nghiên cứu trong mô hình là đại luợng không xác định
(  ) và được chia thành các thời kỳ riêng rẽ kế tiếp lẫn nhau ( = 0,1,2, … , ).
* Về các chủ thể tham gia trong mô hình: Hình 3.1 dưới đây mô tả ngắn gọn về các chủ
thể tham gia trong mô hình.
* Về các loại hàng hóa của mô hình: Mô hình nghiên cứu gồm hai loại hàng hóa: hàng
hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian (phần sau của mô hình sẽ trình bày chi tiết hơn về việc
sản xuất đối với hai loại hàng hóa này).
* Về dự án R&D trong mô hình: Giả định dự án R&D cần một đơn vị lao động và F đơn
vị hàng hóa cuối dùng để tạo ra một phát minh sáng chế mới ở thời kỳ t, trong đó một đơn vị
lao động được cung cấp bởi chính người đi vay; F đơn vị hàng hóa cuối cùng được người đi
vay vay từ phía người cho vay. Giả định rằng những người đi vay luôn mong muốn vay được
tiền để thực hiện dự án R&D hơn là đem bán sức lao động của mình cho các doanh nghiệp
khác. Nếu việc vay tiền thành công họ sẽ thực hiện dự án R&D và nếu dự án R&D thành
công họ sẽ được sở hữu một thẻ xanh hay một bằng phát minh sáng chế (patent) về một ý
tưởng mới ở thời kỳ t. Do đó, họ được quyền lập nên doanh nghiệp để sản xuất một loại hàng
hóa trung gian mới, ví dụ hàng hóa trung gian j ở thời kỳ t+1.
3.2.2. Việc sản xuất hàng hóa cuối cùng và hàng hóa trung gian
* Sản xuất hàng hóa cuối cùng. Theo Romer (1990) [77] và Barro và Sala – i – Martin
(2004) [28], mô hình xem xét hàm sản xuất đối với sản phẩm cuối cùng cho một doanh
nghiệp đại diện ở thời kỳ t như sau:

Hình 3.1: Các tham số trong mô hình [Nguồn: Tác giả]
λ
Thị trường tín dụng và vấn đề
thông tin bất cân xứng

Mô hình mở rộng sản phẩm trung gian
(Expanding Variety of Producer Products)
Mô hình các thế hệ kế tiếp nhau (OGM)
Overlapping Generation Model

Thế hệ già
Người đi vay
(


)


Thế hệ trẻ

Sản phẩm
cuối cùng Sản phẩm trung gian
Để SX phải thực
hiện dự án R&D

Chủ thể nghiên cứu
dự án R&D
Thành công
(


)
Không thành công
(
  

)

(

, 



, 

(
  

)









, 

, 

, , 




8

3.3. THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG VÀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG GIỮA NGƯỜI ĐI
VAY VÀ NGƯỜI CHO VAY

LtLt
R
π
cho
nhóm người đi vay có mức độ rủi ro thấp ở thời kỳ t. Hơn nữa, hợp đồng tín dụng được thông
báo của mỗi người cho vay có tính chất độc lập với những người cho vay còn lại.
Hàm lợi ích kỳ vọng của người đi vay: Người đi vay nhóm i sau khi tiếp cận được khoản
vay sẽ thực hiện dự án R&D. Khi đó, hàm lợi ích kỳ vọng của nhóm người đi vay i với hợp
đồng tín dụng
),(
itit
R
π
là:
(
)
( )
ti
itit
jt
i
it
wF
Rp
β
πηπ
−+−
+
1
1

tittitiit
wFwFRp
ππ
−+−+ 1
(3-15)
Điều kiện tham gia thị trường của người cho vay: Người cho vay sẽ tham gia thị trường
tín dụng khi lợi ích kỳ vọng của họ thu được từ việc tham gia thị trường phải lớn hơn hoặc
bằng số tiền lương thực tế
t
w
khi họ không tham gia thị trường. Do vậy, điều kiện tham gia
thị trường của người cho vay được thể hiện dưới công thức sau:
1≥
iti
Rp
(3-16)
9

