ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN ĐÌNH QUỐC CƯỜNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2013 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của
Tiến sĩ Trần Chí Mỹ và Tiến sĩ Hồ Anh Dũng. Tôi
xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên
cứu của công trình khoa học này.
Người làm luận án
Nguyễn Đình Quốc Cường
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
AFTA ASEAN Free Trade Area
(Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN)
Việt Nam 14
1.2. Tính đặc thù của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk 43
1.3. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 76
Chương 2. THỰC TRẠNG GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở TỈNH ĐẮK LẮK TRONG
NHỮNG NĂM QUA 79
2.1. Khái quát các nhân tố tác động đối với việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk 79
2.2. Thực trạng giữ gìn và phát huy hệ giá trị tổng quát và những giá trị
bộ phận của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk
trong những năm qua 96
2.3. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong việc giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk 124
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 130 Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN, PHÁT
HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM Ở TỈNH ĐẮK
LẮK HIỆN NAY 132
3.1. Phương hướng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk 132
3.2. Những giải pháp cơ bản nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay 142
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 165
KẾT LUẬN CHUNG 167
TÀI LIỆU THAM KHẢO 171
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường,
hội nhập quốc tế, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
vừa có nhiều thuận lợi nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức. Mặt
trái của các quá trình đó hàng ngày, hàng giờ làm nảy sinh trên đất nước ta
những tâm lý, tình cảm, những quan niệm và lối sống xa lạ, thậm chí đối lập 2
với các giá trị của bản sắc văn hóa dân tộc cũng như định hướng xây dựng và
phát triển xã hội ta hiện nay. Những yếu tố xa lạ ấy thẩm thấu đến đâu, dẫn
đến hậu quả như thế nào,… đều tùy thuộc vào sức mạnh nội sinh của xã hội
ta, tức của nền văn hóa dân tộc. Sự vững mạnh đó sẽ tạo ra sức đề kháng, đẩy
lùi những độc tố mới nảy sinh, đồng thời có khả năng hấp thụ những nhân tố
mới lành mạnh, bổ ích.
Nhận thức sâu sắc tình hình đó, Đảng ta đã đặt nhiệm vụ giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc vào vị trí cần quan tâm đặc biệt: “Trong
điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế cần đặc biệt
quan tâm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc”[29, tr.111] và luôn coi
đó vừa là một nhiệm vụ văn hóa, vừa là một nhiệm vụ chính trị, là điều kiện
tất yếu để hội nhập thành công vào thế giới, xây dựng và bảo vệ thành công
một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá
con người trên đất nước ta.
Ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay, trên đại thể, cũng tương tự như các địa phương
khác trên đất nước ta, đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Vì thế, nhiệm vụ giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk cũng có những thuận
lợi và khó khăn chung như cả nước; nhưng đồng thời, do điều kiện tự nhiên,
lịch sử và văn hóa có tính đặc thù của địa phương quy định, việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk có những thuận lợi và khó
khăn của riêng mình.
hiện nay, có ý nghĩa thiết thực, vừa cơ bản, vừa cấp bách, cả về lý luận và
thực tiễn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới, trong những thập kỷ gần đây, trước xu thế phát triển
mạnh mẽ của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, đề tài bản sắc văn hóa dân tộc 4
đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều chuyên gia, học giả, các nhà
hoạch định chính sách, các tổ chức quốc tế, và có nhiều công trình khoa học
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về đề tài này đã được công bố. Tiêu
biểu trong số đó có các công trình sau:
“Bản sắc dân tộc” được xuất bản bởi Ben-gơn Búc-óp Luân Đôn
(Penguin Books of London), Anh, vào năm 1991 và “Bản sắc dân tộc và ý
tưởng thống nhất châu Âu” đăng trên Tạp chí Các vấn đề quốc tế của Học
viện Hoàng gia, Vol. 68, số 1 (tháng Giêng, 1992) của An-thô-ny D. Sơ-mit
(Anthony D. Smith). Trong công trình “Bản sắc dân tộc”, tác giả đã phân tích
những vấn đề như: bản sắc của quốc gia dân tộc, cơ sở dân tộc của bản sắc
dân tộc, sự nổi lên của các quốc gia dân tộc, chủ nghĩa dân tộc và bản sắc văn
hóa. Trong “Bản sắc dân tộc và ý tưởng thống nhất châu Âu”, tác giả đã phân
tích vấn đề bản sắc dân tộc và đặt ra những vấn đề cho một bản sắc châu Âu
như: Tại sao nói rằng châu Âu đang chứng kiến một sự hồi sinh của dân tộc
ngay cả khi các xu hướng toàn cầu hóa của xã hội hậu công nghiệp trở nên rõ
ràng hơn? Nền văn hóa châu Âu được thành lập có trái ngược với sự phát
triển của một nền văn hóa quốc tế?