Hình 3.6: Thi trường tín dụng (Nguồn: Tác giả)
Thị trường tín dụng
(thực hiện luân chuyển vốn tới người đi
vay để thực hiện dự án R&D)
Giả định
1 người đi vay chỉ có thể vay được F đơn vị hàng hóa cuối
cùng từ 1 người cho vay và ngược lại
Tồn tại vấn đề
thông tin bất cân
xứng
Hợp đồng tín dụng: (


tín dụng (Cân bằng Nash)
Cân bằng
chung
(Pooling
Equilibrium)
Cân bằng
riêng
(Seperating
Equilibrium
)
Dự án thành
công
Dự án không
thành công
Với xác suất


,
người đi vay tiếp
cận được vốn,
thực hiện dự án
R&D
Với xác suất (
  

)
,
người đi vay không
tiếp cận được vốn,
không thực hiện dự

+
−≥
−+

++
1
1
11
(3-18)
( )
(
)
(
)
( )
t
LHt
Ht
jt
Ht
L
t
L
Lt
Lt
jtLt
L
w
FR
p

R
1
=

i = H, L (3-20)
- Hợp đồng tín dụng đối với nhóm người đi vay i trong tập hợp các hợp đồng tín dụng
thỏa mãn các điều kiện (3-18) và (3-20) là nhằm tối đa hóa lợi ích kỳ vọng của nhóm người
đi vay này, giả sử hợp đồng tín dụng nhận được đối với nhóm người đi vay j (

i) không thay
đổi.
Từ những phân tích ở trên, hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng cho cả hai nhóm
người đi vay được mô tả như sau:
- Hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng đối với nhóm người đi vay có mức độ rủi ro
cao H là:
Ht
R
=
H
p
1

Ht
π
1=

- Hợp đồng tín dụng ở điều kiện cân bằng đối với nhóm người đi vay có mức độ rủi ro
thấp L được xác định như sau:
Lt
R

αβ
η
ααβη
π
−−
+
−−
+
−−

−−−
=
1
2
1
1
1
1
2
1
1
1
1
1

(3-21)
3.4. SỰ CÂN BẰNG CỦA THỊ TRƯỜNG TÍN DỤNG
3.4.1. Các trạng thái cân bằng của thị trường tín dụng ở điều kiện thông tin
bất cân xứng
Ở điều kiện thông tin bất cân xứng, thị trường tín dụng có thể tồn tại một trong hai khả

λ
λ
π

−−
=

1
2
1
(3-26)

(
) ( )

















λ
λ
π
(3-35)
Trong đó:
L
Ap
D
HH
2
11
1
2
1
1
αα
α
α
α
−−

=

( )
α
α
α
ααβ
−−
−=

,
Lt
π
cố định
N
t-1
,
1
−Lt
π
cố định

( )
Lp
LpN
L
Ht
λ
λ

−−

1
2
1

( )
Lp
LpNt
L


(3-35)
(3-37)
(3-26)
(3-36)



1
Lt
π
A
B
12 ttt
NLAY
α
α
α
α
−−
=
1
2
1
1
(3-44i)
Thứ nhất: Mô hình xét tác động của nhân tố lực lượng lao động sản xuất sản phẩm


> 



, hay:


> 

khi








> 1. (3-45)
Như vậy, khi vấn đề thông tin bất cân xứng được hạn chế dẫn đến xác suất được tài trợ
của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp tăng. Điều này sẽ tác động đến tổng sản phẩm
quốc dân trong nền kinh tế. Những phân tích ở trên đã chỉ ra rằng tổng thu nhập quốc dân kỳ
t+1 sẽ cao hơn kỳ t khi việc tăng xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi
ro thấp tác động đến lực lượng lao động trong xã hội và tổng lượng sản phẩm trung gian
trong nền kinh tế, và tổng hợp những tác động này phải thoải mãn điều kiện ràng buộc ở công
thức (3-45).
Trường hợp 2: Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
giảm
Trường hợp này xảy ra khi nền kinh tế chịu ảnh hưởng của bất kể tác động nào dẫn đến

. Kết luận này kết hợp với điểm nhận xét thứ nhất cho thấy tổng sản phẩm quốc dân ở kỳ
t+1 lớn hơn tổng sản phẩm quốc dân ở kỳ t khi 



> 



hay điều kiện ràng buộc (3-
45) phải được thỏa mãn.
Như vậy, việc giảm xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
một mặt sẽ tác động làm tăng lực lượng lao động trong xã hội, mặt khác lại tác động làm
giảm lượng sản phẩm trung gian mới trong nền kinh tế. Xét trong một khoảng thời gian ngắn,
mức giảm xác suất này vẫn có thể dẫn đến tăng tổng sản phẩm quốc dân vì trong ngắn hạn thì
mức tăng của lực lượng lao động sẽ tác động mạnh hơn mức giảm của tổng sản phẩm trung
gian mới. Tuy nhiên, Chính phủ các nước đều không nỗ lực nhằm vào việc tăng sản phẩm
quốc dân bằng biện pháp này vì một mặt điều này dẫn đến sự bóp méo thị trường tài chính
nói chung, thị trường tín dụng nói riêng, mặt khác sẽ dẫn đến sự không tham gia thị trường
tín dụng của những người có mức độ rủi ro thấp.
Đó chính là lý do vì sao Chính phủ các nước luôn nỗ lực tìm cách can thiệp vào thị
trường tài chính nói chung, thị trường tín dụng nói riêng để làm tăng thêm sự minh bạch cho
các thị trường này, từ đó giúp tăng cường tài trợ cho những người đi vay có mức độ rủi ro
thấp và góp phần thúc đầy tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, mô hình đã đi vào xây dựng và giải thích được một thực trạng đối với nghịch
lý về mối quan hệ giữa tài trợ cho hoạt động R&D và tăng trưởng kinh tế: Các thị trường tài
chính ngày nay đều có sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng. Sự hiện diện này đã
gây nên sự lựa chọn đối nghịch. Kết quả là những người có mức độ rủi ro cao lại là những
người tích cực tìm vay nhất và được tài trợ, trong khi đó một bộ phận những người có mức
độ rủi ro thấp lại bị từ chối cho vay. Do vậy, Chính phủ các nước luôn tìm cách để hạn chế sự




H
H
L
Lt
p
pp
π
(3-52)
Vì 0  

 1, và từ giả định ban đầu của mô hình là 

> 

có nghĩa là điều kiện
ràng buộc ở công thức (3-52) luôn được thỏa mãn. Như vậy, điều kiện tham gia thị trường
của nhóm những người đi vay có mức độ rủi ro cao luôn được thỏa mãn.
Trường hợp 2: Nhóm những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
Mô hình thu được kết quả sau về xác suất của những người đi vay có mức độ rủi ro
thấp phải thỏa mãn điều kiện ràng buộc sau:
(
)
( )
tHL
LH
HL
Lt

R
π
,

hợp đồng tín dụng chung đó. Giờ phải kiểm định xem hợp đồng tín dụng này có tồn tại hay
không. Kết quả kiểm định đã chứng minh được rằng:
( )
(
)
t
L
t
t
jtL
t
t
Lt
LLt
LtjtLt
L
wF
RpwwFR
p
βπηπββ
πηπ






π
,
nữa. Nói cách khác, sẽ không tồn tại hợp đồng tín dụng






∧∧
t
t
R
π
,
để hấp dẫn được
những người đi vay nhóm L vì hợp đồng tín dụng này sẽ mang lại mức lợi nhuận kỳ vọng là
âm. Kết quả kiểm định này cho thấy sự cân bằng của thị trường tín dụng được mô tả luôn tồn
tại.
15

CHƯƠNG 4
VẬN DỤNG MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA TÀI TRỢ CHO
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Để mô hình được xây dựng đầy đủ và hoàn thiện hơn, chương này trình bày việc vận
dụng mô hình để đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D đối với tăng trưởng kinh
tế tại Việt Nam và Mỹ. Nội dung chính của chương là giới thiệu cách xác định các tham số
của mô hình, xây dựng thuật toán cho mô hình và giới thiệu kết quả vận dụng mô hình tại 2
quốc gia là Việt nam và Mỹ.

các nhân tố gây ảnh hưởng đột biến trong ngắn hạn, do đó mô hình thực hiện xem xét riêng
giai đoạn chịu ảnh hưởng đột biến của cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2008 tới các quốc gia
vận dụng mô hình.
4.2. THUẬT TOÁN VẬN DỤNG MÔ HÌNH
16