Cuốn sách “Bản sắc văn hoá và quá trình toàn cầu” của Dôn-na-than
Phơ-rít-man (Jonathan Friedman), được xuất bản bởi Khoa Nhân học, Đại học
Tét-su-đơ (Teessude), 1994, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa các quá
trình toàn cầu và bản sắc của nền văn hóa; phân tích mối quan hệ giữa toàn
cầu và văn hóa các địa phương.
Giao thoa bản sắc văn hóa và thích ứng với biến đổi khí hậu trên bối cảnh
quốc gia” của Dôn W. Bet-ry (John W.Berry) – Din S. Phin-ni (Jean S.
Phinney) – Đa-vít L. Sam (David L. Sam) – Pao-lơ Vet-đơ (Paul Vedder),
Nxb. Ai-du-tri Ơ-ven-nu Mát-quây (Iandustrial Avenue Mahwah), Hoa Kỳ, 6
2006, các tác giả phân tích quá trình giao thoa giữa bản sắc văn hóa dân tộc
của các thanh niên nhập cư và nền văn hóa của quốc gia họ nhập cư.
Công trình “Chính sách ngôn ngữ, văn hóa và bản sắc trong bối cảnh
châu Á” của A-mi B.M. Tơ-su (Amy B. M. Tsui) và Dam-mơ W. To-lep-sơn
(James W. Tollefson), được xuất bản tại Ru-lét-gơ (Routledge), Hoa Kỳ,
2007, các tác giả đã phân tích vấn đề văn hóa và bản sắc văn hóa của các dân
tộc trong bối cảnh thay đổi chính trị - xã hội ở châu Á,…
Ở Việt Nam, bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đề tài bản sắc văn
hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam đã thu hút sự quan tâm đặc
biệt của các nhà khoa học, các tổ chức chính trị, xã hội, văn hóa và khoa học
trên cả nước. Và, cho đến hiện nay, nhiều công trình khoa học nghiên cứu về
đề tài này đã được công bố. Có thể khái quát các công trình tiêu biểu trong số
đó theo các chủ đề chính như sau:
Thứ nhất, lý luận chung về bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam. Về chủ đề này, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
“Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm, Nxb. Thành
phố Hồ Chí Minh, 1997 và công trình “Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong
văn hóa” của GS, VS. Hoàng Trinh, Nxb. Chính trị quốc gia, 2000, các tác
giả đã đề cập đến một số nội dung về văn hóa tổ chức cộng đồng như: đời
sống tập thể, đời sống cá nhân; văn hóa ứng xử của con người Việt Nam.
Trong cuốn “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb. Văn học, 2006, Phan
Ngọc đã bình luận, phân tích khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa; cách tiếp
19 (163), 2008. Trong bài viết này, tác giả đã trình bày một cách khái quát về
bản sắc văn hóa dân tộc và đưa ra những yêu cầu, nội dung nhằm giữ gìn bản
sắc văn hóa dân tộc khi Việt Nam tham gia vào thị trường toàn cầu,.v.v.v.
Thứ hai, về vai trò của bản sắc văn hóa Việt Nam; giữ gìn và phát huy 8
bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa
– hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của đất nước.
Về chủ đề này, có các công trình tiêu biểu như: “Phát triển văn hóa, giữ gìn và
phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại” của Phạm Minh Hạc,
Nxb. Khoa học xã hội, 1996, tác giả đã tập trung phân tích vai trò của việc giữ
gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong việc chống “diễn biến hòa bình”.
Tuyển tập “Những vấn đề văn hóa Việt Nam hiện đại”, Nxb. Giáo dục,
2001, bao gồm nhiều bài viết của các nhà khoa học được Lê Quang Trang -
Nguyễn Trọng Hoàn tuyển chọn và giới thiệu, trong đó có bài viết của Phạm
Quang Nghị “Vai trò của văn hóa trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước
ta”, tác giả đã phân tích tầm quan trọng của văn hóa dân tộc trong sự phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước; hay “Phát huy nội lực văn hóa trong phát
triển” của Phạm Duy Đức, tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa văn hóa dân
tộc và phát triển.