Để hỗ trợ cho việc xác định các tham số của mô hình, đề tài đã xây dựng một thuật toán
đơn giản trên Microsoft Excel. Thuật toán này thực chất là sự tóm tắt của tất cả những nội
dung đã trình bày ở trong Chương 3 và phần vận dụng mô hình ở chương này.
Thuật toán này đặc biệt hữu ích nhằm xem xét vai trò cũng như sự biến động của một số
tham số trong mô hình đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D tới tăng trưởng kinh
tế. Mặc dù còn dựa trên một số giả thiết đơn giản hóa nhưng thuật toán này đã chứng tỏ rằng
bài toán đánh giá tác động của tài trợ cho hoạt động R&D tới tăng trưởng kinh tế hoàn toàn
có thể được thực hiện với sự trợ giúp của máy tính thông qua một phần mềm sau khi đã được
xây dựng hoàn thiện hơn. Đây cũng là một trong những vấn đề nghiên cứu tiếp theo của đề
tài.
Các nội dung chính của thuật toán được trình bày trong phần vận dụng mô hình ở một số
nước và trong phần phụ lục của luận án (phụ lục 1 tới phụ lục 16).
4.3. KẾT QUẢ VẬN DỤNG MÔ HÌNH TẠI MỘT SỐ NƯỚC

Một số nhận xét về kết quả vận dụng mô hình tại Việt Nam:
- Bảng 3.13 cho thấy xét trong từng năm khi hiện tượng thông tin bất cân xứng giảm, xác
suất được tài trợ 

có xu hướng tăng, làm tăng lượng sản phẩm trung gian mới 


của nền
kinh tế, đồng thời làm lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng 


2009 bằng 5,3 %. Ngoài ra, kết quả vận dụng mô hình năm 2008 và 2009 tại Việt Nam lần
lượt là 1,190 và 1,199 và đều lớn hơn 1. Xác suất được tài trợ cho những người đi vay có
mức độ rủi ro thấp năm 2008 và 2009 lần lượt là 0,046% và 0,050%; lượng sản phẩm trung
gian mới cũng lần lượt là 334 và 397. Các kết quả này đều ở mức trung bình nếu xét trong
giai đoạn nghiên cứu là 2005-2013. Điều này cho thấy Việt Nam ít chịu tác động bởi các
nhân tố gây ảnh hưởng đột biến tới tăng trưởng kinh tế và tài trợ cho hoạt động R&D của
Việt Nam trong giai đoạn 2008-2009 vẫn hiệu quả và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Giả định các nhân tố khác không thay đổi, tức ở mức tương đối ổn định như giai đoạn
2005-2013, chiến lược tăng cường đầu tư dài hạn cho hoạt động R&D ở nước ta sẽ tiếp tục
góp phần tích cực trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế của quốc gia.
17

Các số liệu về lượng sản phẩm trung gian mới, lực lượng lao động, lượng người nghiên cứu
hoạt động R&D được tài trợ
Xác định xác suất được tài trợ trung bình năm t





LLLĐ sản xuất SPCC


năm t
Xác định xác suất được tài trợ trung bình năm t-1

XS thành công người rủi ro
cao


năm t
XS thành công người rủi ro
thấp


năm t

XS thành công người rủi ro
cao


năm t-1

XS thành công người rủi ro
thấp



t
N
t
N
t
L
11
/
−− tttt
LNLNBảng 4.24: Tổng hợp kết quả vận dụng mô hình tại Mỹ giai đoạn 2005-2013
Năm
L
(người) (%) (%)
(%)
(%)
(BPM) (BPM)
(người)
2005
168,568,437 0.850 13.970 34.539 0.984 384,136 3,447,440 167,029,622
2006 168,322,529 0.850 14.493 37.026 0.981 406,859 3,854,299 166,788,320 1.116
2007 168,488,044 0.900 16.978 44.015 1.005 497,920 4,352,219 166,891,055 1.130
2008 168,415,224 0.900 16.980 44.523 0.995 498,602 4,850,821 166,826,518 1.114
2009 155,296,969 0.950 10.486 24.974 1.164 301,005 5,151,826 153,663,782 0.978
2010 165,178,843 0.900 14.983 37.522 1.047 432,911 5,584,737 163,578,605 1.154
2011 168,995,817 0.900 14.493 37.458 1.027 432,298 6,017,035 167,375,482 1.102
2012 169,163,803 0.900 14.978 37.468 1.041 441,089 6,458,124 167,529,649 1.074

có xu hướng tăng, làm tăng lượng sản phẩm trung gian mới 


của nền
kinh tế, đồng thời làm lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng 

có xu hướng giảm
dần và ngược lại. Những kết quả này phù hợp với những phân tích về mặt cơ sở lý luận của
mô hình. Kết quả ứng dụng mô hình tại năm 2013 so với năm 2012 là là