Tổng tập “Bản sắc dân tộc trong văn hóa văn nghệ”, Nxb. Văn học,
2002, bao gồm nhiều bài viết của các nhà khoa học được Trung tâm Nghiên
cứu Quốc học tuyển chọn và giới thiệu, trong đó có bài viết của Trần Văn
Giàu “Sức mạnh của văn hóa dân tộc biểu hiện điển hình trong lịch sử Việt
Nam”, tác giả phân tích vai trò của văn hóa dân tộc trong lịch sử đấu tranh
dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; Bài viết của Hà Bình Nhưỡng
“Mối quan hệ giữa giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc với giữ vững
độc lập, tự chủ của nước ta hiện nay”, tác giả đã phân tích vai trò của giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc đối với việc bảo vệ nền độc lập dân tộc,
giả đã phân tích vai trò của văn hóa dân tộc trong chiến lược phát triển đất
nước; xây dựng và phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần, động lực và mục
tiêu của sự phát triển đất nước; những thời cơ và thách thức của văn hóa Việt
Nam trên con đường đổi mới và hội nhập. 10
Trong cuốn sách “Văn hoá và con người Việt Nam trong đổi mới và hội
nhập quốc tế” của GS,TS. Hoàng Chí Bảo, Nxb. Chính trị quốc gia, 2010, tác
giả đã phân tích khá sâu sắc về vai trò của văn hóa trong đổi mới, hội nhập
quốc tế, cũng như sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam.
Cuốn sách “Tác động của toàn cầu hóa đối với sự phát triển văn hoá và
con người Việt Nam” do GS,TS. Dương Phú Hiệp (chủ biên), Nxb. Chính trị
quốc gia, 2010, đã phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của toàn cầu
hóa, hội nhập quốc tế đến sự phát triển những giá trị mang tính bản sắc của
văn hóa Việt Nam, đề xuất những nguyên tắc hội nhập quốc tế nhằm bảo
đảm, bảo toàn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Trong công trình “Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập” do GS,TS. Ngô Đức Thịnh
(chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, 2010, đã phân tích những giá trị tiêu biểu
mang tính đặc sắc riêng có của văn hóa truyền thống Việt Nam và đề xuất các
giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị tiêu biểu mang tính đặc sắc
riêng có của văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập.
Ngoài ra, còn nhiều công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam đã được công bố trong các hội thảo khoa học, trên các tạp chí
khoa học,…
Như vậy, cho đến nay, khối lượng các công trình nghiên cứu về bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam và việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
trong thời kỳ phát triển mới của đất nước là khá đồ sộ, có giá trị lý luận và thực
tiễn to lớn đối với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn việc nghiên cứu là giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam biểu hiện ở các dân tộc bản địa
của tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn từ khi Đảng ta ban hành Nghị quyết về xây dựng 12
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (năm
1998) đến nay.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu của
luận án
Cở sở lý luận của luận án là các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về xây dựng và phát triển văn hóa.
Nguồn tài liệu: Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; các văn kiện của Đảng và Nhà nước ta, của Tỉnh ủy và
Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk; các công trình nghiên cứu của các tập thể, cá
nhân các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài; các tài
liệu, số liệu thống kê của các ban, ngành, đoàn thể các cấp ở Trung ương và
tỉnh Đắk Lắk; các số liệu, tài liệu do tác giả điều tra, khảo sát thực tế.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án được thực hiện trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,
đồng thời luận án có sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể
như: Phương pháp lôgích, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
diễn dịch, quy nạp, thống kê, loại suy, nghiên cứu định tính, nghiên cứu định
lượng, điều tra xã hội học,… để nghiên cứu và trình bày luận án.
6. Cái mới của luận án
Thứ nhất, từ những tư tưởng mang tính gợi mở, đặt vấn đề của các nhà
khoa học về bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam và những giá trị văn hóa đặc
trưng của nhân dân các dân tộc ở tỉnh Đắk Lắk, luận án làm rõ tính đặc thù
của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam ở tỉnh Đắk Lắk;
14
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY
BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT NAM
Ở TỈNH ĐẮK LẮK
1.1. QUAN NIỆM VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC VÀ BẢN
SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC VIỆT NAM
1.1.1. Quan niệm về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
Về khái niệm văn hóa
Văn hóa được lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa
học, nó trở thành một thuật ngữ đa nghĩa. Cho đến nay, đã có hàng trăm định
nghĩa về văn hóa. Các tác giả thường hiểu khái niệm văn hóa theo những nội
dung khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận của từng người.
Vấn đề là làm sao hiểu được khái niệm văn hóa đầy đủ và sát hợp với
định nghĩa nghiên cứu của triết học, cuối cùng để vận dụng tốt hơn vào việc
giải quyết những nhiệm vụ văn hóa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam nói chung, nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Việt Nam hiện nay nói riêng vì sự trường tồn và không ngừng phát triển của
dân tộc. Và, để đi tới một nhận thức về khái niệm văn hóa theo hướng đó,
chúng tôi thấy cần theo dõi sự biến nghĩa của khái niệm này trong một số
trường hợp sau:
Ở phương Đông cổ đại, trong Chu Dịch có nêu rằng: “Quan hồ nhân
văn, dĩ hóa thành thiên hạ” (xem ở nơi nhân văn, mà giáo hóa thành tựu cho
thiên hạ) [16, tr.347]. Khổng Tử đã đề cập đến văn, văn đức với ý nghĩa là cái
trăm năm thì phải trồng người” chính là theo cái nghĩa gốc ấy.
Trong thời kỳ cận đại, ở phương Tây, do nhu cầu phản ánh các hoạt
động xã hội ngày càng đa dạng, phong phú, nhiều định nghĩa văn hóa đã được 16
đề xuất và lưu hành. Trong đó, định nghĩa của TayLơ (EdwardBurrwett Tylor)
trong cuốn Văn hóa nguyên thủy, xuất bản ở Luân Đôn năm 1871, được xem
là định nghĩa đầu tiên có tính kinh điển về văn hóa. Định nghĩa này nêu: “Văn
hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết,
tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những khả năng và
tập quán khác mà con người đạt được với tư cách là thành viên xã hội”[29,
tr.52]. Như vậy, có thể thấy, trong định nghĩa này, khái niệm văn hóa đã được
mở rộng trên nhiều lĩnh vực của đời sống con người và xã hội, nó hàm chứa
một phức thể các thành tựu, các giá trị mà con người với tư cách là thành viên
của xã hội đạt được, bao trùm trên nhiều lĩnh vực: tri thức, tín ngưỡng, nghệ
thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, tập quán,…
Bước vào xã hội hiện đại, các hoạt động và quan hệ con người phát triển
và mở rộng nhanh chóng, trở nên hết sức phong phú và đa dạng, khái niệm
văn hóa tiếp tục được bổ sung thêm những sắc thái ý nghĩa mới. Năm 1982,
Tuyên bố chung của Hội nghị thế giới về chính sách văn hóa do UNESCO tổ
chức tại Mêhicô, đã nêu một định nghĩa trong đó văn hóa được hiểu là:
Tổng thể những nét đặc sắc về tinh thần, vật chất, tri thức và
cảm xúc tiêu biểu cho một xã hội hay một tập đoàn xã hội, bao
gồm ngoài nghệ thuật và văn học, những lối sống, những quyền
căn bản của con người, các hệ thống giá trị, các truyền thống và
các tín ngưỡng [124, tr.10-13].
Sáu năm sau, tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988
– 1997), Tổng Giám đốc UNESCO Phơ-ri-cô May-ơ (Federico Mayor), đã
đưa ra định nghĩa:
hiểu theo nghĩa rộng, bao quát toàn bộ những sản phẩm vật chất và tinh thần
được sáng tạo ra bởi con người, nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự sinh tồn và mục
đích cuộc sống của con người – được sống xứng đáng với danh hiệu và vị thế 18
của con người.
Tập thể tác giả cuốn Văn hóa xã hội chủ nghĩa (năm 1993), đã đề xuất
định nghĩa về văn hóa: “Đó là hoạt động nhằm phát huy những năng lực bẩm
sinh và bản chất của con người, vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ. Là hoạt
động nhằm tạo ra những giá trị, những chuẩn mực xã hội – là môi trường thứ
hai, cái nôi nuôi dưỡng sự hình thành nhân cách con người”[53, tr.31-32]. Tác
giả cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm định nghĩa:
“Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con
người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương
tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[100, tr.27].
Trong cuốn Góp phần nghiên cứu cách mạng tư tưởng văn hóa, GS. Vũ
Khiêu đã đưa ra quan niệm cho rằng: “Văn hóa thể hiện trình độ được vun
trồng của con người, của xã hội… văn hóa là trạng thái con người ngày càng
tách rời khỏi giới động vật để khẳng định những đặc tính của con người”[62,
tr.8]. Qua các định nghĩa vừa dẫn có thể thấy, văn hóa là hoạt động sáng tạo
của con người mà bản thân hoạt động đó cũng như sản phẩm của nó thể hiện
và thúc đẩy sự phát triển những năng lực bản chất người của con người, hoàn
thiện xã hội theo hướng chân, thiện, mỹ. Và do đó, văn hóa thể hiện trình độ
được vun trồng của con người, của xã hội.
Như vậy, văn hóa là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu ở trên thế giới và
ở Việt Nam. Về mặt lý luận, cho đến nay đã có nhiều định nghĩa cho khái
niệm văn hóa đã được đề xuất. Năm 1994, trong cuốn Văn hóa Việt Nam và
cách tiếp cận mới, GS. Phan Ngọc đã đưa ra con số “ngót 400 định nghĩa khái
niệm về văn hóa”[82, tr.113]. Chắc chắn rằng, con số các định nghĩa về văn
giáo khác,… giữa con người với thiên nhiên là văn hóa.
Xuất phát từ góc độ tiếp cận của đề tài luận án và trên cơ sở nghiên cứu
phân tích những nội dung cơ bản, xuyên suốt qua các định nghĩa văn hóa đã