= 1.077 >
1, điều này cho thấy việc tài trợ cho hoạt động R&D của Mỹ năm 2013 là hiệu quả trong việc
kích thích tăng trưởng kinh tế. Kết quả tương tự như vậy được cũng được thấy trong giai
đoạn 2005-2007 và 2009-2013.
- Giai đoạn 2007-2008, kết quả vận dụng mô hình tại Mỹ bằng 1,114 > 1, trong khi tốc
độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ giai đoạn này là -0.2%. Như đã phân tích ở trên, kết quả kiểm
định trong mô hình này chưa xét đến tác động của các nhân tố bất thường như khủng hoảng
kinh tế, chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai…Trong ngắn hạn khủng hoảng kinh tế chưa gây tác
động tới hoạt động R&D và quy mô người tham gia vào thị trường sức lao động hưởng mức
lương thực tế. Do vậy, trong giai đoạn này kết quả kiểm định ở Mỹ vẫn lớn hơn một, điều
này cho thấy việc đầu tư vào hoạt động R&D của cả Mỹ vẫn là nhân tố tác động thuận chiều
tới tăng trưởng kinh tế, khủng hoảng kinh tế là nhân tố đột biến tác động ngược chiều và tổng
hợp làm giảm nhẹ tốc độ tăng trưởng của Mỹ trong giai đoạn này.

chính ngày nay luôn tồn tại vấn đề thông tin bất cân xứng. Những người đi vay luôn tìm cách
che đậy những thông tin xấu, thổi phồng hoặc cố tạo ra những thông tin tốt. Kết quả là lựa
chọn đối nghịch xảy ra. Mức độ thông tin bất cân xứng tác động đến xác suất được tài trợ của
những người có mức độ rủi ro thấp. Khi mức độ thông tin bất cân xứng có chiều hướng gia
tăng, tỷ lệ những người có mức độ rủi ro thấp bị từ chối cho vay tăng lên và ngược lại. Trên
cơ sở đó, mô hình xem xét sự ảnh hưởng của xác suất được tài trợ đối với những người có
mức độ rủi ro thấp sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
tăng
Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp tăng chỉ góp phần
làm tăng trưởng kinh tế khi việc tăng xác suất này góp phần tạo ra sự tăng sản phẩm trung
gian lớn hơn sự thay đổi trong lực lượng lao động, tức là phải thỏa mãn điều kiện ràng buộc
(3-45). Trong trường hợp ngược lại, việc tăng xác suất được tài trợ của những người đi vay
có mức độ rủi ro thấp tạo nên sự thay đổi trong tổng lượng sản phẩm trung gian mới không
đủ lớn so với những thay đổi trong lực lượng lao động. Nói cách khác, trong trường hợp này
khả năng thành công của các dự án R&D đối với những người có mức độ rủi ro thấp không
cao, và như vậy chắc chắn xác suất thành công của những người đi vay có mức độ rủi ro cao
còn thấp hơn nữa (

à 

). Như vậy, trong trường hợp này việc tăng cường tài trợ
cho các hoạt động R&D sẽ không những không góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà
còn gây nên sự lãng phí nguồn lực trong xã hội.
Trường hợp 2: Xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ rủi ro thấp
giảm
Mô hình đã chỉ ra việc giảm xác suất được tài trợ của những người đi vay có mức độ
rủi ro thấp sẽ tác động làm tăng lực lượng lao động sản xuất sản phẩm cuối cùng trong xã
hội, giảm lượng sản phẩm trung gian mới trong nền kinh tế và có thể dẫn đến tăng tổng sản
phẩm quốc dân trong ngắn hạn. Tuy nhiên, Chính phủ các nước đều không nỗ lực nhằm vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status